- Cariyāpiṭaka
- Yudhañjayavagga
- Nekkhammapāramī 4
Bhisacariya
“Punāparaṁ yadā homi, kāsīnaṁ puravaruttame; Bhaginī ca bhātaro satta, nibbattā sotthiye kule.
Bản dịch
Bhisacariya
BJT 274Vào một thời điểm khác nữa, khi ta ở tại kinh thành của xứ Kāsi, (ta có) một người em gái và bảy người em trai được sanh ra trong gia đình quý phái (dòng Bà-la-môn).
BJT 275Trong số những người này, ta đã được sanh ra trước tiên, đạt được pháp trong sạch là sự khiêm tốn. Sau khi nhận thấy sự hiện hữu là nguy hại, ta đã thỏa thích trong việc xuất gia.
BJT 276Các thân hữu, được mẹ và cha nhắn đến, đồng tâm mời mọc (ta) bằng các dục lạc: “Bạn hãy duy trì dòng dõi gia tộc.”
BJT 277Lời nào của những người ấy được nói ra về việc đem lại lạc thú trong cuộc sống gia đình, điều ấy đối với ta được xem tương tợ như lưỡi cày đã được nung đỏ, thô thiển.
BJT 278Khi ấy, họ đã hỏi ta, kẻ từ khước (cuộc sống gia đình), về nguyện vọng của ta: “Này bạn, nếu bạn không hưởng thục các dục thì bạn mong muốn điều gì?”
BJT 279Là người mong muốn điều tốt đẹp, ta đã nói với họ, những người đang tầm cầu lợi ích (cho ta) rằng: “Tôi không mong muốn trạng thái người tại gia, tôi thỏa thích trong sự xuất ly.”
BJT 280Sau khi lắng nghe lời nói của ta, họ đã thuật lại cho cha mẹ (ta). Mẹ cha ta đã nói như vầy: “Này quí vị, tất cả chúng tôi cũng xuất gia.”
BJT 281Cả hai mẹ cha của ta, người em gái, và bảy em trai đã buông bỏ của cải vô số rồi đi vào trong khu rừng lớn.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Bhisa là phần thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Punāparaṁ yadā homi, kāsīnaṁ puravaruttame; Bhaginī ca bhātaro satta, nibbattā sotthiye kule.
“Then again when I was in the capital citadel of Kāsi, a sister and seven brothers were born in a learned family.
Lại nữa, khi ta ở tại thành phố cao quý bậc nhất của xứ Kāsi, có một người chị em gái và bảy người anh em trai đã được sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn thịnh vượng.
Etesaṁ pubbajo āsiṁ, hirīsukkamupāgato; Bhavaṁ disvāna bhayato, nekkhammābhirato ahaṁ.
I was the first-born of them all, furnishing with pure conscience. Seeing rebirth as fearful, I longed for renunciation.
Ta là người anh cả của họ, người đã đạt đến sự trong sạch của lòng hổ thẹn. Thấy được sự đáng sợ của kiếp sống, ta ưa thích việc xuất gia.
Mātāpitūhi pahitā, sahāyā ekamānasā; Kāmehi maṁ nimantenti, ‘kulavaṁsaṁ dharehi’ti.
Sent for by my mother and father, my friends with one mind invited me to enjoy sensual pleasures, saying: ‘Maintain the family lineage.’
Những người bạn cùng một ý, được cha mẹ phái đến, đã mời gọi ta bằng các dục lạc, nói rằng: ‘Hãy duy trì dòng dõi gia tộc’.
Yaṁ tesaṁ vacanaṁ vuttaṁ, gihīdhamme sukhāvahaṁ; Taṁ me ahosi kaṭhinaṁ, tattaphālasamaṁ viya.
The words they said about the ways a householder can find happiness, were hard for me to hear, like a heated ploughshare.
Lời nói của họ, được cho là mang lại hạnh phúc trong đời sống tại gia, đối với ta lại là lời cay nghiệt, giống như một lưỡi cày nung đỏ.
Te maṁ tadā ukkhipantaṁ, pucchiṁsu patthitaṁ mama; ‘Kiṁ tvaṁ patthayase samma, yadi kāme na bhuñjasi’.
When I turned down their proposal, they asked me what I wished for: ‘My dear, what is it that you wish, since you do not long for sensual pleasures?’
Khi ấy, trong lúc ta đang từ chối, họ đã hỏi ta về điều ta mong muốn: ‘Này bạn, nếu bạn không hưởng thụ các dục lạc, vậy bạn mong cầu điều gì?’.
Tesāhaṁ evamavacaṁ, atthakāmo hitesinaṁ; ‘Nāhaṁ patthemi gihībhāvaṁ, nekkhammābhirato ahaṁ’.
I spoke to my beneficiaries, wanting what is best. ‘I wish not for the householder’s state, I long for renunciation.’
Ta, người mong cầu lợi ích, đã nói với họ, những người tìm cầu điều tốt lành cho ta, như vầy: ‘Ta không mong muốn đời sống tại gia, ta ưa thích việc xuất gia’.
Te mayhaṁ vacanaṁ sutvā, pitu mātu ca sāvayuṁ; Mātāpitā evamāhu, ‘sabbeva pabbajāma bho’.
Hearing my words, they told my mother and father. My parents said this: ‘Sirs, let all of us go forth!’
Họ nghe lời của ta, đã thuật lại cho cha và mẹ. Cha mẹ đã nói như vầy: ‘Này các con, tất cả chúng ta hãy cùng nhau xuất gia’.
Ubho mātāpitā mayhaṁ, bhaginī ca satta bhātaro; Amitadhanaṁ chaḍḍayitvā, pāvisimhā mahāvanan”ti.
So both my mother and father, sister and seven brothers, discarding countless riches, entered the great forest.”
Cả hai, cha và mẹ của ta, cùng người chị em gái và bảy người anh em trai, đã từ bỏ tài sản vô lượng và chúng ta đã đi vào khu rừng lớn.
Bhisacariyaṁ catutthaṁ.
Hạnh Bhisa, hạnh thứ tư.