- Cariyāpiṭaka
- Hatthināgavagga
- Sīlapāramī 5
Mahiṁsarājacariya
“Punāparaṁ yadā homi, mahiṁso pavanacārako; Pavaḍḍhakāyo balavā, mahanto bhīmadassano.
Bản dịch
Mahiṁsarājacariya
BJT 184Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là con trâu lang thang ở trong khu rừng rậm, có thân thể phát triển, khỏe mạnh, to lớn, trông thấy phải sợ hãi.
BJT 185Nơi ấy, trong hang động, ở sườn núi dốc, dưới cội cây, (gần) nơi hồ nước, có (các) khu vực rải rác đó đây dành cho loài trâu.
BJT 186Trong khi đi lang thang ở khu rừng rậm, ta đã nhìn thấy một nơi thuận tiện. Ta đã đi đến nơi ấy, đứng lại, rồi nằm xuống.
BJT 187Rồi có con khỉ đê tiện, thô lỗ, nhanh nhảu đã đi đến nơi ấy và tiểu tiện, đại tiện ở trên lưng, trên trán, và lông mày của ta.
BJT 188Một lần trong ngày, rồi lần thứ hai, lần thứ ba, và thậm chí đến lần thứ tư, nó làm ta bị nhơ bẩn vào mọi lúc; vì điều ấy, ta trở nên bực bội.
BJT 189Nhìn thấy sự bực bội của ta, có con Dạ-xoa đã nói với ta điều này: “Ngươi hãy giết chết cái loài tồi tệ đê tiện ấy bằng các sừng và các móng chân.”
BJT 190Được con Dạ-xoa nói như vậy, khi ấy ta đã nói với con Dạ-xoa ấy điều này: “Sao ngươi lại bôi nhọ ta với cái thây ma đê tiện và thô lỗ?
BJT 191Nếu ta nổi giận với nó, vì điều đó ta sẽ trở nên tồi tệ hơn, giới của ta có thể bị đứt, và người trí có thể khiển trách ta.
BJT 192Vả lại, sống mà hổ thẹn thì chết với sự trong sạch là cao quý. Cho dù nguyên nhân là mạng sống, không thể nào ta lại gây ra sự tổn hại cho kẻ khác?
BJT 193Trong khi suy nghĩ về những người khác là giống như ta, con khỉ này cũng sẽ hành động như thế. Chính họ sẽ giết chết nó tại nơi ấy, còn ta thì sẽ có được sự giải thoát này.
BJT 194Trong khi nhẫn nhịn sự khinh miệt ở những người kém cỏi, trung bình, hoặc cao quý, như thế bậc thiện trí đạt được theo như điều đã được mong mỏi bởi tâm ý.
Hạnh của Con Trâu Chúa là phần thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Punāparaṁ yadā homi, mahiṁso pavanacārako; Pavaḍḍhakāyo balavā, mahanto bhīmadassano.
“Then again when I was a buffalo who roamed the forest, large in body and strong, big and scary to see.
Lại một lần khác, khi ta là con trâu rừng đi lại trong rừng, có thân hình to lớn, có sức mạnh, to lớn, và có vẻ ngoài đáng sợ.
Pabbhāre giridugge ca, rukkhamūle dakāsaye; Hotettha ṭhānaṁ mahiṁsānaṁ, koci koci tahiṁ tahiṁ.
In a cave, a craggy hillside, at a tree root or a waterhole, there’d be somewhere for buffalos, in one place or another.
Ở nơi thung lũng, ở hẻm núi, ở gốc cây, và ở gần hồ nước, nơi này nơi kia có chỗ ở của các con trâu rừng.
Vicaranto brahāraññe, ṭhānaṁ addasa bhaddakaṁ; Taṁ ṭhānaṁ upagantvāna, tiṭṭhāmi ca sayāmi ca.
Wandering the mighty forest, I saw a fine spot. Having gone there, I stood and lay to rest.
Trong khi đi lại trong khu rừng lớn, ta đã thấy một nơi tốt đẹp. Sau khi đến gần nơi ấy, ta đứng và ta nằm.
Athettha kapimāgantvā, pāpo anariyo lahu; Khandhe nalāṭe bhamuke, mutteti ohadeti taṁ.
Then a monkey came along, wicked, ignoble, and nimble. On my shoulder, forehead, and eyebrows, he peed and pooed.
Khi ấy, một con khỉ xấu xa, không cao thượng, nhẹ dạ đã đến nơi này. Nó tiểu tiện và đại tiện trên vai, trên trán, và trên lông mày của ta.
Sakimpi divasaṁ dutiyaṁ, tatiyaṁ catutthampi ca; Dūseti maṁ sabbakālaṁ, tena homi upadduto.
Not just that day, but a second, a third, and a fourth; he soiled me all the time, he was harrying me.
Một ngày, rồi ngày thứ hai, thứ ba, và cả ngày thứ tư, nó luôn làm ô uế ta. Do nó, ta luôn bị quấy nhiễu.
Mamaṁ upaddutaṁ disvā, yakkho maṁ idamabravi; ‘Nāsehetaṁ chavaṁ pāpaṁ, siṅgehi ca khurehi ca’.
Seeing me being harried, a spirit said to me: ‘Kill that vile, wicked thing with your horns and hooves.’
Vị dạ-xoa, sau khi thấy ta bị quấy nhiễu, đã nói với ta lời này: ‘Hãy tiêu diệt con khỉ xấu xa, giống như xác chết này, bằng sừng và bằng móng của ngươi.’
Evaṁ vutte, tadā yakkhe, ahaṁ taṁ idamabraviṁ; ‘Kiṁ tvaṁ makkhesi kuṇapena, pāpena anariyena maṁ.
When he spoke, I said this to that spirit: ‘Why would you smear me with a wicked, ignoble carcass?
Khi vị dạ-xoa nói như vậy, ta đã nói với vị ấy lời này: ‘Tại sao ngươi lại bôi nhọ ta bằng (hành động) xấu xa, không cao thượng, giống như xác chết này?’
Yadihaṁ tassa pakuppeyyaṁ, tato hīnataro bhave; Sīlañca me pabhijjeyya, viññū ca garaheyyu maṁ.
If I were upset with him I would degrade myself, violating my ethics, and being criticized by sensible people.
‘Nếu ta nổi giận với nó, ta sẽ trở nên thấp kém hơn nó. Giới của ta sẽ bị phá vỡ, và những người có trí sẽ khiển trách ta.
Hīḷitā jīvitā vāpi, parisuddhena mataṁ varaṁ; Kyāhaṁ jīvitahetūpi, kāhāmi paraheṭhanaṁ’.
Better to die from purity than live in shame. How could I, for the sake of life, harm another?’
‘Thà chết với (giới) trong sạch còn hơn là sống một cuộc sống bị khinh miệt. Tại sao ta lại làm hại người khác, ngay cả vì mạng sống của mình?’
Mamevāyaṁ maññamāno, aññepevaṁ karissati; Teva tassa vadhissanti, sā me mutti bhavissati.
Thinking of me, this one will do the same to others, and for that they will kill him. Then I shall be free.
‘Nó sẽ nghĩ rằng ta cũng giống như nó, và sẽ làm như vậy với những người khác. Chính họ sẽ giết nó. Đó sẽ là sự giải thoát cho ta.’
Hīnamajjhimaukkaṭṭhe, sahanto avamānitaṁ; Evaṁ labhati sappañño, manasā yathāpatthitan”ti.
Forgiving disrespect from the low, middle and high, the wise one gains their heart’s desire.”
Người có trí, khi nhẫn nại chịu đựng sự khinh miệt từ những người thấp kém, trung bình, và cao thượng, sẽ đạt được điều ước nguyện trong tâm mình, đúng như đã mong muốn.
Mahiṁsarājacariyaṁ pañcamaṁ.
Hạnh Vua Trâu Rừng, hạnh thứ năm.