- Cariyāpiṭaka
- Yudhañjayavagga
- Nekkhammapāramī 5
Soṇapaṇḍitacariya
“Punāparaṁ yadā homi, nagare brahmavaḍḍhane; Tattha kulavare seṭṭhe, mahāsāle ajāyahaṁ.
Tadāpi lokaṁ disvāna, Andhībhūtaṁ tamotthaṭaṁ; Cittaṁ bhavato patikuṭati, Tuttavegahataṁ viya.
Bản dịch
Soṇapaṇḍitacariya
BJT 282Vào một thời điểm khác nữa, khi ta sống ở thành phố Brahma-vaḍḍhana, tại nơi ấy ta đã được sinh ra trong gia đình cao quý, ưu tú, vô cùng giàu có.
BJT 283Khi ấy, ta cũng đã nhận thấy thế gian là bị mù quáng, bị bao phủ bởi bóng tối. Tâm (ta) chối từ sự hiện hữu như thể bị châm chích thô bạo bởi cây gậy nhọn.
BJT 284Sau khi nhận thấy sự xấu xa dưới nhiều hình thức khác nhau, ta đã suy nghĩ như vầy: “Lúc nào ta sẽ lìa bỏ gia đình, ta sẽ đi vào rừng?”
BJT 285Cũng vào khi ấy, các thân quyến đã mời mọc ta với các sự thọ hưởng về dục lạc, ta cũng đã nói cho những người ấy về ước muốn (của ta) rằng: “Xin các vị chớ có mời mọc ta bằng những thứ ấy.”
BJT 286Em trai của ta tên là Nanda là bậc trí tuệ. Vị ấy, trong khi học tập theo ta, cũng đã thích thú với việc xuất gia.
BJT 287Khi ấy, ta Soṇa và Nanda cùng với cả hai cha mẹ của ta cũng đã buông bỏ của cải vô số rồi đi vào trong khu rừng lớn.
Hạnh của vị hiền triết Soṇa là phần thứ năm.
Dứt sự toàn hảo về xuất ly.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Punāparaṁ yadā homi, nagare brahmavaḍḍhane; Tattha kulavare seṭṭhe, mahāsāle ajāyahaṁ.
Tadāpi lokaṁ disvāna, Andhībhūtaṁ tamotthaṭaṁ; Cittaṁ bhavato patikuṭati, Tuttavegahataṁ viya.
“Then again when I was in the city of Brahmavaḍḍhana, I was reborn there in a fine, wealthy, and eminent family.
Even so, I saw that the world had become blind, smothered in darkness. My mind recoiled from rebirth, as if harshly pricked by a goad.
Khi ấy cũng vậy, thấy thế gian trở nên mù quáng, bị bao phủ bởi bóng tối, tâm ta co rút lại khỏi kiếp sống, giống như bị thúc giục bởi một mũi nhọn.
Disvāna vividhaṁ pāpaṁ, evaṁ cintesahaṁ tadā; ‘Kadāhaṁ gehā nikkhamma, pavisissāmi kānanaṁ’.
Seeing the many forms of wickedness, I thought to myself: ‘When shall I leave the house and enter the forest?’
Thấy được nhiều điều ác khác nhau, khi ấy ta đã suy nghĩ như vầy: ‘Khi nào ta sẽ rời khỏi nhà và đi vào khu rừng?’.
Tadāpi maṁ nimantesuṁ, kāmabhogehi ñātayo; Tesampi chandamācikkhiṁ, ‘mā nimantetha tehi maṁ’.
Then too my relatives invited me to enjoy the pleasures of the senses. I told them of my desire, saying, ‘Do not invite me to such things!’
Khi ấy cũng vậy, các quyến thuộc đã mời gọi ta bằng những thú vui dục lạc. Ta đã nói rõ ý muốn của mình cho họ: ‘Xin đừng mời gọi ta bằng những thứ ấy’.
Yo me kaniṭṭhako bhātā, nando nāmāsi paṇḍito; Sopi maṁ anusikkhanto, pabbajjaṁ samarocayi.
My younger brother, who was named Nanda the astute, followed my ethical practices, and chose to go forth.
Người em trai của ta, tên là Nanda, là một người có trí tuệ. Vị ấy cũng noi gương ta và đã ưa thích việc xuất gia.
Ahaṁ soṇo ca nando ca, ubho mātāpitā mama; Tadāpi bhoge chaḍḍetvā, pāvisimhā mahāvanan”ti.
I, Soṇa, and Nanda, and both my mother and father, then discarded our riches and entered the great forest.”
Ta là Soṇa, và Nanda, cùng cả hai cha mẹ của ta, khi ấy cũng đã từ bỏ tài sản và chúng ta đã đi vào khu rừng lớn.
Soṇapaṇḍitacariyaṁ pañcamaṁ.
Hạnh Soṇapaṇḍita, hạnh thứ năm.