- Cariyāpiṭaka
- Yudhañjayavagga
- Nekkhammapāramī 1
Yudhañjayacariya
“Yadāhaṁ amitayaso, Rājaputto yudhañjayo; Ussāvabinduṁ sūriyātape, Patitaṁ disvāna saṁvijiṁ.
Bản dịch
Yudhañjayacariya
BJT 242Khi ta là hoàng tử Yudhañjaya có danh tiếng vô lượng, ta đã động tâm sau khi nhìn thấy giọt sương mai bị tiêu tan dưới ánh nắng mặt trời.
BJT 243Sau khi trầm tư về chính điều ấy, ta đã làm cho nỗi động tâm tăng trưởng. Ta đã cúi lạy mẹ cha và xin phép xuất gia.
BJT 244Họ cùng với các thị dân và các cư dân của xứ sở, hai tay chắp lại, thỉnh cầu ta rằng: “Này con, ngay ngày hôm nay con hãy cai quản lãnh địa rộng lớn, tiến triển, và thịnh vượng.”
BJT 245Trong khi họ, có cả đức vua, có cả phi tần, có thị dân, có cư dân của xứ sở, đang khóc lóc thảm thương, bởi vì ta đã xuất gia, không lưu luyến.
BJT 246Trong khi từ bỏ toàn bộ trái đất, vương quốc, quyến thuộc, người hầu, và danh vọng, ta đã không suy nghĩ (đến điều gì khác) với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
BJT 247Me cha không có bị ta ghét bỏ, danh vọng lớn lao cũng không có bị ta ghét bỏ, đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta đã từ bỏ vương quốc.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Yudhañjaya là phần thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Yadāhaṁ amitayaso, Rājaputto yudhañjayo; Ussāvabinduṁ sūriyātape, Patitaṁ disvāna saṁvijiṁ.
“When I was Prince Yudhañjaya of infinite fame, I was stirred with urgency on seeing a fallen dewdrop in the heat of the sun.
Khi ta là vương tử Yudhañjaya, người có danh tiếng vô lượng, ta đã cảm thấy chấn động khi nhìn thấy một giọt sương rơi xuống dưới ánh nắng mặt trời.
Taññevādhipatiṁ katvā, saṁvegamanubrūhayiṁ; Mātāpitū ca vanditvā, pabbajjamanuyācahaṁ.
Taking that to be of prime importance, I fostered that urgency. I bowed to my mother and father, and begged permission to go forth.
Lấy chính sự việc ấy làm đối tượng, ta đã nuôi lớn cảm thức chấn động tâm linh. Sau khi đảnh lễ cha mẹ, ta đã xin phép được xuất gia.
Yācanti maṁ pañjalikā, sanegamā saraṭṭhakā; ‘Ajjeva putta paṭipajja, iddhaṁ phītaṁ mahāmahiṁ’.
With cupped palms, along with the citizens of town and country, they asked, ‘This very day, rule this great land, so successful and prosperous.’
Dân chúng từ các thị trấn và xứ sở, chắp tay vái lạy, đã cầu xin ta: ‘Thưa vương tử, ngay hôm nay, xin ngài hãy cai quản giang sơn rộng lớn, thịnh vượng và phồn vinh này’.
Sarājake sahorodhe, sanegame saraṭṭhake; Karuṇaṁ paridevante, anapekkhova pariccajiṁ.
The King and the Queens, with the citizens of town and country, cried pitifully, as I forsook unconcerned.
Trong khi nhà vua cùng với hoàng gia, dân chúng từ các thị trấn và xứ sở đang than khóc một cách thảm thiết, ta đã từ bỏ tất cả mà không một chút luyến tiếc.
Kevalaṁ pathaviṁ rajjaṁ, ñātiparijanaṁ yasaṁ; Cajamāno na cintesiṁ, bodhiyāyeva kāraṇā.
Kingship over the entire earth, family, retinue, and fame—I gave them up without a second thought, because it was solely for awakening.
Khi từ bỏ toàn bộ giang sơn, vương quốc, quyến thuộc, đoàn tùy tùng, và danh vọng, ta đã không hề do dự, chỉ vì mục đích giác ngộ.
Mātāpitā na me dessā, napi me dessaṁ mahāyasaṁ; Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ, tasmā rajjaṁ pariccajin”ti.
I had no dislike of my parents, nor did I dislike the great fame. But because omniscience is precious to me, that is why I forsook kingship.”
Không phải ta ghét bỏ cha mẹ, cũng không phải ta ghét bỏ danh vọng lớn lao. Nhưng trí tuệ toàn giác là điều ta yêu quý, vì thế ta đã từ bỏ vương quốc.
Yudhañjayacariyaṁ paṭhamaṁ.
Hạnh Yudhañjaya, thứ nhất.