- Cariyāpiṭaka
- Yudhañjayavagga
- Upekkhāpāramī 1
Bản dịch
CP 35 — Hạnh của (Đức Bồ-tát) Mahālomahaṃsa
Mahālomahaṁsacariya
BJT 359Ta nằm ở trong bãi tha ma tựa vào bộ xương người chết. Đám trẻ con nhà quê đã đi đến và đã phô diễn hình thức (khuấy rối) không phải là ít.
BJT 360Các đứa khác mừng rỡ, với tâm trí phấn chấn, mang lại các quà tặng là hương thơm, vòng hoa, và vô số thực phẩm các loại.
BJT 361Ta đều bình đẳng đối với tất cả những ai gây ra khổ đau cho ta cũng như những ai đem lại cho ta an lạc; thương và giận đều không được biết đến.
BJT 362Là thăng bằng giữa an lạc và khổ đau, giữa các danh thơm và những tiếng xấu, ta đều bình đẳng trong mọi trường hợp; điều này là sự toàn hảo về hành xả của ta.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Mahālomahaṁsa là phần thứ mười lăm.
Dứt sự toàn hảo về hành xả.
BÀI KỆ TÓM TẮT
BJT 363Chuyện Yudhañjaya, chuyện Somanassa, chuyện Ayoghara (ngôi nhà sắt), và chuyện Bhisa, chuyện Soṇa và Nanda, chuyện Mūgapakkha (Temiya), chuyện con khỉ chúa, và chuyện vị (đạo sĩ) tên Sacca.
BJT 364Chuyện chim cút con, và chuyện vua cá, chuyện ẩn sĩ Kaṇhadīpāyana, lại nữa ta đã là Sutasoma, Sāma, và Ekarājā, và đã có sự toàn hảo về hành xả; như thế đã được thuyết giảng bởi vị Đại Ẩn Sĩ.
BJT 365Sau khi kinh nghiệm khổ đau dưới nhiều hình thức và thành công với nhiều thể loại ở lần tái sanh này đến lần tái sanh khác như thế, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 366Sau khi bố thí những gì cần được bố thí, sau khi làm viên mãn giới hạnh không thiếu sót, sau khi đạt đến sự toàn hảo về xuất ly, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 367Sau khi đã vấn hỏi các bậc hiền trí, sau khi đã thể hiện sự tinh tấn tối thượng, sau khi đã đạt đến sự toàn hảo về nhẫn nại, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 368Sau khi đã thực hành sự quyết định vững chắc, sau khi đã hộ trì lời nói chân thật, sau khi đã đạt đến sự toàn hảo về từ ái, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 369Ðối với lợi lộc và không lợi lộc, đối với danh thơm và tiếng xấu, đối với sự kính trọng và chê bai, sau khi đã là bình đẳng trong mọi trường hợp, ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 370Sau khi thấy được sự biếng nhác là nguy hiểm và việc khởi sự tinh tấn là an toàn, hãy nỗ lực tinh tấn; đây là lời giáo huấn của chư Phật.
BJT 371Sau khi thấy được sự tranh cãi là nguy hiểm và sự không tranh cãi là an toàn, hãy hợp nhất, thân thiện; đây là lời giáo huấn của chư Phật.
BJT 372Sau khi thấy được sự dễ duôi là nguy hiểm và sự không dễ duôi là an toàn, hãy tu tập đạo lộ tám chi phần; đây là lời giáo huấn của chư Phật.
Phẩm Yudhañjaya là thứ ba.
Ở đây, trong khi trình bày về phẩm hạnh quá khứ của bản thân, đức Thế Tôn đã thuyết giảng về bản thể của Giáo Pháp có tên là Buddhāpadāniyaṁ.
Hạnh Tạng được đầy đủ.
2, 3. Xem thêm phần Phụ Chú ở trang 333.
BJT 4Chuyện Tiền Thân Đức Phật, câu chuyện 443.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- The Conduct Leading to Buddhahood
- The Chapter With Yudhañjaya
- The Perfection of Equanimity
The Great Hair-raising Conduct
Tạng Hạnh (Cariyāpiṭaka) đã hoàn tất.
“Susāne seyyaṁ kappemi, Chavaṭṭhikaṁ upanidhāyahaṁ; Gāmaṇḍalā upāgantvā, Rūpaṁ dassentinappakaṁ.
“I made my bed in a charnel ground, resting on a skeleton. Village louts came up and mocked me in all sorts of ways.
Ta đã nằm ngủ trong nghĩa địa, dùng xương người chết làm gối; những đứa trẻ trong làng đã đến gần, và làm nhiều hành vi khác nhau.
Apare gandhamālañca, bhojanaṁ vividhaṁ bahuṁ; Upāyanānūpanenti, haṭṭhā saṁviggamānasā.
Others brought me incense and flowers, and many kinds of cooked food, all thrilled, their minds elated.
Những người khác dâng cúng hương và hoa, nhiều loại vật thực khác nhau; họ mang đến những món quà, với tâm hoan hỷ và cảm kích.
Ye me dukkhaṁ upaharanti, ye ca denti sukhaṁ mama; Sabbesaṁ samako homi, dayā kopo na vijjati.
Those who brought me pain, and those who gave me happiness, were all the same to me. I felt no favor or anger.
Những người mang đến khổ đau cho Ta, và những người mang đến hạnh phúc cho Ta; đối với tất cả, Ta đều bình đẳng, không có yêu thương hay tức giận.
Sukhadukkhe tulābhūto, Yasesu ayasesu ca; Sabbattha samako homi, Esā me upekkhāpāramī”ti.
I became balanced toward pleasure and pain, fame and disgrace. I was equal in every case: this is my perfection of equanimity.”
Trong hạnh phúc và khổ đau, Ta như một cái cân, trong danh vọng và không danh vọng; trong tất cả mọi hoàn cảnh, Ta đều bình đẳng, đây là pháp ba-la-mật về xả của Ta.
Mahālomahaṁsacariyaṁ pannarasamaṁ.
Hạnh Mahālomahaṃsa, thứ mười lăm, đã xong.
Yudhañjayavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Yudhañjaya, thứ ba, đã xong.
Yudhañjayo somanasso, ayogharabhisena ca; Soṇanando mūgapakkho, kapirājā saccasavhayo.
(Ta là) Yudhañjayo, Somanasso, Ayoghara, và Bhisena; Soṇanando, Mūgapakkho, vua khỉ Kapirājā, và Saccasavhayo.
Vaṭṭako maccharājā ca, kaṇhadīpāyano isi; Sutasomo puna āsiṁ, sāmo ca ekarājahu; Upekkhāpāramī āsi, iti vutthaṁ mahesinā.
(Ta là) chim cút Vaṭṭaka, vua cá Maccharājā, và ẩn sĩ Kaṇhadīpāyana; lại nữa, Ta đã là Sutasoma, Sāma, và vua Ekarājā; Ta đã là (người thực hành) ba-la-mật về xả. Như vậy là hạnh nguyện đã được bậc Đại Sĩ thực hành.
Evaṁ bahubbidhaṁ dukkhaṁ, sampattī ca bahubbidhā; Bhavābhave anubhavitvā, patto sambodhimuttamaṁ.
Having thus experienced many kinds of suffering and many kinds of success, in various past lives, I realized supreme awakening.
Như vậy, sau khi đã trải qua nhiều loại khổ đau và nhiều loại thịnh vượng trong các kiếp sống, Ta đã đạt đến giác ngộ tối thượng.
Datvā dātabbakaṁ dānaṁ, sīlaṁ pūretvā asesato; Nekkhamme pāramiṁ gantvā, patto sambodhimuttamaṁ.
I gave what could be given, and fulfilled ethics without reserve. Having won the perfection of renunciation, I realized supreme awakening.
Sau khi đã bố thí những vật đáng thí, đã viên mãn giới hạnh một cách trọn vẹn, đã đi đến ba-la-mật về xuất ly, Ta đã đạt đến giác ngộ tối thượng.
Paṇḍite paripucchitvā, vīriyaṁ katvāna muttamaṁ; Khantiyā pāramiṁ gantvā, patto sambodhimuttamaṁ.
I inquired of the astute, and put forth highest effort, having won the perfection of acceptance, I realized supreme awakening.
Sau khi đã thưa hỏi các bậc hiền trí, đã nỗ lực tinh tấn tột bậc, đã đi đến ba-la-mật về nhẫn nại, Ta đã đạt đến giác ngộ tối thượng.
Katvā daḷhamadhiṭṭhānaṁ, saccavācānurakkhiya; Mettāya pāramiṁ gantvā, patto sambodhimuttamaṁ.
Having made a firm resolve, and guarded truthful speech, having won the perfection of love, I realized supreme awakening.
Sau khi đã thực hành quyết định một cách vững chắc, đã bảo hộ lời nói chân thật, đã đi đến ba-la-mật về tâm từ, Ta đã đạt đến giác ngộ tối thượng.
Lābhālābhe yasāyase, sammānanāvamānane; Sabbattha samako hutvā, patto sambodhimuttamaṁ.
In gain and loss, fame and disgrace, respect and contempt, having become equal in every case, I realized supreme awakening.
Trong được và mất, trong danh và không danh, trong tôn kính và khinh miệt; sau khi đã giữ tâm bình đẳng trong mọi hoàn cảnh, Ta đã đạt đến giác ngộ tối thượng.
Kosajjaṁ bhayato disvā, vīriyārambhañca khemato; Āraddhavīriyā hotha, esā buddhānusāsanī.
Seeing laziness as fearful, and energy as a sanctuary, rouse up energy: this is the Buddhas’ instruction!
Thấy sự lười biếng là đáng sợ, và sự khởi đầu tinh tấn là an ổn; hãy nỗ lực tinh tấn. Đây là lời giáo huấn của các vị Phật.
Vivādaṁ bhayato disvā, avivādañca khemato; Samaggā sakhilā hotha, esā buddhānusāsanī.
Seeing dispute as fearful, and harmony as a sanctuary, be harmonious and courteous: this is the Buddhas’ instruction!
Thấy sự tranh cãi là đáng sợ, và sự không tranh cãi là an ổn; hãy hòa hợp và hòa nhã. Đây là lời giáo huấn của các vị Phật.
Pamādaṁ bhayato disvā, appamādañca khemato; Bhāvethaṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ, esā buddhānusāsanī.
Seeing negligence as fearful, and diligence as a sanctuary, develop the eightfold path: this is the Buddhas’ instruction!
Thấy sự dễ duôi là đáng sợ, và sự không dễ duôi là an ổn; hãy tu tập Bát Chánh Đạo. Đây là lời giáo huấn của các vị Phật.
Itthaṁ sudaṁ bhagavā attano pubbacariyaṁ sambhāvayamāno buddhāpadāniyaṁ nāma dhammapariyāyaṁ abhāsitthāti.
Cariyāpiṭakaṁ niṭṭhitaṁ.
That is how the Buddha, illustrating his own conduct in past lives, spoke the exposition of the teaching named the “Legends of the Buddha”.
Như vậy, Thế Tôn, trong khi trình bày về các hạnh nguyện quá khứ của chính mình, đã thuyết giảng pháp môn có tên là Phật Sử (Buddhāpadāna).