- Cariyāpiṭaka
- Akittivagga
- Dānapāramī 2
Saṅkhacariya
“Punāparaṁ yadā homi, Brāhmaṇo saṅkhasavhayo; Mahāsamuddaṁ taritukāmo, Upagacchāmi paṭṭanaṁ.
Bản dịch
Saṅkhacariya
BJT 11Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là vị Bà-la-môn tên gọi Saṅ-kha. Có ý định băng qua đại dương, ta đã đi đến bến tàu.
BJT 12Tại nơi ấy, ta đã nhìn thấy ở phía bên kia đường một vị Phật Độc Giác, là bậc không bị kẻ khác hàng phục, đang đi ở con đường xa vắng, trên mặt đất gồ ghề, nóng bỏng.
BJT 13Sau khi nhìn thấy vị ấy ở phía bên kia đường, ta đã suy xét về sự việc này: “Đây là phước điền đã được thành tựu đến cho người mong cầu phước báu.”
BJT 14Cũng giống như người nông phu nhìn thấy thửa ruộng có triển vọng thu hoạch lớn, người ấy không gieo hạt giống ở nơi ấy (nghĩa là) người ấy không có nhu cầu về thóc lúa.
BJT 15Tương tợ như thế, là người có mong cầu về phước báu, sau khi nhìn thấy phước điền cao quý tối thượng, nếu ta không thể hiện hành động ở phước điền ấy thì ta không phải là người mong cầu về phước báu.
BJT 16Giống như vị quan đại thần mong muốn có uy quyền đối với những người trong cung mà không ban cho những người ấy tài sản và thóc gạo thì sẽ bị suy giảm về uy quyền.
BJT 17Tương tợ như thế, là người có mong cầu về phước báu sau khi nhìn thấy bậc cao thượng xứng đáng để cúng dường, nếu ta không dâng cúng vật thí đến vị ấy thì ta sẽ bị suy giảm về phước báu.
BJT 18Sau khi suy nghĩ như thế, ta đã cởi ra đôi dép, rồi đảnh lễ ở hai bàn chân của vị ấy, và đã cúng dường dù và dép.
BJT 19Mặc dầu ta có cơ thể mảnh mai và được nuôi dưỡng cẩn thận gấp trăm lần so với vị ấy, tuy nhiên trong khi làm tròn đủ hạnh bố thí, ta cũng đã cúng dường đến vị ấy như thế.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Saṅkha là phần thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Punāparaṁ yadā homi, Brāhmaṇo saṅkhasavhayo; Mahāsamuddaṁ taritukāmo, Upagacchāmi paṭṭanaṁ.
“Then again when I was a brahmin named Saṅkha, wanting to cross the great ocean, I was on my way to the port.
Lại nữa, khi ta là một vị Bà-la-môn tên là Saṅkha, mong muốn vượt qua đại dương, ta đã đi đến bến cảng.
Tatthaddasaṁ paṭipathe, Sayambhuṁ aparājitaṁ; Kantāraddhānaṁ paṭipannaṁ, Tattāya kaṭhinabhūmiyā.
There I saw across the way one self-awakened, undefeated, walking a desert road whose ground was hot and rough.
Ở đó, trên đường đi, ta đã thấy một vị Độc Giác Phật, bậc Tự Giác, bất khả chiến bại, đang đi trên con đường dài hoang vắng, trên mặt đất cứng và nóng bỏng.
Tamahaṁ paṭipathe disvā, imamatthaṁ vicintayiṁ; ‘Idaṁ khettaṁ anuppattaṁ, puññakāmassa jantuno.
Seeing him across the way, I thought this: ‘A field has appeared for a personage desiring merit.
Thấy vị ấy trên đường, ta đã suy nghĩ điều này: 'Đây là ruộng phước đã đến cho người mong cầu công đức.'
Yathā kassako puriso, khettaṁ disvā mahāgamaṁ; Tattha bījaṁ na ropeti, na so dhaññena atthiko.
Now suppose a farmer seeing a fertile field does not sow seed there, then they are not in need of grain.
Ví như người nông phu, thấy được thửa ruộng tốt có thể cho nhiều hoa lợi, mà không gieo hạt giống ở đó, người ấy không phải là người cần lúa gạo.
Evamevāhaṁ puññakāmo, Disvā khettavaruttamaṁ; Yadi tattha kāraṁ na karomi, Nāhaṁ puññena atthiko.
So too, if I, desiring merit, seeing a supreme excellent field, do not render service there, then I am not in need of merit.
Cũng vậy, ta là người mong cầu công đức, thấy được ruộng phước tối thượng, nếu không làm điều thiện ở đó, ta không phải là người cần công đức.
Yathā amacco muddikāmo, rañño antepure jane; Na deti tesaṁ dhanadhaññaṁ, muddito parihāyati.
Or suppose a minister seeking the royal seal of authority over the people of the court, does not give them money and grain, their authority dwindles.
Ví như vị quan mong muốn chức tước, đối với những người trong cung của vua, mà không ban phát của cải, lúa gạo cho họ, thì sẽ bị mất chức tước.
Evamevāhaṁ puññakāmo, Vipulaṁ disvāna dakkhiṇaṁ; Yadi tassa dānaṁ na dadāmi, Parihāyissāmi puññato’.
So too, if I, desiring merit, seeing an abundantly worthy recipient, do not give gifts to them, I will dwindle in merit.’
Cũng vậy, ta là người mong cầu công đức, thấy được bậc đáng cúng dường cao quý, nếu không cúng dường cho vị ấy, ta sẽ bị tổn giảm công đức.
Evāhaṁ cintayitvāna, orohitvā upāhanā; Tassa pādāni vanditvā, adāsiṁ chattupāhanaṁ.
Reflecting in this way, I took off my sandals and bowed to his feet, giving him an umbrella and sandals.
Suy nghĩ như vậy, ta đã cởi đôi dép ra, đảnh lễ đôi chân của vị ấy, và cúng dường lọng và dép.
Tenevāhaṁ sataguṇato, Sukhumālo sukhedhito; Api ca dānaṁ paripūrento, Evaṁ tassa adāsahan”ti.
Though I was a hundred times more delicate and pampered than him, fulfilling my giving, I gave like this to him.”
Ta tinh tế và được nuôi dưỡng trong sung sướng hơn vị ấy cả trăm lần. Tuy nhiên, để hoàn thiện ba-la-mật bố thí, ta đã cúng dường cho vị ấy như vậy.
Saṅkhacariyaṁ dutiyaṁ.
Hạnh của Bà-la-môn Saṅkha, thứ hai.