- Cariyāpiṭaka
- Yudhañjayavagga
- Saccapāramī 1
Kapirājacariya
“Yadā ahaṁ kapi āsiṁ, nadīkūle darīsaye; Pīḷito susumārena, gamanaṁ na labhāmahaṁ.
Bản dịch
Kapirājacariya
BJT 307Vào lúc ta là con khỉ sống trong hang ở bờ sông, ta đã bị đe dọa bởi con cá sấu nên không đạt được việc ra đi.
BJT 308Tại địa điểm ta thường đứng ở bờ bên này rồi nhảy qua bờ bên kia, tại chỗ ấy có con cá sấu là kẻ thù, là kẻ sát thủ, có dáng vóc hung tợn.
BJT 309Con cá sấu đã thông báo với ta rằng: “Cứ việc đi đến.” Ta đã nói với nó rằng: “Tôi đang đi đến,” rồi đã bước lên đầu của nó và đã đứng vững bờ bên kia.
BJT 310Điều đã được nói với con cá sấu không phải là không đúng sự thật (vì) ta đã hành động đúng theo lời nói. Không có ai bằng (ta) về sự chân thật, điều này là sự toàn hảo về chân thật của ta.
Hạnh của con khỉ chúa là phần thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Yadā ahaṁ kapi āsiṁ, nadīkūle darīsaye; Pīḷito susumārena, gamanaṁ na labhāmahaṁ.
“When I was a monkey in a cleft on the riverbank, harassed by a crocodile I could not get across.
Khi ta là một con khỉ, sống trong hang động bên bờ sông; Bị cá sấu quấy nhiễu, ta đã không thể đi được.
Yamhokāse ahaṁ ṭhatvā, orā pāraṁ patāmahaṁ; Tatthacchi sattu vadhako, kumbhīlo luddadassano.
Where I used to land when jumping from the near shore to the far, there crouched my deadly foe, the baleful gharial.
Tại nơi ta đứng, để nhảy từ bờ bên này sang bờ bên kia; Ở đó có kẻ thù, kẻ sát hại, con cá sấu có vẻ ngoài hung dữ.
So maṁ asaṁsi ‘ehī’ti, ‘ahampemī’ti taṁ vatiṁ; Tassa matthakamakkamma, parakūle patiṭṭhahiṁ.
Reassuring me, he said ‘Come!’ ‘I am coming,’ I said to him. Stepping on his head I made it to the far bank.
Nó bảo ta: ‘Hãy đến đây’, ta đáp lại nó: ‘Ta đang đến đây’; Dẫm lên đầu nó, ta đã đứng vững ở bờ bên kia.
Na tassa alikaṁ bhaṇitaṁ, yathā vācaṁ akāsahaṁ; Saccena me samo natthi, esā me saccapāramī”ti.
I spoke no lie to him, but acted according to my word. There is no one to equal my truthfulness: this is my perfection of truth.”
Ta đã không nói lời dối trá với nó, ta đã làm đúng như lời đã nói; Về sự thật, không ai sánh bằng ta, đây là pháp ba-la-mật về sự thật của ta.
Kapirājacariyaṁ sattamaṁ.
Hạnh của Vua Khỉ, hạnh thứ bảy.