- Cariyāpiṭaka
- Yudhañjayavagga
- Saccapāramī 4
Maccharājacariya
“Punāparaṁ yadā homi, maccharājā mahāsare; Uṇhe sūriyasantāpe, sare udaka khīyatha.
Bản dịch
Maccharājacariya
BJT 323Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là vua của loài cá ở trong cái hồ rộng lớn. Và nước ở trong hồ bị khô cạn vào mùa nắng, dưới sự đốt cháy của ánh mặt trời.
BJT 324Do đó, các con quạ, các con diều hâu, các con cò, các con chim ưng và chim ó đã đáp xuống, ăn các con cá ban ngày lẫn ban đêm.
BJT 325Tại nơi ấy, cùng với các thân quyến ta đã bị áp bức, và ta đã suy nghĩ như vầy: “Vậy thì bằng cách nào để ta có thể giải thoát cho thân quyến khỏi khổ đau?”
BJT 326Sau khi xem xét ý nghĩa của các pháp, ta đã nhận ra sự chân thật là nơi nương tựa. Căn cứ vào sự chân thật, ta đã cởi bỏ thảm họa bị diệt chủng ấy cho các thân quyến.
BJT 327Sau khi hồi tưởng về thiện pháp, ta đã suy nghiệm về chân lý tuyệt đối. Ta đã thể hiện hành động chân thật là pháp bền vững và thường còn ở thế gian rằng:
BJT 328“Kể từ lúc ta nhớ được về bản thân, kể từ khi ta đạt đến sự hiểu biết, ta không biết đến việc đã cố ý hãm hại dầu chỉ một sanh mạng. Do lời nói chân thật này, xin Thần Mây hãy đổ mưa xuống.
BJT 329Hỡi Thần Mây, hãy vang lên tiếng sấm, hãy làm tiêu tan kho lương dự trữ của loài quạ, hãy vây hãm loài quạ bằng sự buồn rầu, hãy giải thoát loài cá khỏi nỗi phiền muộn.”
BJT 330Đồng lúc với sự chân thật cao quý được thể hiện, Thần Mây đã gầm lên tiếng sấm và trong giây lát đã đổ mưa xuống, làm tràn ngập vùng đất liền và trũng thấp.
BJT 331Sau khi thể hiện sự tinh tấn tột đỉnh là pháp chân thật cao quý có hình thức như thế, (có sự) tin cậy vào năng lực và uy quyền của sự chân thật, ta đã làm cho đám mây lớn đổ mưa xuống. Không có ai bằng (ta) về sự chân thật, điều này là sự toàn hảo về chân thật của ta.
Hạnh của vua cá là phần thứ mười.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Punāparaṁ yadā homi, maccharājā mahāsare; Uṇhe sūriyasantāpe, sare udaka khīyatha.
“Then again when I was a fish king in a great lake, in the heat of the sun the water in the lake evaporated.
“Lại nữa, khi ta là vua loài cá trong một hồ lớn; vào mùa nóng, do sức nóng của mặt trời, nước trong hồ đã cạn kiệt.”
Tato kākā ca gijjhā ca, kaṅkā kulalasenakā; Bhakkhayanti divārattiṁ, macche upanisīdiya.
Then crows and vultures, herons, hawks, and falcons, perched near the fish and devoured them day and night.
“Do đó, các loài quạ, kên kên, diệc, diều hâu và chim ưng, ngày và đêm, rình rập và ăn thịt các loài cá.”
Evaṁ cintesahaṁ tattha, saha ñātīhi pīḷito; ‘Kena nu kho upāyena, ñātī dukkhā pamocaye’.
There I had the following thought, being harassed with my relatives: ‘By what means can I free my relatives from this suffering?’
“Lúc ấy, ta bị bức bách cùng với quyến thuộc, đã suy nghĩ như vầy: ‘Bằng phương tiện nào, ta có thể giải thoát quyến thuộc khỏi khổ đau đây?’”
Vicintayitvā dhammatthaṁ, saccaṁ addasa passayaṁ; Sacce ṭhatvā pamocesiṁ, ñātīnaṁ taṁ atikkhayaṁ.
Considering the value of the Dhamma, I saw the truth as a support. Standing in the truth, I freed my relatives from that holocaust.
“Sau khi suy xét ý nghĩa của Chánh pháp, ta đã thấy sự thật là nơi nương tựa. An trú trong sự thật, ta đã giải thoát quyến thuộc khỏi sự hủy diệt to lớn ấy.”
Anussaritvā sataṁ dhammaṁ, paramatthaṁ vicintayaṁ; Akāsiṁ saccakiriyaṁ, yaṁ loke dhuvasassataṁ.
Recollecting the true Dhamma, considered the ultimate goal, I made a declaration of truth that would last eternally in the world.
“Tưởng nhớ đến pháp của bậc thiện nhân, suy xét về chân nghĩa, ta đã thực hiện lời chân thật, điều vững chắc và vĩnh cửu trong thế gian.”
‘Yato sarāmi attānaṁ, yato pattosmi viññutaṁ; Nābhijānāmi sañcicca, ekapāṇampi hiṁsitaṁ.
‘So long as I can recall myself, since I became aware, I do not recall deliberately harming even a single living creature.
“Kể từ khi ta có thể nhớ về bản thân, kể từ khi ta đạt đến sự hiểu biết, ta không hề biết mình đã cố ý làm hại dù chỉ một sinh mạng.”
Etena saccavajjena, pajjunno abhivassatu; Abhitthanaya pajjunna, nidhiṁ kākassa nāsaya; Kākaṁ sokāya randhehi, macche sokā pamocaya’.
By this declaration of truth, may Pajjuna rain down! Thunder forth, Pajjuna! Disperse the trove of the crow! Subject the crow to sorrow, and free the fish from sorrow!’
“Với lời chân thật này, mong rằng thần mưa hãy đổ mưa xuống. Hỡi thần mưa, hãy sấm vang và trút mưa, hãy phá hủy kho tàng của loài quạ. Hãy khiến loài quạ phải sầu muộn, và hãy giải thoát các loài cá khỏi sầu muộn.”
Saha kate saccavare, pajjunno abhigajjiya; Thalaṁ ninnañca pūrento, khaṇena abhivassatha.
As this excellent truth was declared, Pajjuna thundered forth. In an instant the rain poured down, soaking the uplands and valleys.
“Ngay khi lời chân thật cao thượng được thốt ra, thần mưa đã gầm vang, làm đầy cả vùng đất cao lẫn vùng trũng, và trong khoảnh khắc đã trút mưa xuống.”
Evarūpaṁ saccavaraṁ, katvā vīriyamuttamaṁ; Vassāpesiṁ mahāmeghaṁ, saccatejabalassito;
Having made such supreme effort for this excellent truth, I made the great cloud pour down, relying on the force of the power of truth.
“Thực hiện lời chân thật cao thượng như vậy, với tinh tấn tối thượng, nương tựa vào năng lực và oai lực của sự thật, ta đã khiến cho một đám mây lớn trút mưa xuống.”
“Về sự thật, không ai bằng ta. Đây là Chân thật ba-la-mật của ta.”
Maccharājacariyaṁ dasamaṁ.
Hạnh vua loài cá, hạnh thứ mười.