- Cariyāpiṭaka
- Hatthināgavagga
- Sīlapāramī 6
Rurumigarājacariya
“Punāparaṁ yadā homi, sutattakanakasannibho; Migarājā ruru nāma, paramasīlasamāhito.
Bản dịch
Rurumigarājacariya
BJT 195Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là vua của loài nai, có tên là Ruru, có màu lông tợ như vàng nung đỏ, đang chú tâm vào giới hạnh tối cao.
BJT 196Ta đã đi đến trú ngụ tại nơi ấy, ở một khu đất xinh xắn, đáng yêu, thanh vắng, không có loài người, bên bờ sông Gaṅgā thích ý.
BJT 197Khi ấy, ở thượng nguồn sông Gaṅgā, có người đàn ông bị bức bách bởi những chủ nợ nên đã gieo mình xuống dòng sông Gaṅgā (nghĩ rằng): “Ta hoặc là sống hay là chết.”
BJT 198Trong khi bị cuốn trôi ở giòng nước lớn và kêu la thảm thiết ngày đêm, người ấy trôi ra giữa dòng sông Gaṅgā.
BJT 199Nghe được tiếng kêu la thảm thiết của người ấy đang than khóc, ta đã đứng ở bờ sông Gaṅgā hỏi rằng: “Ông là người nào?”
BJT 200Và khi được ta hỏi, người ấy đã giải thích hành động của mình: “Sợ hãi những người chủ nợ, bị hoảng hốt, tôi đã lao mình xuống dòng sông lớn.”
BJT 201Khởi tâm thương xót người ấy, ta đã buông bỏ mạng sống của mình, lao vào (dòng nước), và đã vớt người ấy lên trong bóng tối của ban đêm.
BJT 202Nhận biết được thời điểm đã được hồi phục, ta đã nói với người ấy điều này: “Ta yêu cầu ngươi một ân huệ là ngươi chớ có nói về ta đối với bất cứ người nào.”
BJT 203Sau khi đi đến thành phố, người ấy vì nguyên nhân của cải đã nói ra khi được hỏi, rồi đã đưa đức vua đi đến vùng phụ cận của ta.
BJT 204Toàn bộ sự việc đến đâu đã được ta tường thuật cho đức vua. Nghe được lời kể lại, đức vua đã hướng mũi tên vào người ấy (nói rằng): “Trẫm sẽ giết chết kẻ đê tiện phản bội bạn bè ngay tại chỗ này.”
BJT 205Trong khi bảo vệ cho người ấy, ta đã hoán đổi (người ấy) bằng bản thân của ta (nói rằng): “Tâu đại vương hãy để cho người ấy sống. Thần sẽ là người tạo ra lạc thú cho ngài.”
BJT 206Ta đã bảo vệ giới của ta. Ta đã không bảo tồn mạng sống của mình. Bởi vì, vào lúc ấy ta đã là người có giới hạnh với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
Hạnh của Con Nai Chúa Ruru là phần thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Punāparaṁ yadā homi, sutattakanakasannibho; Migarājā ruru nāma, paramasīlasamāhito.
“Then again when I was the king of deer named Ruru, in appearance I was like burnished gold, focused on the highest ethics.
Lại một lần khác, khi ta là vua nai tên Ruru, có màu sắc giống như vàng ròng đã được nung luyện, có giới hạnh tối thượng.
Ramme padese ramaṇīye, vivitte amanussake; Tattha vāsaṁ upagañchiṁ, gaṅgākūle manorame.
There was a pleasant, delightful region, free of humans, so I went there and stayed on a lovely bank of the Ganges.
Ta đã đến ở tại một nơi đáng ưa thích, làm cho vui thích, vắng vẻ, không có người, làm vui lòng, bên bờ sông Gaṅgā.
Atha upari gaṅgāya, dhanikehi paripīḷito; Puriso gaṅgāya papati, ‘jīvāmi vā marāmi vā’.
Then a man upstream, harassed by creditors, fell into the Ganges, thinking, ‘I live or I die!’
Khi ấy, ở thượng nguồn sông Gaṅgā, một người đàn ông bị các chủ nợ áp bức, đã nhảy xuống dòng sông Gaṅgā (với ý nghĩ): ‘Dù sống hay dù chết’.
Rattindivaṁ so gaṅgāya, vuyhamāno mahodake; Ravanto karuṇaṁ ravaṁ, majjhe gaṅgāya gacchati.
Day and night in the Ganges he was swept along the stream, crying out pitifully, along the middle of the Ganges.
Người ấy bị cuốn trôi cả ngày lẫn đêm trong dòng nước lớn của sông Gaṅgā, trong khi kêu lên những tiếng kêu đáng thương, trôi đi giữa dòng sông Gaṅgā.
Tassāhaṁ saddaṁ sutvāna, karuṇaṁ paridevato; Gaṅgāya tīre ṭhatvāna, apucchiṁ ‘kosi tvaṁ naro’.
When I heard the sound of his pitiful crying, I stood on the Ganges bank and asked, ‘What man are you?’
Ta, sau khi nghe tiếng than khóc đáng thương của người ấy, đã đứng lại bên bờ sông Gaṅgā và hỏi: ‘Hỡi người kia, ngươi là ai?’
So me puṭṭho ca byākāsi, attano karaṇaṁ tadā; ‘Dhanikehi bhīto tasito, pakkhandohaṁ mahānadiṁ’.
When asked he explained to me his own deed: ‘I was so scared of my creditors, I jumped in the great river!’
Người ấy, được ta hỏi, khi ấy đã giải thích nguyên nhân của mình: ‘Do sợ hãi và kinh hoàng trước các chủ nợ, tôi đã nhảy xuống dòng sông lớn.’
Tassa katvāna kāruññaṁ, cajitvā mama jīvitaṁ; Pavisitvā nīhariṁ tassa, andhakāramhi rattiyā.
Taking pity on him, surrendering my own life, I entered and dragged him out in the darkness of the night.
Sau khi có lòng bi mẫn đối với người ấy, và từ bỏ mạng sống của mình, ta đã đi vào (dòng sông) và cứu vớt người ấy ra khỏi đó trong đêm tối.
Assatthakālamaññāya, tassāhaṁ idamabraviṁ; ‘Ekaṁ taṁ varaṁ yācāmi, mā maṁ kassaci pāvada’.
When I knew he had recovered, I said to him, ‘I ask of you one favor: tell no one about me.’
Biết được lúc người ấy đã bình phục, ta đã nói với người ấy lời này: ‘Ta xin ngươi một ân huệ, xin đừng nói cho bất cứ ai biết về ta’.
Nagaraṁ gantvāna ācikkhi, pucchito dhanahetuko; Rājānaṁ so gahetvāna, upagañchi mamantikaṁ.
But once he had returned to the city, for the sake of money he told when asked. Taking the king, he drew close to me.
Sau khi đi đến thành phố, vì tham của cải, người ấy đã kể lại khi được hỏi. Người ấy dẫn nhà vua đến chỗ của ta.
Yāvatā karaṇaṁ sabbaṁ, rañño ārocitaṁ mayā; Rājā sutvāna vacanaṁ, usuṁ tassa pakappayi; ‘Idheva ghātayissāmi, mittadubbhiṁ anāriyaṁ’.
All that I had done was related to the king. When the king heard this, he fitted his arrow, thinking, ‘Right here I shall kill this ignoble betrayer of a friend.’
Tất cả mọi sự việc đã được ta trình báo lại cho nhà vua. Sau khi nghe lời ấy, nhà vua đã giương cung tên lên nhắm vào người kia (và nói): ‘Ngay tại đây, ta sẽ giết kẻ bất lương, kẻ phản bạn này’.
Tamahaṁ anurakkhanto, nimminiṁ mama attanā; ‘Tiṭṭhateso mahārāja, kāmakāro bhavāmi te’.
I protected him, substituting myself: ‘Let him be, Great King. I shall carry out your pleasure.’
Vì muốn bảo vệ người ấy, ta đã dùng thân mình để trao đổi (và nói): ‘Tâu đại vương, xin hãy để người này được yên. Thần xin làm theo ý muốn của ngài’.
Anurakkhiṁ mama sīlaṁ, nārakkhiṁ mama jīvitaṁ; Sīlavā hi tadā āsiṁ, bodhiyāyeva kāraṇā”ti.
I guarded my ethics, not my life. For then I was ethical, because it was solely for awakening.”
Ta đã bảo vệ giới hạnh của ta, ta đã không bảo vệ mạng sống của ta. Khi ấy, ta là người có giới hạnh, chính là vì mục đích giác ngộ.
Rurumigarājacariyaṁ chaṭṭhaṁ.
Hạnh nai chúa Ruru, hạnh thứ sáu.