- Cariyāpiṭaka
- Hatthināgavagga
- Sīlapāramī 7
Mātaṅgacariya
“Punāparaṁ yadā homi, jaṭilo uggatāpano; Mātaṅgo nāma nāmena, sīlavā susamāhito.
Ahañca brāhmaṇo eko, gaṅgākūle vasāmubho; Ahaṁ vasāmi upari, heṭṭhā vasati brāhmaṇo.
Bản dịch
Mātaṅgacariya
BJT 207Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là đạo sĩ tóc bện nghiêm trì khổ hạnh, có giới đức, định tâm bền vững, tên là Mātaṅga.
BJT 208Ta và một vị Bà-la-môn, cả hai sống ở bên bờ sông Gaṅgā. Ta sống ở thượng nguồn, còn vị Bà-la-môn sống ở hạ nguồn.
BJT 209Trong khi đi lang thang dọc theo bờ sông, vị Bà-la-môn đã nhìn thấy khu ẩn cư của ta ở thượng nguồn. Tại nơi ấy, sau khi mắng nhiếc ta, vị ấy đã nguyền rủa về sự vỡ tan cái đầu (của ta).
BJT 210Nếu ta nổi cơn giận dữ đối với vị này, nếu ta không gìn giữ giới, thì sau khi nhìn vào vị ấy ta có thể làm cho trở thành như là tro bụi.
BJT 211Lúc bấy giờ, điều mà vị ấy nguyền rủa ta trong lúc bị bực tức và có tâm ý xấu xa lại được áp dụng ở trên cái đầu của chính vị ấy. Ta đã giúp cho vị ấy được thoát khỏi (việc bị bể đầu thành bảy mảnh) bằng thủ thuật.
BJT 212Ta đã bảo vệ giới của ta. Ta đã không bảo tồn mạng sống của mình. Bởi vì, vào lúc ấy ta đã là người có giới hạnh với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Mātaṅga là phần thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Punāparaṁ yadā homi, jaṭilo uggatāpano; Mātaṅgo nāma nāmena, sīlavā susamāhito.
Ahañca brāhmaṇo eko, gaṅgākūle vasāmubho; Ahaṁ vasāmi upari, heṭṭhā vasati brāhmaṇo.
“Then again when I was a matted-hair ascetic of severe penance, Mātaṅga was my name, I was virtuous and serene.
A brahmin and I both lived on a bank of the Ganges. I stayed upstream, the brahmin downstream.
Cả ta và một vị Bà-la-môn, cả hai chúng tôi cùng sống ở bờ sông Hằng. Ta sống ở thượng nguồn, còn vị Bà-la-môn sống ở hạ nguồn.
Vicaranto anukūlamhi, uddhaṁ me assamaddasa; Tattha maṁ paribhāsetvā, abhisapi muddhaphālanaṁ.
Wandering along the riverbank, he saw my hermitage upstream. Then he abused and cursed me, that my head would split in seven.
Khi đi dọc theo bờ sông, người ấy đã thấy am thất của ta ở thượng nguồn. Ở đó, sau khi mắng nhiếc ta, người ấy đã nguyền rủa cho đầu ta bị vỡ ra.
Yadihaṁ tassa pakuppeyyaṁ, yadi sīlaṁ na gopaye; Oloketvānahaṁ tassa, kareyyaṁ chārikaṁ viya.
If I were upset with him and if I were not taking care of my ethics, then just with a glance I could have reduced him to ashes.
Nếu ta nổi giận với người ấy, nếu ta không bảo vệ giới hạnh, chỉ cần nhìn người ấy, ta có thể biến người ấy thành tro bụi.
Yaṁ so tadā maṁ abhisapi, kupito duṭṭhamānaso; Tasseva matthake nipati, yogena taṁ pamocayiṁ.
But when he cursed me then, so angry and bitter-hearted, it fell right back on his own head: I freed him from that yoke.
Lời nguyền rủa mà người ấy, với tâm sân hận, đã giáng lên ta lúc đó, đã quay lại rơi xuống đầu của chính người ấy. Bằng nỗ lực, ta đã giải thoát cho người ấy (khỏi tai họa đó).
Anurakkhiṁ mama sīlaṁ, nārakkhiṁ mama jīvitaṁ; Sīlavā hi tadā āsiṁ, bodhiyāyeva kāraṇā”ti.
I guarded my ethics, not my life. For then I was ethical, because it was solely for awakening.”
Ta đã bảo vệ giới hạnh của ta, ta đã không bảo vệ mạng sống của ta. Khi ấy, ta là người có giới hạnh, chính là vì mục đích giác ngộ.
Mātaṅgacariyaṁ sattamaṁ.
Hạnh của Mātaṅga, hạnh thứ bảy.