- Cariyāpiṭaka
- Hatthināgavagga
- Sīlapāramī 2
Bhūridattacariya
“Punāparaṁ yadā homi, bhūridatto mahiddhiko; Virūpakkhena mahāraññā, devalokamagañchahaṁ.
Bản dịch
Bhūridattacariya
BJT 158Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là Bhūridatta có đại thần lực. Ta đã đi đến cõi trời cùng với vị Đại Vương Virūpakkha.
BJT 159Sau khi nhìn thấy chư thiên ở tại nơi ấy được thọ hưởng an lạc trọn vẹn, ta đã thọ trì giới cấm nhằm mục đích đi đến cõi trời ấy.
BJT 160Sau khi làm phận sự đối với cơ thể và thọ dụng chỉ đủ để nuôi sống, ta đã quyết định về bốn chi phần (của cơ thể) rồi đã nằm ở trên đỉnh của gò mối.
BJT 161Đối với người nào có việc cần dùng đến da ngoài, da trong, thịt, các sợi gân, hoặc các khúc xương (ở cơ thể ta), chính vì là vật đã được bố thí nên hãy để người ấy mang đi.
BJT 162Khi ta đang nằm, kẻ vô ơn Ālambana đã nắm lấy ta ném vào trong giỏ rồi đã bắt ta làm trò vui ở nơi này nơi khác.
BJT 163Ngay cả trong khi ông ấy ném (ta) vào giỏ, thậm chí trong khi ông ấy dùng bàn tay đè bẹp (ta) xuống, ta không giận dữ đối với Ālambana vì ta có nỗi lo sợ bị đứt giới.
BJT 164Sự xả bỏ sanh mạng bản thân của ta là nhẹ hơn cọng cỏ. Sự phá giới đối với ta tương tợ như việc đảo ngược trái đất.
BJT 165Liên tục một trăm kiếp sống, ta có thể xả bỏ mạng sống của ta chứ không thể nào làm đứt giới cho dù là vì nguyên nhân (làm vua cai trị) bốn châu lục.
BJT 166Hơn nữa, vì gìn giữ giới để làm viên mãn sự toàn hảo về giới, ta không làm thay đổi tâm ý trong khi (Ālambana) ném (ta) vào trong giỏ.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Bhūridatta là phần thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Punāparaṁ yadā homi, bhūridatto mahiddhiko; Virūpakkhena mahāraññā, devalokamagañchahaṁ.
“Then again when I was Bhūridatta, a dragon of great psychic power, together with Virūpakkha the Great King I went to a heavenly realm.
“Lại nữa, vào một dịp khác, khi ta là Bhūridatta có nhiều thần lực, ta đã đi đến cõi trời cùng với đại vương Virūpakkha.”
Tattha passitvāhaṁ deve, ekantaṁ sukhasamappite; Taṁ saggagamanatthāya, sīlabbataṁ samādiyiṁ.
There I saw gods wholly given over to pleasure. For the sake of going to that heaven, I undertook the observance of ethics.
“Ở nơi ấy, sau khi nhìn thấy các vị trời hoàn toàn được an hưởng hạnh phúc, ta đã thọ trì giới và hạnh nguyện để được đi đến cõi trời ấy.”
Sarīrakiccaṁ katvāna, bhutvā yāpanamattakaṁ; Caturo aṅge adhiṭṭhāya, semi vammikamuddhani.
After tending to my physical needs, and eating enough to get by, I resolved on the four factors, and lay down atop a termite mound, thinking:
“Sau khi làm xong các phận sự của thân thể, sau khi ăn vừa đủ để sống, ta đã quyết tâm về bốn yếu tố rồi nằm nghỉ trên đỉnh của một gò mối.”
‘Chaviyā cammena maṁsena, Nahāruaṭṭhikehi vā; Yassa etena karaṇīyaṁ, Dinnaṁyeva harātu so’.
‘My outer skin and inner, flesh, sinews and bones: whoever has use for these, they are already given, please take them.’
“‘Ai có việc cần dùng đến lớp da ngoài, lớp da trong, thịt, gân, hoặc xương, người ấy hãy lấy đi. (Những thứ ấy) đã được cho rồi.’”
Saṁsito akataññunā, ālampāyano mamaggahi; Peḷāya pakkhipitvāna, kīḷeti maṁ tahiṁ tahiṁ.
While lying there the ingrate Ālampāyana grabbed me. He threw me in a basket and made me perform in places all over.
“Được một người vô ơn chỉ điểm, người bắt rắn đã bắt lấy ta. Sau khi cho vào trong giỏ, y đã khiến ta biểu diễn ở khắp nơi.”
Peḷāya pakkhipantepi, sammaddantepi pāṇinā; Ālampāyane na kuppāmi, sīlakhaṇḍabhayā mama.
Though thrown in a basket and crushed by his hands, I did not get upset with Ālampāyana, for fear of breaking my ethics.
“Dầu cho bị bỏ vào trong giỏ, dầu cho bị tay y nghiền nát, ta đã không nổi giận với người bắt rắn, vì ta lo sợ giới bị tổn hại.”
Sakajīvitapariccāgo, tiṇato lahuko mama; Sīlavītikkamo mayhaṁ, pathavīuppatanaṁ viya.
To give up my own life was as light as a blade of grass. To transgress my ethical principles was like overturning the earth.
“Đối với ta, việc từ bỏ mạng sống của mình còn nhẹ hơn cọng cỏ; đối với ta, việc vi phạm giới hạnh giống như việc lật tung trái đất.”
Nirantaraṁ jātisataṁ, cajeyyaṁ mama jīvitaṁ; Neva sīlaṁ pabhindeyyaṁ, catuddīpāna hetupi.
In a hundred successive lives I would give up my own life. I would not even violate my ethics for the sake of the four continents.
“Ta có thể từ bỏ mạng sống của mình trong một trăm kiếp sống liên tục, nhưng ta sẽ không bao giờ phá vỡ giới hạnh, dẫu là vì (việc cai trị) bốn châu thiên hạ.”
Api cāhaṁ sīlarakkhāya, Sīlapāramipūriyā; Na karomi citte aññathattaṁ, Pakkhipantampi peḷake”ti.
For the sake of protecting ethics, and fulfilling my perfection of ethics, I did not let my mind change, even when thrown in a basket.”
“Và tuy nhiên, ta vì mục đích giữ gìn giới hạnh, vì mục đích hoàn thiện ba-la-mật về giới, đã không khởi lên tâm niệm khác lạ, dẫu cho bị bỏ vào trong giỏ.”
Bhūridattacariyaṁ dutiyaṁ.
Hạnh của ngài Bhūridatta, (phẩm) thứ hai.