- Cariyāpiṭaka
- Hatthināgavagga
- Sīlapāramī 9
Alīnasattucariya
“Pañcālaraṭṭhe nagaravare, Kapilāyaṁ puruttame; Rājā jayaddiso nāma, Sīlaguṇamupāgato.
Bản dịch
Alīnasattucariya
BJT 221Ở trong kinh thành Kampillā, thành phố tráng lệ thuộc vương quốc Pancāla, có đức vua tên Jayaddisa đã được thành tựu giới đức.
BJT 222Là Alīnasatta, người con trai của đức vua ấy, ta được học tập, có giới hạnh tốt, có đức độ, luôn luôn quan tâm đến người hầu cận.
BJT 223Cha ta đã đi săn thú rừng và đã đến gần bên Porisāda (kẻ ăn thịt người). Gã ấy đã bắt giữ cha ta (nói rằng): “Ngươi là thức ăn của ta, chớ có vùng vẫy.”
BJT 224Sau khi được nghe lời nói ấy của gã, đức vua đã trở nên hoảng hốt, run rẩy vì sợ hãi, cứng đờ chân cẳng khi trông thấy kẻ ăn thịt người.
BJT 225(Đức vua đã nói rằng:) “Hãy giữ lấy con thú rừng, rồi trả tự do cho ta,” và đã hứa hẹn việc sẽ quay trở lại. Sau khi giao lại tài sản cho vị (quan đại thần) Bà-la-môn, cha (ta) đã nhắn nhủ ta rằng:
BJT 226“Này con, hãy cai quản vương quốc. Chớ bỏ bê thành phố này. Cha đã hứa với kẻ ăn thịt người về việc sẽ quay trở lại của cha.”
BJT 227Sau khi cúi lạy mẹ cha và buông bỏ bản thân, ta đã đặt cung kiếm xuống rồi đã đi đến gặp kẻ ăn thịt người.
BJT 228Có lẽ gã ấy sẽ sợ hãi người đi đến có vũ khí trong tay. Khi ta đã gây nên nỗi lo sợ, vì điều ấy giới sẽ bị hư hỏng.
BJT 229Vì ta có nỗi lo sợ về việc đứt giới, ta đã không nói điều gây khó chịu đối với gã ấy. Là người nói điều lợi ích, có tâm từ ái, ta đã nói điều này:
BJT 230“Hãy đốt lên ngọn lửa lớn, tôi sẽ lao từ trên cây xuống. Này ông chú, ông hãy biết lúc đã được chín tới, rồi ông hãy thọ thực.”
BJT 231Như thế với việc thực hành giới là nguyên nhân, ta đã không bảo tồn mạng sống của ta. Và ta đã khiến cho gã (ăn thịt người) ấy luôn luôn xa lánh việc giết hại sanh mạng.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Alīnasatta là phần thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Pañcālaraṭṭhe nagaravare, Kapilāyaṁ puruttame; Rājā jayaddiso nāma, Sīlaguṇamupāgato.
“In the kingdom of Pañcāla, in the eminent city, the capital named Kapilā, the king named Jayaddisa was furnished with virtuous qualities.
Tại vương quốc Pañcāla, trong thành phố ưu việt, đô thị bậc nhất tên là Kapila, có một vị vua tên là Jayaddisa, người có đầy đủ giới đức.
Tassa rañño ahaṁ putto, Sutadhammo susīlavā; Alīnasatto guṇavā, Anurakkhaparijano sadā.
I was that king’s son, well educated and virtuous; Alīnasattu of fine qualities, I always cared for the attendants.
Ta là con trai của vị vua ấy, tên là Alīnasatta, người học rộng, có giới hạnh tốt, có nhiều phẩm hạnh, và luôn bảo vệ quyến thuộc.
Pitā me migavaṁ gantvā, porisādaṁ upāgami; So me pitumaggahesi, ‘bhakkhosi mama mā cali’.
My father had gone deer hunting when he came across a cannibal, who seized my father, saying, ‘You are my prey, don’t move!’
Cha ta đi vào rừng săn, đã đến gần một kẻ ăn thịt người. Kẻ ấy đã bắt lấy cha ta và nói: ‘Ngươi là thức ăn của ta, đừng có động đậy’.
Tassa taṁ vacanaṁ sutvā, bhīto tasitavedhito; Ūrukkhambho ahu tassa, disvāna porisādakaṁ.
When he heard these words, he was scared and trembled with fear, his thighs became stiff when he saw the cannibal.
Nghe lời nói ấy của kẻ kia, và khi nhìn thấy kẻ ăn thịt người, cha ta đã trở nên sợ hãi, kinh hoàng, và run rẩy; hai đùi của ngài đã trở nên cứng đờ.
Migavaṁ gahetvā muñcassu, katvā āgamanaṁ puna; Brāhmaṇassa dhanaṁ datvā, pitā āmantayī mamaṁ.
‘Let me go, take the deer meat!’ he said, ‘I promise to return.’ Having paid the brahmin, my father said to me:
Sau khi hứa sẽ quay trở lại (với lời thỉnh cầu): ‘Hãy nhận lấy thịt nai và thả ta ra’, và sau khi ban tặng của cải cho một vị Bà-la-môn, cha ta đã gọi ta đến và nói.
‘Rajjaṁ putta paṭipajja, mā pamajji puraṁ idaṁ; Kataṁ me porisādena, mama āgamanaṁ puna’.
‘Son, rule the realm. Do not neglect this city. I promised the cannibal that I will return.’
‘Này con trai, con hãy trị vì vương quốc, chớ nên xao lãng đối với thị thành này. Ta đã có lời hẹn ước với Porisāda về việc ta sẽ quay trở lại’.
Mātāpitū ca vanditvā, nimminitvāna attanā; Nikkhipitvā dhanuṁ khaggaṁ, porisādaṁ upāgamiṁ.
I bowed to my mother and father, and substituted myself. Tossing my bow and sword, I approached the cannibal.
Sau khi đảnh lễ cha và mẹ, ta đã hóa thân ra một người giống hệt, rồi đặt cung và kiếm xuống, ta đã đi đến gặp Porisāda.
Sasatthahatthūpagataṁ, kadāci so tasissati; Tena bhijjissati sīlaṁ, parittāsaṁ kate mayi.
Perhaps if I have weapons in hand that might make him afraid. And that would violate my ethics, were I to frighten him.
Khi thấy ta đến gần với vũ khí trong tay, có lẽ y (Porisāda) sẽ hoảng sợ. Nếu ta làm cho người khác hoảng sợ, do đó giới của ta sẽ bị tổn hại.
Sīlakhaṇḍabhayā mayhaṁ, tassa dessaṁ na byāhariṁ; Mettacitto hitavādī, idaṁ vacanamabraviṁ.
For fear of violating my ethics, I said nothing hateful to him. Lovingly and beneficially, I said the following.
Vì sợ giới bị tổn hại, ta đã không nói lời khó nghe với y. Với tâm từ, nói lời lợi ích, ta đã nói lên lời này.
‘Ujjālehi mahāaggiṁ, papatissāmi rukkhato; Tvaṁ pakkakālamaññāya, bhakkhaya maṁ pitāmaha’.
‘Kindle a great fire. I will drop into it from a tree. When you know I am cooked, eat me, Grandfather.’
‘Thưa ông, xin hãy nhóm lên ngọn lửa lớn, con sẽ nhảy xuống từ trên cây. Khi biết đã chín, xin ông hãy ăn thịt con’.
Iti sīlavataṁ hetu, nārakkhiṁ mama jīvitaṁ; Pabbājesiṁ cahaṁ tassa, sadā pāṇātipātikan”ti.
And so for the sake of my ethical vows I did not protect my life. And I drove out forever his attacks on living creatures.”
Như vậy, vì những người có giới đức, ta đã không bảo vệ mạng sống của mình. Và ta đã khiến cho kẻ thường xuyên sát sanh ấy được xuất gia.
Alīnasattucariyaṁ navamaṁ.
Hạnh Alīnasattu, hạnh thứ chín.