- Cariyāpiṭaka
- Hatthināgavagga
- Sīlapāramī 4
Cūḷabodhicariya
“Punāparaṁ yadā homi, cūḷabodhi susīlavā; Bhavaṁ disvāna bhayato, nekkhammaṁ abhinikkhamiṁ.
Bản dịch
Cūḷabodhicariya
BJT 173Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là Cullabodhi, là người có giới hạnh. Nhìn thấy hiện hữu là nguy hiểm, ta đã ra đi theo hạnh xuất ly.
BJT 174Ta có người vợ dòng dõi Bà-la-môn có nước da như vàng ròng. Cô ta cũng không mong muốn luân hồi nên đã ra đi theo hạnh xuất ly.
BJT 175Không dính mắc, thân quyến đã lìa, không mong muốn về gia đình, (hay) về đồ chúng, chúng tôi du hành qua làng mạc phố chợ và đã đi đến Bārāṇasī.
BJT 176Ở tại nơi ấy, chúng tôi đã sống khôn khéo, không cấu kết gia đình, bè đảng. Cả hai đã sống trong khu vườn của đức vua, không bị quấy rầy, ít có tiếng động.
BJT 177Đức vua đã đi đến ngoạn cảnh khu vườn và đã nhìn thấy người nữ Bà-la-môn. Ngài đã đi đến gặp ta và hỏi rằng: “Nàng ấy là vợ của khanh hay của ai?”
BJT 178Được nói như vậy, ta đã nói với đức vua lời này: “Nàng ấy không phải là vợ của thần, nàng là người đồng đạo, cùng chung giáo lý.”
BJT 179Bị ái luyến và khát khao nàng ấy, đức vua đã ra lệnh các thuộc hạ bắt giữ rồi dùng sức mạnh để ép buộc đưa nàng vào nội cung.
BJT 180Nàng là người vợ của ta theo nghi thức chạm vào bát nước, đồng thời xuất gia cùng chung giáo lý. Trong khi nàng bị lôi kéo đưa đi, sự giận dữ đã khởi lên ở ta.
BJT 181Cùng lúc khi cơn giận đã được phát khởi, ta đã nhớ lại giới cấm. Ngay tại nơi ấy, ta đã nén lại cơn giận và đã không cho bộc phát lên.
BJT 182Nếu như có ai dùng con dao bén đâm chém người nữ Bà-la-môn ấy, ta cũng không thể nào làm đứt giới với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
BJT 183Người nữ Bà-la-môn ấy không có bị ta ghét bỏ, cũng không phải là sức mạnh của ta không có. Ðối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta sẽ gìn giữ giới hạnh.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Cullabodhi là phần thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Punāparaṁ yadā homi, cūḷabodhi susīlavā; Bhavaṁ disvāna bhayato, nekkhammaṁ abhinikkhamiṁ.
“Then again when I was the very virtuous Cūḷabodhi, seeing rebirth as fearful, I renounced worldly life.
“Lại nữa, vào một dịp khác, khi ta là Cūḷabodhi, người có giới hạnh tốt đẹp, sau khi nhìn thấy sự hiện hữu là điều đáng sợ, ta đã xuất gia vì sự từ bỏ.”
Yā me dutiyikā āsi, brāhmaṇī kanakasannibhā; Sāpi vaṭṭe anapekkhā, nekkhammaṁ abhinikkhami.
She who had been my partner, a brahmin lady with golden skin, unconcerned with the cycle of rebirths, also renounced worldly life.
“Người vợ của ta, vị nữ bà-la-môn có nước da tương tự như vàng, nàng ấy cũng không còn luyến tiếc vòng luân hồi, đã xuất gia vì sự từ bỏ.”
Nirālayā chinnabandhū, anapekkhā kule gaṇe; Carantā gāmanigamaṁ, bārāṇasimupāgamuṁ.
Without clinging, cutting off family, unconcerned with family or group, we walked from village to town until we reached Varanasi.
“Không còn luyến ái, đã cắt đứt các mối ràng buộc, không còn luyến tiếc gia đình và thị tộc, trong khi đi qua các làng mạc và thị tứ, chúng tôi đã đi đến thành Bārāṇasī.”
Tattha vasāma nipakā, asaṁsaṭṭhā kule gaṇe; Nirākule appasadde, rājuyyāne vasāmubho.
There we lived alert, mixing not with a family or group. Quiet and undisturbed, we both stayed in the royal park.
Tại nơi ấy, chúng tôi là những bậc trí tuệ, sống không giao du với các gia đình và đoàn thể. Cả hai chúng tôi sống trong vườn thượng uyển của vua, nơi không bị phiền nhiễu và ít tiếng động.
Uyyānadassanaṁ gantvā, rājā addasa brāhmaṇiṁ; Upagamma mamaṁ pucchi, ‘tuyhesā kā kassa bhariyā’.
Visiting the park, the king saw the brahmin lady. He approached me and asked, ‘Is she your wife? Or whose is she?’
Đức vua đi đến để ngắm vườn thượng uyển, đã trông thấy vị nữ bà-la-môn. Sau khi đến gần ta, ngài đã hỏi: ‘Người nữ này là gì của ngươi? Là vợ của ai?’
Evaṁ vutte, ahaṁ tassa, idaṁ vacanamabraviṁ; ‘Na mayhaṁ bhariyā esā, sahadhammā ekasāsanī’.
When he said this, to him I said the following. ‘She is not my wife. We share the same teaching and belief.’
Khi được hỏi như vậy, ta đã nói lời này với vị vua ấy: ‘Người nữ này không phải là vợ của ta, là bạn đồng tu, cùng chung một giáo pháp.’
Tissā sārattagadhito, gāhāpetvāna ceṭake; Nippīḷayanto balasā, antepuraṁ pavesayi.
Infatuated with her, he had his men seize her. Compelling her by force he brought her to the royal compound.
Do tham ái và say đắm vị ấy, đức vua đã cho các thị vệ bắt giữ. Trong khi đàn áp bằng vũ lực, ngài đã cho đưa (nàng) vào hậu cung.
Odapattakiyā mayhaṁ, sahajā ekasāsanī; Ākaḍḍhitvā nayantiyā, kopo me upapajjatha.
She who became mine by touching a water-jar, born together, one in beliefs, when he dragged her away, I felt so angry.
Khi người vợ được gả cưới của ta, người bạn đồng tu, cùng chung một giáo pháp, bị lôi kéo và dẫn đi, cơn giận đã khởi lên trong ta.
Saha kope samuppanne, sīlabbatamanussariṁ; Tattheva kopaṁ niggaṇhiṁ, nādāsiṁ vaḍḍhitūpari.
Together with the arising of anger, I remembered my precepts and vows, and right there controlled my anger, I did not allow it to grow.
Ngay khi cơn giận khởi lên, ta đã nhớ lại giới và hạnh. Ngay tại nơi đó, ta đã chế ngự cơn giận, đã không để cho nó tăng trưởng thêm nữa.
Yadi naṁ brāhmaṇiṁ koci, koṭṭeyya tiṇhasattiyā; Neva sīlaṁ pabhindeyyaṁ, bodhiyāyeva kāraṇā.
If anyone were to attack that brahmin lady with a sharp knife, not even for that would I violate my ethics, because it was solely for awakening.
Nếu có ai đó đâm vị nữ bà-la-môn ấy bằng ngọn giáo sắc bén, ta cũng sẽ không phá vỡ giới, chỉ vì lý do là sự Giác ngộ.
Na mesā brāhmaṇī dessā, napi me balaṁ na vijjati; Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ, tasmā sīlānurakkhisan”ti.
I did not dislike the brahmin lady, nor did I lack the strength. But because omniscience is precious to me, that’s why I guarded my ethics.”
Đối với ta, vị nữ bà-la-môn này không phải là người đáng ghét, cũng không phải là ta không có sức mạnh. Sự Toàn giác là điều đáng quý đối với ta, do đó ta đã hộ trì giới.
Cūḷabodhicariyaṁ catutthaṁ.
Hạnh Cūḷabodhi, hạnh thứ tư.