- Cariyāpiṭaka
- Hatthināgavagga
- Sīlapāramī 3
Campeyyanāgacariya
“Punāparaṁ yadā homi, campeyyako mahiddhiko; Tadāpi dhammiko āsiṁ, sīlabbatasamappito.
Bản dịch
Campeyyanāgacariya
BJT 167Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là Campeyyaka có đại thần lực. Vào thời ấy, ta cũng đã là người nghiêm túc, hành trì giới cấm.
BJT 168Cũng vào khi ấy, trong khi ta là người hành pháp đang thực hành ngày trai giới, một người luyện rắn đã tóm bắt lấy ta rồi đã bắt ta làm trò vui ở cổng hoàng cung.
BJT 169Gã ấy nghĩ về màu nào, xanh, vàng, hoặc đỏ, còn ta, trong khi biến đổi theo ý nghĩ của gã ấy, trở thành (có màu sắc) giống như đã được suy nghĩ (bởi người ấy).
BJT 170Ta có thể biến đất thành nước, và cũng có thể biến nước thành đất. Nếu ta nổi giận đối với gã ấy, ta có thể biến (gã ấy) trở thành tro bụi trong một sát-na.
BJT 171Nếu như ta thể hiện năng lực của tâm, ta sẽ từ bỏ giới; (và) mục đích tối thượng không được thành tựu đến người từ bỏ giới.
BJT 172Dầu sao đi nữa, hãy để thân xác này bị tan vỡ, hãy để nó bị phân tán ở ngay đây; trong khi bị tan tác giống như bụi phấn, ta cũng không thể nào làm đứt giới.
Hạnh của Con Rồng Campeyya là phần thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Punāparaṁ yadā homi, campeyyako mahiddhiko; Tadāpi dhammiko āsiṁ, sīlabbatasamappito.
“Then again when I was Campeyyaka, a dragon of great psychic power, I was just, furnished with precepts and vows.
“Lại nữa, vào một dịp khác, khi ta là Campeyyaka có nhiều thần lực, ngay khi ấy ta cũng là người sống đúng theo Chánh Pháp, người được trang bị giới và hạnh nguyện.”
Tadāpi maṁ dhammacāriṁ, upavutthaṁ uposathaṁ; Ahituṇḍiko gahetvāna, rājadvāramhi kīḷati.
Then the snake-charmer who caught me lived righteously, observing the Sabbath, and he made me perform at the royal gate.
“Ngay khi ấy, người bắt rắn đã bắt lấy ta, là người đang thực hành Chánh Pháp, đang tuân thủ ngày trai giới, rồi cho (ta) biểu diễn ở cổng hoàng cung.”
Yaṁ yaṁ so vaṇṇaṁ cintayi, nīlaṁva pītalohitaṁ; Tassa cittānuvattanto, homi cintitasannibho.
Whatever color he thought of—blue, yellow, or red—I conformed to his wish, taking the appearance of his thought.
“Bất cứ màu sắc nào mà y nghĩ đến, hoặc là màu xanh, hoặc là màu vàng, màu đỏ, ta đều chiều theo tâm của y, trở thành tương tự như điều được suy nghĩ.”
Thalaṁ kareyyamudakaṁ, udakampi thalaṁ kare; Yadihaṁ tassa pakuppeyyaṁ, khaṇena chārikaṁ kare.
I could turn dry land to water, and water to dry land. If I were upset with him I could reduce him to ash in an instant.
“Ta có thể biến đất liền thành nước, và cũng có thể biến nước thành đất liền. Nếu ta nổi giận với y, trong khoảnh khắc ta có thể biến (y) thành tro bụi.”
Yadi cittavasī hessaṁ, parihāyissāmi sīlato; Sīlena parihīnassa, uttamattho na sijjhati.
If I was under the sway of my thoughts, I would have fallen from my ethics. But one who has fallen from their ethics does not succeed at the highest goal.
“Nếu ta làm theo ý muốn của tâm, ta sẽ bị suy thoái về giới hạnh. Đối với người bị suy thoái về giới hạnh, mục đích tối thượng sẽ không được thành tựu.”
Kāmaṁ bhijjatuyaṁ kāyo, idheva vikirīyatu; Neva sīlaṁ pabhindeyyaṁ, vikirante bhusaṁ viyā”ti.
Gladly, let this body be broken! Let it be scattered in this very place! Not even for that would I break my ethics, if it were being scattered like hay.”
“Cứ mặc cho thân này bị tan vỡ, cứ mặc cho nó bị phân tán ngay tại đây. Ta sẽ không bao giờ phá vỡ giới hạnh, dẫu cho (thân này) bị phân tán như là trấu.”
Campeyyanāgacariyaṁ tatiyaṁ.
Hạnh của vua rắn Campeyya, (phẩm) thứ ba.