- Cariyāpiṭaka
- Yudhañjayavagga
- Saccapāramī 3
Vaṭṭapotakacariya
“Punāparaṁ yadā homi, magadhe vaṭṭapotako; Ajātapakkho taruṇo, maṁsapesi kulāvake.
Bản dịch
Vaṭṭapotakacariya
BJT 312Vào một thời điểm khác nữa, khi ở tại Magadha, ta là con chim cút con, cánh chưa được mọc, còn non nớt, (như) là miếng thịt ở trong tổ.
BJT 313(Chim) mẹ tha (mồi) lại ở trong mỏ và nuôi dưỡng ta. Ta sống còn do sự tiếp xúc với chim mẹ; ta không có sức mạnh ở thân.
BJT 314Trong năm vào mùa nóng, có nạn cháy rừng bộc phát. Ngọn lửa cuộn khói đen tiến về hướng chúng tôi.
BJT 315Ngọn lửa lớn lao trong lúc gào thét đã tạo ra luồng khói này cuộn khói nọ. Trong khi lần lượt làm phát cháy, ngọn lửa đã tiến đến gần ta.
BJT 316Lo sợ vì sự ồ ạt của ngọn lửa, mẹ cha của ta trở nên kinh hãi, hoảng hốt, đã bỏ rơi ta lại ở trong tổ và đã giải thoát cho bản thân.
BJT 317Ta đã ra sức hai chân, hai cánh; ta không có sức mạnh ở thân. Ta đây không đi được. Khi ấy tại nơi ấy, ta đã suy nghĩ như vầy:
BJT 318“Bị kinh hãi, hoảng hốt, run sợ, ta có thể chạy đến gần cha mẹ, nhưng họ đã bỏ rơi ta và tẩu thoát. Ta nên hành động như thế nào ngày hôm nay?
BJT 319Đức hạnh của giới, sự chân thật, sự trong sạch, lòng bi mẫn hiện hữu ở trên đời; với sự chân thật ấy, ta có thể hiện hành động chân thật tối thắng.”
BJT 320Ta đã hướng về sức mạnh của Giáo Pháp, tưởng nhớ đến các đấng Chiến Thắng trước đây, và nương tựa vào sức mạnh của sự chân thật, ta đã thể hiện hành động chân thật rằng:
BJT 321“Có cánh không thể bay, có chân không thể đi. Mẹ cha đã lìa khỏi, lửa ơi hãy lui đi.”
BJT 322Với sự chân thật đã được thực hiện bởi ta, ngọn lửa cháy rực to lớn đã lùi trở lại mười sáu karīsa, giống như ngọn lửa đã gặp phải nước. Không có ai bằng (ta) về sự chân thật, điều này là sự toàn hảo về chân thật của ta.
Hạnh của chim cút con là phần thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Punāparaṁ yadā homi, magadhe vaṭṭapotako; Ajātapakkho taruṇo, maṁsapesi kulāvake.
“Then again when I was a baby quail in Magadha, I was young, with wings unsprouted, just a scrap of meat in the nest.
Lại một lần khác, khi ta là một con chim cút con ở xứ Magadha; Lông cánh chưa mọc, còn non nớt, như một cục thịt trong tổ.
Mukhatuṇḍakenāharitvā, mātā posayatī mamaṁ; Tassā phassena jīvāmi, natthi me kāyikaṁ balaṁ.
With food she brought in her beak my mother nurtured me. I survived through her touch, for I had no physical strength.
Mẹ ta dùng mỏ tha mồi về nuôi dưỡng ta; Ta sống nhờ sự chăm sóc của mẹ, ta không có chút sức lực nào nơi thân.
Saṁvacchare gimhasamaye, davaḍāho padippati; Upagacchati amhākaṁ, pāvako kaṇhavattanī.
One year, in the hot season, the forest caught fire. It came toward us, a conflagration with a blackened trail.
Vào mùa hè trong năm, một trận cháy rừng bùng lên; Ngọn lửa với vệt đường đen tiến đến gần chúng ta.
Dhamadhamāiti evaṁ, saddāyanto mahāsikhī; Anupubbena jhāpento, aggi mamamupāgami.
The fire roared and rumbled with great crests of flame, gradually burning closer to me.
Tiếng nổ ‘đham-đham’ vang lên như thế, ngọn lửa lớn; Lần lượt thiêu đốt mọi thứ, ngọn lửa đã tiến đến gần ta.
Aggivegabhayātītā, tasitā mātāpitā mama; Kulāvake maṁ chaḍḍetvā, attānaṁ parimocayuṁ.
Alarmed and terrified at the fierce fire, my mother and father abandoned me in the nest, saving themselves.
Cha mẹ ta, kinh hoàng và sợ hãi trước sức mạnh của ngọn lửa; Đã bỏ ta lại trong tổ, để tự cứu lấy thân mình.
Pāde pakkhe pajahāmi, natthi me kāyikaṁ balaṁ; Sohaṁ agatiko tattha, evaṁ cintesahaṁ tadā.
I beat my feet and wings, but I had no physical strength. When unable to leave, I thought this there:
Ta duỗi chân và cánh ra, nhưng ta không có chút sức lực nào nơi thân; Không thể đi đâu được, bấy giờ ta đã suy nghĩ như vầy.
‘Yesāhaṁ upadhāveyyaṁ, bhīto tasitavedhito; Te maṁ ohāya pakkantā, kathaṁ me ajja kātave.
‘Those to whom I ought to run, scared and trembling with fear, have escaped, leaving me behind. How should I act today?
Ta, kẻ đang sợ hãi, kinh hoàng và run rẩy, muốn chạy đến nương náu dưới đôi cánh của cha mẹ; Nhưng họ đã bỏ ta mà bay đi mất, hôm nay ta phải làm thế nào đây?
Atthi loke sīlaguṇo, saccaṁ soceyyanuddayā; Tena saccena kāhāmi, saccakiriyamuttamaṁ.
There is the quality of virtue in the world, truth, purity, and mercy. By this truth I will make a supreme declaration of truth.’
Ở trên đời có đức hạnh của giới luật, có sự thật, sự trong sạch, và lòng bi mẫn; Bằng sự thật ấy, ta sẽ thực hiện một hành động chân thật tối thượng.
Āvejjetvā dhammabalaṁ, saritvā pubbake jine; Saccabalamavassāya, saccakiriyamakāsahaṁ.
Inspired by the power of Dhamma, recollecting the former Victors, relying on the power of truth, I made a declaration of truth.
“Ta đã suy xét về năng lực của Chánh pháp, đã tưởng nhớ đến các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác trong quá khứ; nương tựa vào năng lực của sự thật, ta đã thực hiện lời chân thật.”
Santi pakkhā apatanā, santi pādā avañcanā; Mātāpitā ca nikkhantā, jātaveda paṭikkama’.
‘I have wings that do not fly! I have feet that do not walk! Mother and father have fled! Jātaveda the fire: go back!’
“Ta có đôi cánh nhưng không thể bay, ta có đôi chân nhưng không thể đi. Cả cha và mẹ đều đã bay đi mất. Hỡi ngọn lửa rừng, hãy lui lại!”
Sahasacce kate mayhaṁ, Mahāpajjalito sikhī; Vajjesi soḷasakarīsāni, Udakaṁ patvā yathā sikhī; Saccena me samo natthi, Esā me saccapāramī”ti.
As I declared this truth the great crested flames withdrew sixteen leagues, as if they had come to water. There is no one to equal my truthfulness: this is my perfection of truth.”
“Ngay khi ta thực hiện lời chân thật, ngọn lửa đang bùng cháy dữ dội đã tránh xa mười sáu karīsa, giống như ngọn lửa gặp nước. Về sự thật, không ai bằng ta. Đây là Chân thật ba-la-mật của ta.”
Vaṭṭapotakacariyaṁ navamaṁ.
Hạnh chim cút con, hạnh thứ chín.