- Cariyāpiṭaka
- Yudhañjayavagga
- Nekkhammapāramī 2
Somanassacariya
“Punāparaṁ yadā homi, indapatthe puruttame; Kāmito dayito putto, somanassoti vissuto.
Sīlavā guṇasampanno, kalyāṇapaṭibhānavā; Vuḍḍhāpacāyī hirīmā, saṅgahesu ca kovido.
Bản dịch
Somanassacariya
BJT 248Vào một thời điểm khác nữa, khi ở tại kinh thành Indapatta, ta là người con trai được mong mỏi, được yêu quý, được nổi tiếng (với tên) là Somanassa.
BJT 249Ta là người có giới, được thành tựu đức hạnh, có lối ứng xử lịch thiệp, có sự tôn kính bậc trưởng thượng, có sự khiêm tốn, và rành rẽ về các cách tiếp độ.
BJT 250Có gã đạo sĩ giả trá được đức vua ấy yêu mến. Ông ta trồng trọt rau quả hoa màu rồi sinh sống.
BJT 251Nhận biết ông là giả trá ví như đống trấu không có hạt gạo, ví như thân cây có lỗ bọng lớn ở bên trong, ví như cây chuối không có lỏi cứng.
BJT 252Không có pháp của các bậc thiện trí ở người này. Vì lý do nuôi dưỡng mạng sống, người này đã xa rời Sa-môn hạnh, đã từ bỏ pháp trong sạch là sự khiêm tốn.
BJT 253Vùng biên giới đã bị khuấy động bởi những kẻ lâm tặc thuộc các xứ lân bang. Khi ra đi để dẹp yên việc ấy, cha (ta) đã dạy bảo ta rằng:
BJT 254“Này con yêu dấu, con chớ có lơ là với vị đạo sĩ tóc bện nghiêm trì khổ hạnh. Hãy thi hành điều (vị ấy) ước muốn bởi vì vị ấy là người ban bố (cho chúng ta) mọi điều lạc thú.”
BJT 255Ta đã đi đến phục vụ vị ấy và đã nói lời này: “Này gia chủ, ông có được an vui không?” hoặc “Vật gì cần được mang lại cho ông?”
BJT 256Vì thế, kẻ giả trá, chất chứa ngã mạn ấy đã giận dữ (nói rằng): “Hôm nay, ta sẽ làm cho ngươi hoặc là bị giết chết, hoặc là bị trục xuất ra khỏi vương quốc.”
BJT 257Sau khi bình định khu vực biên giới, đức vua đã nói với kẻ giả trá (ấy) rằng: “Thưa ngài, ngài có được thoải mái, có được sự tôn kính không?” Gã xấu xa đã nói với đức vua rằng: “Hoàng tử cần phải bị trừng trị như thế.”
BJT 258Sau khi nghe được lời nói ấy của kẻ ấy, vị chúa tể của trái đất đã ra lệnh rằng: “Hãy chém đầu ngay tại chỗ, rồi phân (thây) thành bốn mảnh, và cho trưng bày ở khắp các ngã đường; đó là phần số dành cho kẻ miệt thị vị đạo sĩ tóc bện.”
BJT 259Tại nơi ấy, những người hành quyết độc ác, hung dữ, bất nhân đã lôi kéo ta đang ngồi ở lòng mẹ rồi dẫn đi.
BJT 260Ta đã nói với họ như vầy: “Hãy cấp tốc đưa ta đã bị trói bằng gông xiềng chắc chắc đến trình diện đức vua, ta có các việc cần làm cho đức vua.”
BJT 261Bọn họ đã đưa ta đến gặp vị vua ác xấu là người thân cận với kẻ ác xấu. Sau khi tiếp kiến, ta đã làm cho đức vua hiểu rõ và ta đã tạo được uy thế cho ta.
BJT 262Đức vua đã yêu cầu thứ lỗi về việc ấy và đã trao vương quốc rộng lớn lại cho ta. Ta đây, sau khi phá tan sự mê muội, đã xuất gia theo hạnh không nhà.
BJT 263Vương quốc rộng lớn không có bị ta ghét bỏ, sự hưởng thụ các dục không có bị ta ghét bỏ, đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta đã từ bỏ vương quốc.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Somanassa là phần thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Punāparaṁ yadā homi, indapatthe puruttame; Kāmito dayito putto, somanassoti vissuto.
Sīlavā guṇasampanno, kalyāṇapaṭibhānavā; Vuḍḍhāpacāyī hirīmā, saṅgahesu ca kovido.
“Then again when I was in Indapatta, the capital city, I was a loved and cherished child renowned as Somanassa.
I was ethical, full of good qualities, of fine and eloquent speech, honoring elders, conscientious, and expert in the methods of inclusiveness.
(Ta) có giới hạnh, đầy đủ đức tính, có trí tuệ tốt đẹp, kính trọng bậc trưởng thượng, có lòng tàm, và thông thạo trong các pháp nhiếp phục.
Tassa rañño patikaro, ahosi kuhakatāpaso; Ārāmaṁ mālāvacchañca, ropayitvāna jīvati.
Now there was this charlatan renunciant who was favored by the king. He made a living by cultivating an orchard and flowering shrubs.
Vị vua ấy có một đạo sĩ giả dối, kẻ thân tín. Vị ấy sinh sống bằng cách trồng một khu vườn và các loại cây hoa.
Tamahaṁ disvāna kuhakaṁ, thusarāsiṁva ataṇḍulaṁ; Dumaṁva anto susiraṁ, kadaliṁva asārakaṁ.
Seeing he was a charlatan, like a pile of chaff without grain, like a hollow tree, like a plantain tree with no core, I thought:
Ta thấy vị đạo sĩ giả dối ấy, giống như đống trấu không có gạo, như cây rỗng ruột bên trong, như cây chuối không có lõi.
Natthimassa sataṁ dhammo, sāmaññāpagato ayaṁ; Hirīsukkadhammajahito, jīvitavuttikāraṇā.
Kupito ahu paccanto,
‘There is no good in him, he has strayed from asceticism. He has left the bright qualities of conscience for the sake of making a living.’
Then the borders were in turmoil
Vị này không có chánh pháp của bậc thiện nhân, đã xa rời sa-môn hạnh. Vì lý do sinh kế, đã từ bỏ pháp tàm trong sạch.
Vùng biên giới bị náo động bởi giặc cướp trong rừng và ngoại tộc. Phụ vương của ta, khi đi dẹp loạn, đã dặn dò ta.
‘Mā pamajji tuvaṁ tāta, jaṭilaṁ uggatāpanaṁ; Yadicchakaṁ pavattehi, sabbakāmadado hi so’.
‘My dear, do not neglect the matted-hair ascetic of severe penance. He is the granter of our wishes, give him all he desires.’
‘Này con yêu, con chớ có lơ là với vị đạo sĩ bện tóc, người thực hành khổ hạnh khắc nghiệt. Hãy cung phụng bất cứ điều gì vị ấy muốn, vì vị ấy là người ban cho mọi ước nguyện’.
Tamahaṁ gantvānupaṭṭhānaṁ, Idaṁ vacanamabraviṁ; ‘Kacci te gahapati kusalaṁ, Kiṁ vā te āharīyatu’.
I went then to serve him, and said the following. ‘I hope you are well, householder. Is there anything I can bring for you?’
Ta đến hầu hạ vị ấy và nói lời này: ‘Thưa gia chủ, ngài có được an lành không? Hay ngài muốn được dâng vật gì?’.
Tena so kupito āsi, kuhako mānanissito; ‘Ghātāpemi tuvaṁ ajja, raṭṭhā pabbājayāmi vā’.
At that he was upset with me, that prideful charlatan. ‘I’ll have you killed right now! Or banished from the realm!’
Vì lời ấy, vị đạo sĩ giả dối, kẻ đầy ngã mạn, đã nổi giận. (Và nói): ‘Hôm nay ta sẽ khiến ngươi bị giết, hoặc sẽ trục xuất ngươi khỏi vương quốc’.
Nisedhayitvā paccantaṁ, rājā kuhakamabravi; ‘Kacci te bhante khamanīyaṁ, sammāno te pavattito’.
After putting an end to the border conflict, the king said to the charlatan, ‘I hope you’re keeping well, sir, and honors were served you?’
Sau khi dẹp yên vùng biên giới, đức vua nói với vị đạo sĩ giả dối: ‘Thưa ngài, ngài có được kham nhẫn không? Ngài có được (vương tử) tôn kính không?’.
Tassa ācikkhatī pāpo, kumāro yathā nāsiyo; Tassa taṁ vacanaṁ sutvā, āṇāpesi mahīpati.
That wicked one told him how the prince deserved execution. When he heard these words, the Lord of the Earth commanded:
Kẻ ác hạnh ấy đã tâu bày với vua cách để vương tử bị tiêu diệt. Nghe lời của y, vị chúa đất đã ra lệnh.
‘Sīsaṁ tattheva chinditvā, katvāna catukhaṇḍikaṁ; Rathiyā rathiyaṁ dassetha, sā gati jaṭilahīḷitā’.
‘Cut off his head right there! Saw his corpse into four pieces! And then show them from street to street: this is the fate of one who shames the ascetic.’
‘Hãy chặt đầu nó ngay tại đó, chặt thân thành bốn mảnh, rồi mang đi diễu từ đường này sang đường khác. Đó là kết cục của việc khinh miệt đạo sĩ bện tóc’.
Tattha kāraṇikā gantvā, caṇḍā luddā akāruṇā; Mātu aṅke nisinnassa, ākaḍḍhitvā nayanti maṁ.
Right away left the punishers—fierce, violent and pitiless. They dragged me from my mother’s lap and led me away.
Khi ấy, những đao phủ hung dữ, tàn bạo, không lòng thương xót đã đến, và lôi ta đi trong khi ta đang ngồi trong lòng mẫu hậu.
Tesāhaṁ evamavacaṁ, bandhataṁ gāḷhabandhanaṁ; ‘Rañño dassetha maṁ khippaṁ, rājakiriyāni atthi me’.
I said to them as they bound me with tight bonds: ‘Present me to the king right now, I have an issue for the king!’
Ta đã nói với họ, những kẻ đang trói ta thật chặt: ‘Hãy mau đưa ta đến gặp đức vua, ta có việc của hoàng gia cần làm’.
Te maṁ rañño dassayiṁsu, pāpassa pāpasevino; Disvāna taṁ saññāpesiṁ, mamañca vasamānayiṁ.
They presented me to the king, follower of the wicked one and his wicked ways. On seeing me, I persuaded him and brought him under my influence.
Họ đã đưa ta đến trình diện đức vua, người ác hạnh và thân cận kẻ ác. Khi thấy vua, ta đã làm cho vua hiểu ra và khiến vua thuận theo ý ta.
So maṁ tattha khamāpesi, mahārajjamadāsi me; Sohaṁ tamaṁ dālayitvā, pabbajiṁ anagāriyaṁ.
He asked for my forgiveness then, and offered me the kingdom. But having burst the darkness asunder, I went forth to homelessness.
Khi ấy, vua đã xin ta tha thứ và trao cho ta đại vương quốc. Còn ta, sau khi phá tan bóng tối (si mê), đã xuất gia sống đời không nhà.
Na me dessaṁ mahārajjaṁ, kāmabhogo na dessiyo; Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ, tasmā rajjaṁ pariccajin”ti.
I did not dislike great kingship, nor did I dislike sensual enjoyment. But because omniscience is precious to me, that is why I forsook kingship.”
Không phải ta ghét bỏ đại vương quốc, cũng không phải ta ghét bỏ sự hưởng thụ dục lạc. Nhất thiết trí là điều ta yêu quý, vì thế ta đã từ bỏ vương quốc.
Somanassacariyaṁ dutiyaṁ.
Hạnh Somanassa, thứ hai.