- Cariyāpiṭaka
- Yudhañjayavagga
- Saccapāramī 5
Kaṇhadīpāyanacariya
“Punāparaṁ yadā homi, kaṇhadīpāyano isi; Paropaññāsavassāni, anabhiratocariṁ ahaṁ.
Bản dịch
Kaṇhadīpāyanacariya
BJT 332Vào một thời điểm khác nữa, khi là vị ẩn sĩ Kaṇhadīpāyana, ta đã sống không được hoan hỷ hơn năm mươi năm.
BJT 333Không ai biết tâm ý không hoan hỷ này của ta. Ta đã không nói ra với ai cả và sự không hoan hỷ diễn tiến ở trong tâm ý của ta.
BJT 334Bà-la-môn Maṇḍabya, bạn của ta, là một vị đại ẩn sĩ đã bị thọ lãnh (hành phạt) cắm cọc nhọn do trả quả của nghiệp quá khứ.
BJT 335Ta đã chăm sóc và đã phục hồi sức khỏe cho vị ấy. Sau khi cáo từ, ta đã trở về lại chốn ẩn cư của mình.
BJT 336Người bạn Bà-la-môn của ta đã đưa vợ và đứa con trai nhỏ đến. Ba người cùng đi và đã đi đến với tư thế của những người khách.
BJT 337Trong lúc ta đang ngồi tại chốn ẩn cư của mình chuyện trò với những người ấy, đứa bé trai đã ném trái banh và làm cho làm con rắn có nọc độc giận dữ.
BJT 338Sau đó, trong lúc dõi theo lộ trình di chuyển của trái banh, đứa bé trai ấy đã chạm bàn tay vào đầu của con rắn độc.
BJT 339Do sự đụng chạm của đứa bé, con rắn đã trở nên giận dữ. Ỷ lại vào sức mạnh của nọc độc, bị bực bội với sự bực bội cùng tột, con rắn ngay lập tức đã cắn đứa bé.
BJT 340Khi bị cắn bởi con rắn độc, đứa bé đã ngã xuống ở trên nền đất. Vì điều ấy, ta đã trở nên đau buồn; nỗi buồn đau ấy đã tác động đến ta.
BJT 341Sau khi an ủi họ (là những người) đang bị đau khổ, đang bị mũi tên sầu muộn, ta đã thể hiện hành động chân thật tột đỉnh cao quý tối thượng lần đầu tiên rằng:
BJT 342“Là người mong mỏi phước thiện, ta đã thực hành Phạm hạnh với tâm tín thành chỉ được bảy ngày. Từ đó về sau, Phạm hạnh của ta là năm mươi năm và thêm nữa.
BJT 343Ta thực hành (Phạm hạnh) không có nhiệt tình, chỉ qua ngày. Do lời nói chân thật này, hãy có được sự tốt lành, chất độc hãy được tiêu trừ, và Yaññadatta hãy sống.”
BJT 344Với sự chân thật của ta đã được thể hiện, đứa bé Bà-la-môn bị run rẩy bởi sức mạnh của nọc độc đã được tỉnh lại, đã đứng lên, không tật bệnh. Không có ai bằng (ta) về sự chân thật, điều này là sự toàn hảo về chân thật của ta.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Kaṇhadīpāyana là phần thứ mười một.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Punāparaṁ yadā homi, kaṇhadīpāyano isi; Paropaññāsavassāni, anabhiratocariṁ ahaṁ.
“Then again when I was the seer Dark Light, for more than fifty years I lived dissatisfied.
“Lại nữa, khi ta là đạo sĩ Kaṇhadīpāyana, trong hơn năm mươi năm, ta đã thực hành phạm hạnh mà không có sự hoan hỷ.”
Na koci etaṁ jānāti, Anabhiratimanaṁ mama; Ahañhi kassaci nācikkhiṁ, Arati me carati mānase.
No one knew of this dissatisfaction of mine, for I mentioned it to no one, it only went on in my mind.
“Không một ai biết được tâm không hoan hỷ này của ta; và ta cũng không nói với bất kỳ ai rằng: ‘Sự bất mãn khởi lên trong tâm ta’.”
Sabrahmacārī maṇḍabyo, sahāyo me mahāisi; Pubbakammasamāyutto, sūlamāropanaṁ labhi.
Maṇḍabya, a spiritual companion and friend of mine was a great seer. Bound to a deed in a past life, he got impaled on a stake.
“Người bạn đồng tu phạm hạnh của ta, vị đại đạo sĩ Maṇḍabya, do nghiệp quá khứ, đã phải chịu hình phạt đóng cọc.”
Tamahaṁ upaṭṭhahitvāna, ārogyamanupāpayiṁ; Āpucchitvāna āgañchiṁ, yaṁ mayhaṁ sakamassamaṁ.
I nursed him and brought him back to health. Asking leave, I returned to my own hermitage.
“Ta đã chăm sóc vị ấy và giúp vị ấy phục hồi sức khỏe. Sau khi từ biệt vị ấy, ta đã trở về am thất của riêng mình.”
Sahāyo brāhmaṇo mayhaṁ, bhariyaṁ ādāya puttakaṁ; Tayo janā samāgantvā, āgañchuṁ pāhunāgataṁ.
A brahmin friend of mine, bringing wife and child, came to me, all three of them, as my guests.
“Một người bạn Bà-la-môn của ta, cùng với vợ và con trai nhỏ, cả ba người đã cùng nhau đến thăm ta như những vị khách.”
Sammodamāno tehi saha, nisinno sakamassame; Dārako vaṭṭamanukkhipaṁ, āsīvisamakopayi.
As I exchanged greetings with them, seated in my own hermitage, the boy threw a ball and angered a viper.
“Trong khi ta đang vui vẻ trò chuyện với họ tại am thất của mình, đứa bé, trong lúc chơi đùa với con quay, đã chọc giận một con rắn độc.”
Tato so vaṭṭagataṁ maggaṁ, anvesanto kumārako; Āsīvisassa hatthena, uttamaṅgaṁ parāmasi.
Then the boy, looking which way the ball had gone, touched the viper’s head with his hand.
“Sau đó, cậu bé, trong khi tìm kiếm đường đi của con quay, đã dùng tay chạm vào đầu của con rắn độc.”
Tassa āmasane kuddho, sappo visabalassito; Kupito paramakopena, aḍaṁsi dārakaṁ khaṇe.
Angered at his touch, the cobra, relying on its potent poison, completely enraged, bit the boy right away.
“Bị chạm vào, con rắn đầy nọc độc, nổi giận, với cơn thịnh nộ tột cùng, đã cắn đứa bé ngay lập tức.”
Sahadaṭṭho āsīvisena, dārako papati bhūmiyaṁ; Tenāhaṁ dukkhito āsiṁ, mama vāhasi taṁ dukkhaṁ.
When bitten by the viper, the boy fainted on the ground. It made me distraught, the pain became as if mine.
“Ngay khi bị rắn độc cắn, đứa bé ngã xuống đất. Do đó, ta cảm thấy đau khổ; ta đã gánh lấy nỗi đau khổ ấy như của chính mình.”
Tyāhaṁ assāsayitvāna, dukkhite sokasallite; Paṭhamaṁ akāsiṁ kiriyaṁ, aggaṁ saccaṁ varuttamaṁ.
Comforting the parents, in their suffering and sorrow, I made the first act, the original, supreme declaration of truth:
“Sau khi an ủi họ, những người đang đau khổ và bị mũi tên sầu muộn xuyên thấu, ta đã thực hiện hành động đầu tiên: lời chân thật cao cả, cao quý và tối thượng.”
‘Sattāhamevāhaṁ pasannacitto, Puññatthiko acariṁ brahmacariyaṁ; Athāparaṁ yaṁ caritaṁ mamedaṁ, Vassāni paññāsasamādhikāni.
‘For just seven days with a mind of faith I led the spiritual life seeking merit. My life since then, for fifty years or more,
“Chỉ trong bảy ngày, với tâm hoan hỷ và mong cầu phước báu, ta đã thực hành phạm hạnh. Sau đó, trong hơn năm mươi năm, ta đã tiếp tục thực hành phạm hạnh này.”
Akāmako vāhi ahaṁ carāmi, Etena saccena suvatthi hotu; Hataṁ visaṁ jīvatu yaññadatto’.
I have lived unwillingly. By this truth, may he be well! May the poison die! May Yaññadatta live!’
“Ta đã thực hành phạm hạnh này mà không có lòng ham muốn. Nhờ lời chân thật này, mong rằng được an lành! Mong rằng nọc độc bị tiêu trừ, mong rằng Yaññadatta được sống!”
Saha sacce kate mayhaṁ, visavegena vedhito; Abujjhitvāna vuṭṭhāsi, arogo cāsi māṇavo; Saccena me samo natthi, esā me saccapāramī”ti.
As I declared this truth, the boy trembling with poison, awoke and got up, the brahmin youth was well. There is no one to equal my truthfulness: this is my perfection of truth.”
“Ngay khi ta thực hiện lời chân thật, cậu bé đang run rẩy vì sức mạnh của nọc độc, đã tỉnh dậy và đứng lên, hoàn toàn khỏe mạnh. Về sự thật, không ai bằng ta. Đây là Chân thật ba-la-mật của ta.”
Kaṇhadīpāyanacariyaṁ ekādasamaṁ.
Hạnh Kaṇhadīpāyana, thứ mười một, đã xong.