- Cariyāpiṭaka
- Hatthināgavagga
- Sīlapāramī 1
Mātuposakacariya
“Yadā ahosiṁ pavane, kuñjaro mātuposako; Na tadā atthi mahiyā, guṇena mama sādiso.
Bản dịch
Mātuposakacariya
BJT 148Vào lúc ta là con voi nuôi dưỡng voi mẹ ở trong rừng rậm. Lúc bấy giờ, ở trên trái đất không có người tương đương với ta về giới đức.
BJT 149Có người đi rừng, sau khi nhìn thấy ta ở khu rừng rậm, đã thông báo với đức vua rằng: “Tâu đại vương, có con voi được xứng đáng với ngài đang sống ở trong rừng.
BJT 150Không cần phải gây thương tích cho nó, cũng không cần đến cọc trói và hầm hố. Khi được nắm ở vòi của chính nó, tự thân nó sẽ đi đến chỗ này.”
BJT 151Nghe được lời nói ấy của ông ta, ngay cả đức vua cũng có tâm trí hớn hở và đã phái đi người thuần hóa voi, là bậc thầy kinh nghiệm, đã được huấn luyện rành rẽ.
BJT 152Sau khi đi đến, người thuần hóa voi ấy đã nhìn thấy (ta), ở trong hồ sen, đang nhổ lên rễ và ngó sen nhằm mục đích nuôi dưỡng mẹ.
BJT 153Biết được giới đức của ta, người này đã xác định các đặc điểm và đã nói rằng: “Này con trai, hãy đi đến,” rồi đã nắm chặt cái vòi của ta.
BJT 154Khi ấy, sức mạnh tự nhiên đồng hành với cơ thể của ta là tương đương với sức mạnh của một ngàn con voi ngày hôm nay.
BJT 155Nếu ta nổi cơn giận dữ với những người đã đi đến để bắt ta, ta có thừa khả năng đối với bọn họ, thậm chí luôn cả vương quốc của những người ấy nữa.
BJT 156Hơn nữa, vì gìn giữ giới để làm viên mãn sự toàn hảo về giới, ta không làm thay đổi tâm ý trong khi họ xô đẩy ta vào cây cọc trói.
BJT 157Nếu bọn họ có làm tổn thương ta bằng những cái rìu và những cây thương, ta cũng chẳng nổi cơn giận dữ đối với bọn họ vì ta có nỗi lo sợ bị đứt giới.
Hạnh của Vị Nuôi Dưỡng Mẹ là phần thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Yadā ahosiṁ pavane, kuñjaro mātuposako; Na tadā atthi mahiyā, guṇena mama sādiso.
“Once I lived in the forest as an elephant who provided for his mother. At that time no one on earth could equal my virtues.
Khi ta là một con voi chúa nuôi dưỡng mẹ trong rừng lớn, vào thời ấy, trên mặt đất không có ai có đức hạnh tương đương với ta.
Pavane disvā vanacaro, rañño maṁ paṭivedayi; ‘Tavānucchavo mahārāja, gajo vasati kānane.
Seeing me in the forest, a forester informed the king about me. ‘Great King, an elephant that befits you is dwelling in the forest grove.
Một người thợ săn, sau khi thấy ta trong rừng lớn, đã tâu với vua rằng: 'Tâu đại vương, có một con voi xứng đáng với ngài đang sống trong rừng.'
Na tassa parikkhāyattho, napi āḷakakāsuyā; Saha gahite soṇḍāya, sayameva idhehi’ti.
No need to dig a moat around him, nor tether him to a post in a pit. Taken by the trunk, he will come here by himself.’
'Không cần phải bắt nó bằng cách đào hào, cũng không cần dùng voi mồi hay đào hố bẫy. Ngay khi được nắm lấy vòi, nó sẽ tự mình đến đây'.
Tassa taṁ vacanaṁ sutvā, rājāpi tuṭṭhamānaso; Pesesi hatthidamakaṁ, chekācariyaṁ susikkhitaṁ.
When he heard these words, the king, elated, sent an elephant-tamer, a well-trained and expert tutor.
Nhà vua, sau khi nghe lời nói ấy của người thợ săn, với tâm hoan hỷ, đã phái đi một người thầy thuần dưỡng voi khéo léo, được huấn luyện kỹ càng.
Gantvā so hatthidamako, addasa padumassare; Bhisamuḷālaṁ uddharantaṁ, yāpanatthāya mātuyā.
When the elephant-tamer reached there, he saw me in a lotus pond, pulling out lotus roots to feed my mother.
“Người nài voi ấy, sau khi đi đến, đã trông thấy (ta) đang nhổ ngó sen và củ sen trong hồ sen để nuôi dưỡng mẹ.”
Viññāya me sīlaguṇaṁ, lakkhaṇaṁ upadhārayi; ‘Ehi puttā’ti vatvāna, mama soṇḍāya aggahi.
Discerning my moral virtue, he checked me for marks. Saying, ‘Come, child’, he took me by the trunk.
“Sau khi nhận biết đức hạnh về giới của ta, (y) đã xem xét tướng tốt. Sau khi nói rằng: ‘Này con, hãy lại đây,’ y đã nắm lấy vòi của ta.”
Yaṁ me tadā pākatikaṁ, sarīrānugataṁ balaṁ; Ajja nāgasahassānaṁ, balena samasādisaṁ.
What was at that time the natural strength of my body, would equal a thousand of the elephants of today.
“Sức lực tự nhiên của ta, vốn có sẵn trong thân thể vào lúc bấy giờ, ngày nay cũng tương đương và ngang bằng với sức lực của một ngàn con voi.”
Yadihaṁ tesaṁ pakuppeyyaṁ, upetānaṁ gahaṇāya maṁ; Paṭibalo bhave tesaṁ, yāva rajjampi mānusaṁ.
If I had been upset with those who came to capture me, I would have had the power to defeat even a kingdom of men.
“Nếu ta nổi giận với những người ấy, là những kẻ đã đến gần để bắt ta, ta có thể có khả năng (nghiền nát) bọn họ, cho đến cả vương quốc cùng với dân chúng.”
Api cāhaṁ sīlarakkhāya, Sīlapāramipūriyā; Na karomi citte aññathattaṁ, Pakkhipantaṁ mamāḷake.
Nevertheless, for the sake of guarding my ethics, and fulfilling my perfection of ethics, I did not let my mind change, even as they caged me.
“Và tuy nhiên, ta vì mục đích giữ gìn giới hạnh, vì mục đích hoàn thiện ba-la-mật về giới, đã không khởi lên tâm niệm khác lạ, (ngay cả khi y) đang cột ta vào cọc.”
Yadi te maṁ tattha koṭṭeyyuṁ, pharasūhi tomarehi ca; Neva tesaṁ pakuppeyyaṁ, sīlakhaṇḍabhayā mamā”ti.
And even were they to beat me with hatchets and lances, I would never become upset, for fear of violating my ethics.”
“Nếu ở nơi ấy, họ có thể dùng búa và lao mà đâm chém ta, ta cũng sẽ không nổi giận với họ, vì ta lo sợ giới bị tổn hại.”
Mātuposakacariyaṁ paṭhamaṁ.
Hạnh nuôi dưỡng mẹ, (phẩm) thứ nhất.