- Cariyāpiṭaka
- Yudhañjayavagga
- Adiṭṭhānapāramī 1
Temiyacariya
“Punāparaṁ yadā homi, kāsirājassa atrajo; Mūgapakkhoti nāmena, temiyoti vadanti maṁ.
Soḷasitthisahassānaṁ, na vijjati pumo tadā; Ahorattānaṁ accayena, nibbatto ahamekako.
Bản dịch
Temiyacariya
BJT 288Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là người con trai của đức vua Kāsi có tên là Mūgapakkha, nhưng mọi người gọi ta là Temiya.
BJT 289Khi ấy, mười sáu ngàn phi tần (của đức vua) không có được một người con trai (luôn cả con gái). Sau nhiều ngày đêm, chỉ mỗi một mình ta đã được sanh ra.
BJT 290(Vua) cha đã nuôi dưỡng ta, người con trai yêu quý, đạt được một cách khó nhọc, đã được sanh ra vẹn toàn, có thân tâm sáng lạng, ở trên chiếc giường đã được che chiếc lọng màu trắng.
BJT 291Khi ấy, trong lúc đang ngủ trên chiếc giường cao quý, ta đã thức giấc và nhìn thấy chiếc lọng nhạt màu, nghĩa là ta sẽ bị đi địa ngục.
BJT 292Có nỗi sợ hãi ghê gớm đã khởi lên ở ta khi được nhìn thấy chiếc lọng. Ta đã đi đến quyết định: “Ta sẽ được thoát khỏi điều này bằng cách nào?”
BJT 293Có vị tiên nữ trước đây cùng huyết thống với ta có lòng mong muốn điều tốt đẹp cho ta, sau khi nhìn thấy bản thân ta bị đau khổ, đã căn dặn về ba thái độ:
BJT 294“Chớ ra vẻ khôn ngoan, hãy là kẻ ngu si đối với tất cả chúng sanh, hãy làm cho mọi người khinh khi; như thế sẽ có sự tốt đẹp cho con.”
BJT 295Khi được nói như vậy, ta đã nói với bà ấy lời này: “Bà tiên ơi, con sẽ thực hành theo lời mà bà đã chỉ bảo. Mẹ ơi, mẹ đã có lòng mong muốn điều tốt đẹp cho con. Bà tiên ơi, bà đã có mong muốn điều lợi ích cho con.”
BJT 296Sau khi nghe được lời nói của bà ấy, ta đã thọ nhận như là đã đến được đất liền ở giữa biển khơi. Mừng rỡ, với tâm ý phấn chấn, ta đã quyết định ba điều:
BJT 297Ta đã là người câm, điếc, què quặt, việc đi lại đã được từ bỏ. Ta đã quyết định các điều này và đã sống mười sáu năm.
BJT 298Do đó, họ đã xoa bóp tay chân, lưỡi và mắt của ta. Sau khi nhận thấy không có sự khiếm khuyết ở ta, họ đã chê bai là “Kẻ bất hạnh.”
BJT 299Sau đó, tất cả dân chúng trong xứ sở, các tướng lãnh quân đội, các viên quan tế tự, tất cả đã nhất trí bằng lòng việc truất phế.
BJT 300Sau khi nghe ý kiến của những người ấy, ta đây đã trở nên mừng rỡ, có tâm trí phấn chấn. Sự khổ hạnh đã được thể hiện (bởi ta) vì mục đích nào thì mục đích ấy của ta đã được thành công.
BJT 301Sau khi đã tắm rửa, xức dầu, đội lên vương miện, làm lễ rưới nước (cho ta), rồi với chiếc lọng che họ đã tiến hành việc đi nhiễu vòng quanh thành phố.
BJT 302Sau khi đã duy trì chiếc lọng trong bảy ngày, đến lúc vầng sáng của mặt trời hiện ra, người đánh xe đã đưa ta ra khỏi (thành phố) bằng chiếc xe ngựa rồi đi về phía khu rừng.
BJT 303Sau khi dừng chiếc xe ở một khoảng trống, người đánh xe đã buộc ngựa để được rảnh tay rồi đã đào cái hố để chôn ta ở trong lòng đất.
BJT 304Trong khi nhiều nguyên nhân đủ các loại đang đe dọa điều quyết tâm đã được khẳng định, ta đã không làm đổ vỡ việc tuân thủ đã được quyết định với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
BJT 305Mẹ cha không có bị ta ghét bỏ, bản thân cũng không có bị ta ghét bỏ, đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta đã quyết định việc tuân thủ.
BJT 306Sau khi quyết định các điều này, ta đã sống trong mười sáu năm. Không có ai bằng (ta) về sự quyết định, điều này là sự toàn hảo về quyết định của ta.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Temiya là phần thứ sáu.
Dứt sự toàn hảo về quyết định.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Punāparaṁ yadā homi, kāsirājassa atrajo; Mūgapakkhoti nāmena, temiyoti vadanti maṁ.
Soḷasitthisahassānaṁ, na vijjati pumo tadā; Ahorattānaṁ accayena, nibbatto ahamekako.
“Then again when I was the true-born son of the king of Kāsi, Mūgapakkha was my name, they called me Temiya.
None of the sixteen thousand court women had given birth to a male. After many days and nights I was born, the only one.
Khi ấy, trong số mười sáu ngàn người nữ, không có một người con trai nào. Sau khi ngày đêm trôi qua, chỉ một mình ta được sanh ra.
Kicchā laddhaṁ piyaṁ puttaṁ, abhijātaṁ jutindharaṁ; Setacchattaṁ dhārayitvāna, sayane poseti maṁ pitā.
To my father I was a dear son born with difficulty, a light-bringer of impeccable lineage. Holding a white parasol over my bed, my father provided for me.
Người con trai yêu quý, có được một cách khó khăn, thuộc dòng dõi cao quý, người mang ánh hào quang, cha ta đã nuôi dưỡng ta trên giường nằm, với lọng trắng được che bên trên.
Niddāyamāno sayanavare, Pabujjhitvānahaṁ tadā; Addasaṁ paṇḍaraṁ chattaṁ, Yenāhaṁ nirayaṁ gato.
Sleeping on the fine bed, then having awoken, I saw the pale umbrella, by which I had gone to hell.
Khi ấy, đang ngủ trên chiếc giường cao quý, ta thức dậy và đã nhìn thấy chiếc lọng trắng, vật mà vì nó ta đã phải đi đến địa ngục.
Saha diṭṭhassa me chattaṁ, tāso uppajji bheravo; Vinicchayaṁ samāpanno, ‘kathāhaṁ imaṁ muñcissaṁ’.
At the sight of the umbrella a terrible dread arose in me. I reached the decision, ‘How can I be free of this?’
Ngay khi vừa nhìn thấy chiếc lọng, một nỗi kinh hoàng khủng khiếp đã khởi lên trong ta. Ta đã đi đến quyết định: ‘Làm thế nào ta sẽ thoát khỏi nơi này?’.
Pubbasālohitā mayhaṁ, devatā atthakāminī; Sā maṁ disvāna dukkhitaṁ, tīsu ṭhānesu yojayi.
A former blood-relation of mine, a goddess wishing to help, saw my suffering and enjoined me to three states.
Một vị thiên nữ, là quyến thuộc của ta trong tiền kiếp, người mong cầu lợi ích cho ta, vị ấy thấy ta đau khổ, đã khuyến khích ta ở ba phương diện.
‘Mā paṇḍiccayaṁ vibhāvaya, Bālamato bhava sabbapāṇinaṁ; Sabbo taṁ jano ocināyatu, Evaṁ tava attho bhavissati’.
‘Don’t show intelligence, be as a fool to all creatures, let all folk scorn you, thus you will achieve your goal.’
‘Đừng biểu lộ sự thông thái, hãy để cho tất cả chúng sanh xem là kẻ khờ dại. Hãy để cho tất cả mọi người xem thường ngươi, như vậy mục đích của ngươi sẽ được thành tựu’.
Evaṁ vuttāyahaṁ tassā, idaṁ vacanamabraviṁ; ‘Karomi te taṁ vacanaṁ, yaṁ tvaṁ bhaṇasi devate;
When she had spoken, I said the following. ‘I shall do your bidding, just as you say, goddess.
Khi được nói như vậy, ta đã thưa với vị ấy lời này: ‘Thưa thiên nữ, con sẽ làm theo lời dạy của ngài, điều mà ngài đã nói;
‘Thưa mẹ, ngài là người mong cầu lợi ích cho con; thưa thiên nữ, ngài là người mong cầu hạnh phúc cho con’.
Tassāhaṁ vacanaṁ sutvā, sāgareva thalaṁ labhiṁ; Haṭṭho saṁviggamānaso, tayo aṅge adhiṭṭhahiṁ.
After hearing her words, I was like one lost at sea reaching the shore. I was thrilled, my mind elated, and I resolved on three factors.
Ta nghe lời của vị ấy, như tìm thấy đất liền giữa biển khơi; Với tâm hoan hỷ và xúc động, ta đã phát nguyện ba điều.
Mūgo ahosiṁ badhiro, pakkho gativivajjito; Ete aṅge adhiṭṭhāya, vassāni soḷasaṁ vasiṁ.
I became deaf, and dumb, and crippled, unable to walk. Resolving on these factors, I lived for sixteen years.
Ta đã trở thành người câm, người điếc, người bại liệt không đi lại được; Ta đã an trú trong các hạnh nguyện này suốt mười sáu năm.
Tato me hatthapāde ca, jivhaṁ sotañca maddiya; Anūnataṁ me passitvā, ‘kāḷakaṇṇī’ti nindisuṁ.
Then they rubbed my hands and feet, my tongue and ears as well, and seeing no defect in me, denounced me as ‘black-ear’.
Bấy giờ, sau khi xoa bóp tay chân, lưỡi và tai của ta; Thấy ta không có khuyết tật, họ đã mắng nhiếc ta là ‘kẻ bất hạnh’.
Tato jānapadā sabbe, senāpatipurohitā; Sabbe ekamanā hutvā, chaḍḍanaṁ anumodisuṁ.
Due to that, the entire country, including the generals and priests, with one mind cheered as I was discarded.
Bấy giờ, tất cả dân chúng trong xứ, vị tướng quân và vị tế tư; Tất cả đồng một lòng, đã chấp thuận việc vứt bỏ ta.
Sohaṁ tesaṁ matiṁ sutvā, haṭṭho saṁviggamānaso; ‘Yassatthāya tapociṇṇo, so me attho samijjhatha’.
When I heard of their decision I was thrilled, my mind elated, ‘The goal for which I lived fervently I have achieved.’
Ta nghe được ý định của họ, lòng hoan hỷ và xúc động; Mục đích mà ta đã vì nó tu khổ hạnh, mục đích ấy của ta nay đã thành tựu.
Nhāpetvā anulimpitvā, veṭhetvā rājaveṭhanaṁ; Chattena abhisiñcitvā, kāresuṁ puraṁ padakkhiṇaṁ.
Bathed and oiled, with my turban wrapped, anointed, they held the umbrella as they paraded me around the city.
Sau khi cho ta tắm gội và thoa dầu thơm, đội vương miện cho ta; Sau khi làm lễ quán đảnh dưới lọng trắng, họ đã cho ta đi nhiễu quanh thành phố theo chiều bên phải.
Sattāhaṁ dhārayitvāna, uggate ravimaṇḍale; Rathena maṁ nīharitvā, sārathī vanamupāgami.
After the seventh day holding the umbrella, when the sun’s orb had risen, I was taken out by chariot, until the charioteer came to a wood.
Sau khi che lọng trắng trong bảy ngày, lúc mặt trời vừa mọc; Người đánh xe đã đưa ta ra đi bằng xe ngựa và tiến vào khu rừng.
Ekokāse rathaṁ katvā, sajjassaṁ hatthamuccito; Sārathī khaṇatī kāsuṁ, nikhātuṁ pathaviyā mamaṁ.
Leaving the chariot in the open, the bridled horse released from his hand, the charioteer dug a pit to bury me in the ground.
Để cỗ xe ngựa đã được trang bị ở một nơi, người đánh xe buông dây cương; Rồi đào một cái hố để chôn ta xuống đất.
Adhiṭṭhitamadhiṭṭhānaṁ, tajjento vividhakāraṇā; Na bhindiṁ tamadhiṭṭhānaṁ, bodhiyāyeva kāraṇā.
I was afraid for the many different resolves that I had undertaken, so I did not break that resolve, because it was solely for awakening.
Dù bị đe dọa bằng nhiều cách khác nhau, ta vẫn giữ vững lời nguyện; Ta đã không phá vỡ hạnh nguyện ấy, chỉ vì mục đích giác ngộ.
Mātāpitā na me dessā, attā me na ca dessiyo; Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ, tasmā vatamadhiṭṭhahiṁ.
I had no dislike of my parents, nor did I dislike myself. But because omniscience is precious to me, that is why I resolved on my vow.
Cha mẹ không phải là người ta ghét, bản thân ta cũng không đáng ghét; Trí tuệ Nhất thiết trí là điều ta yêu quý, vì thế ta đã giữ vững hạnh nguyện.
Ete aṅge adhiṭṭhāya, Vassāni soḷasaṁ vasiṁ; Adhiṭṭhānena me samo natthi, Esā me adhiṭṭhānapāramī”ti.
Having resolved the three factors, I lived for sixteen years. There is no one to equal my resolve: this is my perfection of resolve.”
Ta đã an trú trong các hạnh nguyện này suốt mười sáu năm; Về hạnh nguyện, không ai sánh bằng ta, đây là pháp ba-la-mật về hạnh nguyện của ta.
Temiyacariyaṁ chaṭṭhaṁ.
Hạnh của Thái tử Temiya, hạnh thứ sáu.