Bản dịch
CND 23 — Diễn Giải Kinh Sừng Tê Ngưu
Khaggavisāṇasuttaniddesa
Buông bỏ việc hành hạ đối với tất cả chúng sanh, không hãm hại bất cứ ai trong số họ, không ước muốn con cái, sao lại (ước muốn) bạn bè? nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một).
1. “ Có tham ái là bạn lữ, trong khi luân chuyển một thời gian dài đến cõi này và cõi khác, con người không vượt qua được luân hồi.
2. Sau khi biết được sự bất lợi như vậy, (biết được) tham ái là nguồn sanh khởi của khổ, vị tỳ khưu, đã xa lìa tham ái, không có nắm giữ, có niệm, nên ra đi du phương .”
3. “ Vị nhìn thấy sự tiêu hoại và chấm dứt của sanh, có lòng thương tưởng đến điều lợi ích, nhận biết con đường độc đạo. Trong thời quá khứ các vị đã vượt qua, (trong thời vị lai) các vị sẽ vượt qua, và (trong thời hiện tại) các vị đang vượt qua dòng lũ bằng con đường này .”
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Buông bỏ việc hành hạ đối với tất cả chúng sanh,
không hãm hại bất cứ ai trong số họ,
không ước muốn con cái, sao lại (ước muốn) bạn bè?
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Đối với người đã có sự giao tiếp, các sự thương yêu hiện hữu;
theo sau sự thương yêu là khổ đau này được hình thành.
Trong khi xét thấy điều bất lợi sanh lên từ sự thương yêu,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
1. (Đại địa ngục) có bốn góc, có bốn cửa lớn, được chia thành các phần cân đối, được bao quanh bằng tường sắt, được đậy lại bằng mái sắt .
2. Nền của (đại địa ngục) làm bằng sắt, được thiêu đốt, cháy với lửa ngọn, luôn luôn tỏa khắp và tồn tại xung quanh một trăm do-tuần .
3. (Các đại địa ngục) có sự đốt nóng khổ sở, ghê rợn, có ngọn lửa khó lại gần, có hình dạng làm rởn lông, ghê rợn, gây ra sự sợ hãi, khó chịu .
4. Khối lửa được phát khởi ở bức tường hướng đông, trong khi thiêu đốt những kẻ có ác nghiệp, đi đến chạm vào (khối lửa) ở hướng tây .
5. Khối lửa được phát khởi ở bức tường hướng tây, trong khi thiêu đốt những kẻ có ác nghiệp, đi đến chạm vào (khối lửa) ở hướng đông .
6. Khối lửa được phát khởi ở bức tường hướng bắc, trong khi thiêu đốt những kẻ có ác nghiệp, đi đến chạm vào (khối lửa) ở hướng nam .
7. Khối lửa được phát khởi ở bức tường hướng nam, trong khi thiêu đốt những kẻ có ác nghiệp, đi đến chạm vào (khối lửa) ở hướng bắc .
8. Khối lửa khủng khiếp phát xuất từ bên dưới, trong khi thiêu đốt những kẻ có ác nghiệp, đi đến chạm vào (khối lửa) ở mái che (bên trên) .
9. Khối lửa khủng khiếp phát xuất từ mái che, trong khi thiêu đốt những kẻ có ác nghiệp, đi đến chạm vào (khối lửa) ở mặt đất (bên dưới) .
10. Cái chảo sắt đã được đốt cháy, nóng đỏ, sáng chói như thế nào thì địa ngục Avīci, ở bên dưới, bên trên, và bên hông là như vậy .
11. Ở nơi ấy, những chúng sanh vô cùng hung dữ, đã gây ra trọng tội, có hành động cực kỳ ác độc, bị nung nấu và không thể chết đi .
12. Thân thể của họ, những cư dân ở địa ngục, giống như ngọn lửa. Hãy nhìn xem tính chất vững bền của nghiệp, không như tro, cũng không như bụi .
13. Họ chạy về hướng đông, rồi từ đó chạy về hướng tây. Họ chạy về hướng bắc, rồi từ đó họ chạy về hướng nam .
14. Họ chạy đến bất cứ hướng nào, cánh cửa hướng ấy đều được đóng lại. Với niềm mong mỏi được thoát ra, các chúng sanh ấy có sự tìm kiếm lối thoát .
15. Họ không thể đi ra khỏi nơi ấy bởi vì nghiệp duyên, khi ác nghiệp của họ đã tạo có nhiều và còn chưa trả xong .”
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Đối với người đã có sự giao tiếp, các sự thương yêu hiện hữu;
theo sau sự thương yêu là khổ đau này được hình thành.
Trong khi xét thấy điều bất lợi sanh lên từ sự thương yêu,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Trong khi thương tưởng đến các bạn bè thân hữu,
(thời) bê trễ điều lợi ích, có tâm bị ràng buộc.
Trong khi xét thấy nỗi sợ hãi này ở sự thân thiết,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng: “ Trong khi thương tưởng đến các bạn bè thân hữu, (thời) bê trễ điều lợi ích, có tâm bị ràng buộc. Trong khi xét thấy nỗi sợ hãi này ở sự thân thiết, nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Giống như cây tre rậm rạp bị vướng víu,
sự mong mỏi (yêu thương) các con và những người vợ (là tương tự).
Trong khi không bị vướng víu như là mụt măng tre,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Giống như cây tre rậm rạp bị vướng víu,
sự mong mỏi (yêu thương) các con và những người vợ (là tương tự).
Trong khi không bị vướng víu như là mụt măng tre,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Giống như con nai ở trong rừng, không bị trói buộc,
đi đến nơi kiếm ăn tùy theo ý thích,
người hiểu biết, trong khi xem xét về sự độc lập,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Giống như con nai ở trong rừng, không bị trói buộc,
đi đến nơi kiếm ăn tùy theo ý thích,
người hiểu biết, trong khi xem xét về sự độc lập,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Có sự mời gọi giữa bạn bè về chuyện nghỉ ngơi, về việc đứng gần, về sự ra đi, về cuộc du hành, trong khi xem xét về sự độc lập không được (kẻ khác) ham thích, [1] nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
[1] Sự xuất gia là không được ham thích, không được mong ước bởi tất cả những kẻ tầm thường đã bị tham chế ngự (SnA. i, 85).
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Có sự mời gọi giữa bạn bè
về chuyện nghỉ ngơi, về việc đứng gần, về sự ra đi, về cuộc du hành,
trong khi xem xét về sự độc lập không được (kẻ khác) ham thích,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Có sự đùa giỡn, sự vui thích ở giữa đám bạn bè,
và lòng thương yêu đối với con cái là bao la.
Trong khi chán ghét sự chia lìa với những vật yêu mến,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Có sự đùa giỡn, sự vui thích ở giữa đám bạn bè,
và lòng thương yêu đối với con cái là bao la.
Trong khi chán ghét sự chia lìa với những vật yêu mến,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Vị (sống an lạc) khắp cả bốn phương, không có lòng bất bình,
tự biết đủ với bất luận vật dụng nào dầu tốt hay xấu,
chịu đựng các hiểm họa, không có kinh hãi,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
1. Tham là sự sanh ra điều không lợi ích, tham là sự rối loạn của tâm. Người đời không thấu hiểu sự nguy hiểm ấy đã được sanh ra từ bên trong .
2. Người bị khởi tham không biết được sự tấn hóa, người bị khởi tham không nhìn thấy lý lẽ. Tham khống chế người nào, lúc ấy có sự mù quáng tối tăm hiện diện .
3. Sân là sự sanh ra điều không lợi ích, sân là sự rối loạn của tâm. Người đời không thấu hiểu sự nguy hiểm ấy đã được sanh ra từ bên trong .
4. Người bị nóng giận không biết được sự tấn hóa, người bị nóng giận không nhìn thấy lý lẽ. Sự nóng giận khống chế người nào, lúc ấy có sự mù quáng tối tăm hiện diện .
5. Si là sự sanh ra điều không lợi ích, si là sự rối loạn của tâm. Người đời không thấu hiểu sự nguy hiểm ấy đã được sanh ra từ bên trong .
6. Người bị si mê không biết được sự tấn hóa, người bị si mê không nhìn thấy lý lẽ. Si khống chế người nào, lúc ấy có sự mù quáng tối tăm hiện diện .
Các hiểm họa là vì ‘nơi ấy là chỗ trú’ còn là như vậy.
7. “ Tham sân và si, hiện hữu ở bản thân, hãm hại người có tâm ý xấu xa, tựa như việc kết trái hãm hại cây tre .”
Các hiểm họa là vì ‘nơi ấy là chỗ trú’ còn là như vậy.
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
8. “ Luyến ái và sân hận có căn nguyên từ nơi (bản ngã) này.
Ghét, thương, sự rởn lông sanh lên từ nơi (bản ngã) này.
Sự suy tư của tâm có nguồn sanh khởi từ nơi (bản ngã) này,
tựa như những bé trai buông lơi con quạ (bị cột chân bởi sợi chỉ dài) .”
Các hiểm họa là vì ‘nơi ấy là chỗ trú’ còn là như vậy.
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Vị (sống an lạc) khắp cả bốn phương, không có lòng bất bình,
tự biết đủ với bất luận vật dụng nào dầu tốt hay xấu,
chịu đựng các hiểm họa, không có kinh hãi,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Ngay cả một số các vị đã xuất gia cũng có sự khó tiếp độ,
những kẻ tại gia đang sống dưới mái gia đình cũng vậy.
Là người ít bị bận tâm về con cái của những kẻ khác,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Ngay cả một số các vị đã xuất gia cũng có sự khó tiếp độ,
những kẻ tại gia đang sống dưới mái gia đình cũng vậy.
Là người ít bị bận tâm về con cái của những kẻ khác,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Sau khi cởi bỏ các hình tướng tại gia
như loài cây koviḷāra có lá đã được rũ bỏ,
là bậc anh hùng, sau khi cắt đứt các sự trói buộc của gia đình,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
“ Vị đã lánh xa tất cả các việc ác xấu ở đời này, đã vượt qua sự khổ đau ở địa ngục, có tinh tấn là nơi cư ngụ, vị ấy có sự nỗ lực, anh hùng, tự tại, có bản thể như thế, được gọi là ‘bậc có sự tinh tấn. ”
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Sau khi cởi bỏ các hình tướng tại gia
như loài cây koviḷāra có lá đã được rũ bỏ,
là bậc anh hùng, sau khi cắt đứt các sự trói buộc của gia đình,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Phẩm Thứ Nhất.
Nếu có thể đạt được người bạn chín chắn, người đồng hành sáng trí, có sự an trú tốt đẹp, sau khi đã khắc phục mọi hiểm họa, nên du hành với vị ấy, có sự hài lòng, có niệm.
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Nếu có thể đạt được người bạn chín chắn,
người đồng hành sáng trí, có sự an trú tốt đẹp,
sau khi đã khắc phục mọi hiểm họa,
nên du hành với vị ấy, có sự hài lòng, có niệm .”
Nếu không thể đạt được người bạn chín chắn,
người đồng hành sáng trí, có sự an trú tốt đẹp,
tương tự như vị vua dứt bỏ lãnh địa đã xâm chiếm được,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Nếu không thể đạt được người bạn chín chắn,
người đồng hành sáng trí, có sự an trú tốt đẹp,
tương tự như vị vua dứt bỏ lãnh địa đã xâm chiếm được,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Đương nhiên, chúng ta ca ngợi sự thành tựu về bạn hữu. Những bạn hữu vượt trội (hoặc) tương đương là nên giao thiệp. Không đạt được những vị này, (nên) là người thọ dụng không bị chê trách, nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Đương nhiên, chúng ta ca ngợi sự thành tựu về bạn hữu. Những bạn hữu vượt trội (hoặc) tương đương là nên giao thiệp. Không đạt được những vị này, (nên) là người thọ dụng không bị chê trách, nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Sau khi nhìn thấy những (vòng) vàng sáng chói
khéo được hoàn thành bởi con trai người thợ kim hoàn,
hai vòng ở trên cùng cánh tay đang va chạm vào nhau,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Sau khi nhìn thấy những (vòng) vàng sáng chói
khéo được hoàn thành bởi con trai người thợ kim hoàn,
hai vòng ở trên cùng cánh tay đang va chạm vào nhau,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Tương tự như thế, cùng với bạn lữ, có thể xảy đến cho ta
sự chuyện vãn bằng lời nói, hoặc sự quyến luyến sâu đậm.
Trong khi xét thấy nỗi sợ hãi này trong tương lai,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
“ Có tham ái là bạn lữ, trong khi luân chuyển một thời gian dài đến sự hiện hữu này và sự hiện hữu khác, con người không vượt qua được luân hồi. ”
Có tham ái là bạn lữ nghĩa là như vậy.
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Tương tự như thế, cùng với bạn lữ, có thể xảy đến cho ta
sự chuyện vãn bằng lời nói, hoặc sự quyến luyến sâu đậm.
Trong khi xét thấy nỗi sợ hãi này trong tương lai,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Bởi vì các dục là đa dạng, ngọt ngào, làm thích ý,
chúng khuấy động tâm bằng nhiều hình thức khác nhau.
Sau khi nhìn thấy điều bất lợi ở các loại dục,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Bởi vì các dục là đa dạng, ngọt ngào, làm thích ý,
chúng khuấy động tâm bằng nhiều hình thức khác nhau.
Sau khi nhìn thấy điều bất lợi ở các loại dục,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Điều này là tai họa, là ung nhọt, là bất hạnh, là tật bệnh, là mũi tên, và là sự nguy hiểm cho ta. Sau khi nhìn thấy mối nguy hiểm này ở các loại dục, nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
1. “ Sợ hãi và khổ đau, và tật bệnh, và ung nhọt, và mũi tên, và sự quyến luyến, và đắm nhiễm, và bào thai, theo từng đôi một , –
2. – các từ này nói về các dục, là nơi kẻ phàm phu bị dính mắc, bị đi xuống bởi hình thức lạc thú, rồi đi đến ở bào thai lần nữa .
3. Còn vị tỳ khưu đã được kiềm chế, có nhiệt tâm, không bỏ bê sự nhận biết rõ, vị như thế ấy vượt qua con đường lầy lội khó đi này, và xem xét loài người đang run rẩy đi đến sanh và già ;”
- ‘điều này là tai họa, là ung nhọt, là bất hạnh, là tật bệnh, là mũi tên, và là sự nguy hiểm cho ta’ là như thế.
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Điều này là tai họa, là ung nhọt, là bất hạnh, là tật bệnh, là mũi tên, và là sự nguy hiểm cho ta. Sau khi nhìn thấy mối nguy hiểm này ở các loại dục, nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Lạnh, nóng, đói, và khát,
gió và sức nóng, muỗi mòng và loài bò sát,
sau khi đã khắc phục tất cả những điều này,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Lạnh, nóng, đói, và khát,
gió và sức nóng, muỗi mòng và loài bò sát,
sau khi đã khắc phục tất cả những điều này,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Tựa như con long tượng đã lìa bỏ các bầy đàn,
có thân hình đã được phát triển, có đốm hoa sen, cao thượng,
đang cư ngụ trong rừng theo như ý thích,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
(Đức Thế Tôn nói: “Này Sabhiya,) vị không làm bất cứ điều tội lỗi nào ở thế gian, sau khi tháo gở tất cả các sự ràng buộc (và) các sự trói buộc, không bám víu vào bất cứ nơi đâu, đã được giải thoát, vị tự tại, có bản thể như thế, được gọi là ‘bậc Long Tượng. ’”
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Tựa như con long tượng đã lìa bỏ các bầy đàn,
có thân hình đã được phát triển, có đốm hoa sen, cao thượng,
đang cư ngụ trong rừng theo như ý thích,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Người ưa thích đồ chúng có thể chạm đến sự giải thoát tạm thời [1] là điều không có cơ sở. Sau khi cân nhắc lời nói của đấng quyến thuộc mặt trời, nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
[1] sāmayikaṃ vimuttinti lokiyasamāpattiṃ : sự giải thoát tạm thời là sự thể nhập hiệp thế, tức là các tầng thiền và ngũ thông (SnA. i, 105).
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Người ưa thích đồ chúng có thể chạm đến sự giải thoát tạm thời là điều không có cơ sở. Sau khi cân nhắc lời nói của đấng quyến thuộc mặt trời, nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Phẩm Thứ Nhì.
(Biết rằng): ‘Ta đã vượt lên trên các sự trái khuấy của tà kiến,
đã đạt đến pháp bền vững, có Đạo đã được tiếp nhận,
có trí đã được sanh khởi, không cần người khác dẫn dắt,’
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“(Biết rằng): ‘Ta đã vượt lên trên các sự trái khuấy của tà kiến,
đã đạt đến pháp bền vững, có Đạo đã được tiếp nhận,
có trí đã được sanh khởi, không cần người khác dẫn dắt,’
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Không tham lam, không lừa gạt, không khao khát, không gièm pha, đã dứt trừ các khuyết tật và sự si mê, sau khi đã trở nên không còn ước ao (tham vọng) về tất cả thế gian, nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Không tham lam, không lừa gạt, không khao khát, không gièm pha, đã dứt trừ các khuyết tật và sự si mê, sau khi đã trở nên không còn ước ao (tham vọng) về tất cả thế gian, nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Nên lánh xa hẳn người bạn ác xấu, kẻ không nhìn thấy mục đích, đã lún sâu vào (sở hành) sai trái. Bản thân không nên giao thiệp với kẻ bị đeo níu (ở các dục), bị xao lãng, nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Nên lánh xa hẳn người bạn ác xấu,
kẻ không nhìn thấy mục đích, đã lún sâu vào (sở hành) sai trái.
Bản thân không nên giao thiệp với kẻ bị đeo níu (ở các dục), bị xao lãng,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Nên thân cận với vị nghe nhiều (học rộng), vị nắm giữ Giáo Pháp, người bạn cao thượng, sáng trí. Sau khi hiểu thông về các lợi ích, nên dẹp bỏ sự nghi hoặc, nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Nên thân cận với vị nghe nhiều (học rộng), vị nắm giữ Giáo Pháp,
người bạn cao thượng, sáng trí.
Sau khi hiểu thông về các lợi ích, nên dẹp bỏ sự nghi hoặc,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Người không trông ngóng và không mong mỏi
sự đùa giỡn, sự vui thích, và khoái lạc ngũ dục ở thế gian,
đã xa lánh hẳn việc trang điểm, có lời nói chân thật,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Người không trông ngóng và không mong mỏi
sự đùa giỡn, sự vui thích, và khoái lạc ngũ dục ở thế gian,
đã xa lánh hẳn việc trang điểm, có lời nói chân thật,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Sau khi từ bỏ con và vợ, cha và mẹ, các tài sản và lúa đậu, các quyến thuộc, và các dục theo mức giới hạn (của chúng), nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Sau khi từ bỏ con và vợ, cha và mẹ, các tài sản và lúa đậu, các quyến thuộc, và các dục theo mức giới hạn (của chúng), nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Điều này (ngũ dục) là sự quyến luyến, hạnh phúc ở đây là nhỏ nhoi, ít khoái lạc, sự khổ đau ở đây là nhiều hơn. Người có sự nhận thức, sau khi biết được ‘điều này là móc câu,’ nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Điều này (ngũ dục) là sự quyến luyến, hạnh phúc ở đây là nhỏ nhoi,
ít khoái lạc, sự khổ đau ở đây là nhiều hơn.
Người có sự nhận thức, sau khi biết được ‘điều này là móc câu,’
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Sau khi phá tan hoàn toàn các sự ràng buộc,
tựa như loài thủy tộc đã phá tan chiếc lưới ở trong nước,
tựa như ngọn lửa không quay lại nơi đã bị đốt cháy,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Sau khi phá tan hoàn toàn các sự ràng buộc,
tựa như loài thủy tộc đã phá tan chiếc lưới ở trong nước,
tựa như ngọn lửa không quay lại nơi đã bị đốt cháy,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Có mắt nhìn xuống, và không buông thả bàn chân (đi đó đây),
có giác quan được bảo vệ, có tâm ý được hộ trì,
không bị nhiễm dục vọng, không bị thiêu đốt (bởi phiền não),
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Có mắt nhìn xuống, và không buông thả bàn chân (đi đó đây),
có giác quan được bảo vệ, có tâm ý được hộ trì,
không bị nhiễm dục vọng, không bị thiêu đốt (bởi phiền não),
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Sau khi trút bỏ các hình tướng tại gia,
giống như cây san hô có lá che phủ,
sau khi đã ra đi, mặc y màu ca-sa,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Sau khi trút bỏ các hình tướng tại gia,
giống như cây san hô có lá che phủ,
sau khi đã ra đi, mặc vải màu ca-sa,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Phẩm Thứ Ba.
Không khởi sự thèm khát ở các vị nếm, không tham lam,
không nuôi dưỡng kẻ khác, đi khất thực theo tuần tự từng nhà,
có tâm không bị ràng buộc vào nhà này nhà nọ,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
“ Vị không nuôi dưỡng kẻ khác, đã được biết tiếng, đã được rèn luyện, đã đứng vững ở cốt lõi, có lậu hoặc đã được cạn kiệt, có sân hận đã được tẩy trừ, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn. ”
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Không khởi sự thèm khát ở các vị nếm, không tham lam,
không nuôi dưỡng kẻ khác, đi khất thực theo tuần tự từng nhà,
có tâm không bị ràng buộc vào nhà này nhà nọ,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Sau khi dứt bỏ năm pháp che lấp của tâm,
sau khi xua đuổi hẳn tất cả các tùy phiền não,
không nương tựa, sau khi cắt đứt thương yêu và sân hận,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Sau khi dứt bỏ năm pháp che lấp của tâm,
sau khi xua đuổi hẳn tất cả các tùy phiền não,
không nương tựa, sau khi cắt đứt thương yêu và sân hận,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Sau khi đã bỏ lại sau lưng lạc và khổ,
cùng với hỷ và ưu ngay trước đây,
sau khi đạt được xả và sự vắng lặng thanh tịnh,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Sau khi đã bỏ lại sau lưng lạc và khổ,
cùng với hỷ và ưu ngay trước đây,
sau khi đạt được xả và sự vắng lặng thanh tịnh,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Có sự ra sức tinh tấn để đạt đến chân lý tối thượng,
có tâm không thụ động, có sự thực hành không biếng nhác,
có sự cố gắng bền bỉ, có được sức mạnh và năng lực,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Có sự ra sức tinh tấn để đạt đến chân lý tối thượng,
có tâm không thụ động, có sự thực hành không biếng nhác,
có sự cố gắng bền bỉ, có được sức mạnh và năng lực,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Trong khi không bỏ phế việc thiền tịnh, việc tham thiền,
là người thường xuyên thực hành thuận pháp đối với các pháp, [1]
là người nhận chân được sự bất lợi ở các hữu,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
[1] Thực hành thuận pháp đối với các pháp ( dhammesu anudhammacārī ): thực hành pháp minh sát tùy thuận theo sự diễn biến của các pháp như là ngũ uẩn, v.v..., hoặc là hành tuần tự theo chín pháp siêu thế là bốn Đạo, bốn Quả, và Niết Bàn (SnA. i, 123).
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Trong khi không bỏ phế việc thiền tịnh, việc tham thiền,
là người thường xuyên thực hành thuận pháp đối với các pháp,
là người nhận chân được sự bất lợi ở các hữu,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Trong khi ước nguyện sự diệt trừ tham ái, không xao lãng,
không ngây ngô khờ khạo, có sự nghe nhiều, có niệm,
đã hiểu rõ Giáo Pháp, đã được kiên cố, có sự nỗ lực,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
“ Đối với vị ấy, đây là lần cuối cùng, thân xác này là sau chót, việc sanh tử luân hồi, việc sanh ra lần nữa không có đối với các vị ấy .”
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Trong khi ước nguyện sự diệt trừ tham ái, không xao lãng,
không ngây ngô khờ khạo, có sự nghe nhiều, có niệm,
đã hiểu rõ Giáo Pháp, đã được kiên cố, có sự nỗ lực,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Không kinh sợ tựa như con sư tử không kinh sợ các tiếng động,
không dính mắc tựa như làn gió không bị dính mắc ở mạng lưới,
không bị lấm nhơ tựa như đóa sen không bị lấm nhơ bởi nước,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Không kinh sợ tựa như con sư tử không kinh sợ các tiếng động,
không dính mắc tựa như làn gió không bị dính mắc ở mạng lưới,
không bị lấm nhơ tựa như đóa sen không bị lấm nhơ bởi nước,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Tựa như con sư tử, có sức mạnh của các răng nanh, vua của các loài thú, có cuộc sống thiên về khuất phục và chế ngự (các con thú khác), nên lai vãng các trú xứ xa vắng, nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Tựa như con sư tử, có sức mạnh của các răng nanh, vua của các loài thú, có cuộc sống thiên về khuất phục và chế ngự (các con thú khác), nên lai vãng các trú xứ xa vắng, nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Trong khi đang rèn luyện từ, bi, hỷ, xả, và giải thoát vào thời điểm thuận tiện, trong khi không bị chống đối bởi tất cả thế gian, nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Trong khi đang rèn luyện từ, bi, hỷ, xả, và giải thoát vào thời điểm thuận tiện, trong khi không bị chống đối bởi tất cả thế gian, nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Sau khi dứt bỏ luyến ái, sân hận, và si mê,
sau khi bứt lìa hoàn toàn các sự ràng buộc,
người không kinh sợ về chặng cuối cùng của mạng sống,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Sau khi dứt bỏ luyến ái, sân hận, và si mê,
sau khi bứt lìa hoàn toàn các sự ràng buộc,
người không kinh sợ về chặng cuối cùng của mạng sống,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Người ta thân cận và phục vụ có động cơ là sự lợi ích,
ngày nay những người bạn không có động cơ (lợi ích) là khó đạt được,
những người (chỉ) biết đến lợi ích của bản thân thì không trong sạch,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .
Vì thế, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
“ Người ta thân cận và phục vụ có động cơ là sự lợi ích,
ngày nay những người bạn không có động cơ (lợi ích) là khó đạt được,
những người (chỉ) biết đến lợi ích của bản thân thì không trong sạch,
nên sống một mình tựa như sừng của loài tê ngưu (chỉ có một) .”
Phẩm Thứ Tư.
Và Phần Diễn Giải Kinh Sừng Tê Ngưu được chấm dứt.
1. “Ajita, Tissametteyya, Puṇṇaka, rồi Mettagū, Dhotaka, và Upasīva, Nanda, rồi Hemaka, –
2. – hai vị Todeyya, và Kappa, và vị sáng suốt Jatukaṇṇī, Bhadrāvudha, và Udaya, luôn cả Bà-la-môn Posāla, –
¬3. – vị thông minh Mogharājā, và vị đại ẩn sĩ Piṅgiya. Hơn nữa, lời giảng dạy đến chính mười sáu vị Bà-la-môn ấy, các lời diễn giải về những con đường đi đến bờ kia, là chỉ có chừng ấy.
4. Và các lời diễn giải của những bài Kinh Sừng Tê Ngưu là đúng y như thế. Các lời diễn giải gồm hai phần cần được hiểu biết; chúng được đầy đủ, được khéo làm nổi bật.”
TIỂU DIỄN GIẢI ĐƯỢC HOÀN TẤT.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tiểu Diễn Giải (Cūḷaniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sabbesu bhūtesu nidhāya daṇḍaṃ, aviheṭhayaṃ aññatarampi tesaṃ;
Na puttamiccheyya kuto sahāyaṃ, eko care khaggavisāṇakappo.
Having laid aside the rod toward all beings, not harming any one of them; one should not wish for a son, still less a companion. Let one wander alone like a rhinoceros’s horn.
Sau khi từ bỏ trừng phạt đối với tất cả chúng sanh, không làm hại bất cứ ai trong số họ; không nên mong có con, huống nữa là bạn đồng hành, hãy sống một mình như sừng tê giác.
Sabbesu bhūtesu nidhāya daṇḍanti. Sabbesūti sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ asesaṃ nissesaṃ pariyādiyanavacanametaṃ – sabbesūti. Bhūtesūti bhūtā vuccanti tasā ca thāvarā ca. Tasāti yesaṃ tasitataṇhā appahīnā, yesañca bhayabheravā appahīnā. Kiṃkāraṇā vuccanti tasā? Te tasanti uttasanti paritasanti bhāsanti santāsaṃ āpajjanti, taṃkāraṇā vuccanti tasā. Thāvarāti yesaṃ tasitataṇhā pahīnā, yesañca bhayabheravā pahīnā. Kiṃkāraṇā vuccanti thāvarā? Te na tasanti na uttasanti na paritasanti na bhāyanti na santāsaṃ āpajjanti, taṃkāraṇā vuccanti thāvarā. Daṇḍanti tayo daṇḍā – kāyadaṇḍo vacīdaṇḍo manodaṇḍo. Tividhaṃ kāyaduccaritaṃ kāyadaṇḍo, catubbidhaṃ vacīduccaritaṃ vacīdaṇḍo, tividhaṃ manoduccaritaṃ manodaṇḍo. Sabbesu bhūtesu nidhāya daṇḍanti sabbesu bhūtesu daṇḍaṃ nidhāya nidahitvā.
"Having laid aside the rod toward all beings": "All" is a term of comprehension, meaning entirely, completely, in every way, without remainder, without exception—this is the meaning of "all." "Beings": beings are said to be the trembling and the stable. "The trembling" are those for whom the craving that causes trembling is unabandoned and for whom fear and dread are unabandoned. For what reason are they called "the trembling"? They tremble, are agitated, are terrified, fear, and fall into panic; for that reason they are called "the trembling." "The stable" are those for whom the craving that causes trembling is abandoned and for whom fear and dread are abandoned. For what reason are they called "the stable"? They do not tremble, are not agitated, are not terrified, do not fear, and do not fall into panic; for that reason they are called "the stable." "Rod": there are three rods: the bodily rod, the verbal rod, and the mental rod. The threefold bodily misconduct is the bodily rod; the fourfold verbal misconduct is the verbal rod; the threefold mental misconduct is the mental rod. "Having laid aside the rod toward all beings" means having laid aside, having set down the rod toward all beings.
Sabbesu bhūtesu nidhāya daṇḍaṃ: Sabbesu có nghĩa là tất cả một cách toàn diện, tất cả trong mọi phương diện, không còn sót lại, không có ngoại lệ; đây là một từ có nghĩa bao trùm. Bhūtesu: Chúng sanh được gọi là những chúng sanh còn run sợ và những chúng sanh đã vững vàng. Tasā (còn run sợ) là những chúng sanh chưa từ bỏ được ái dục gây run sợ, và những chúng sanh chưa từ bỏ được sự sợ hãi và kinh hoàng. Tại sao gọi là tasā? Vì họ run sợ, họ kinh hãi, họ hoảng sợ, họ sợ hãi, họ rơi vào trạng thái kinh hoàng, do đó gọi là tasā. Thāvarā (đã vững vàng) là những vị đã từ bỏ được ái dục gây run sợ, và những vị đã từ bỏ được sự sợ hãi và kinh hoàng. Tại sao gọi là thāvarā? Vì họ không run sợ, không kinh hãi, không hoảng sợ, không sợ hãi, không rơi vào trạng thái kinh hoàng, do đó gọi là thāvarā. Daṇḍaṃ: Có ba loại trừng phạt: thân trừng phạt, khẩu trừng phạt, và ý trừng phạt. Ba loại thân ác hạnh là thân trừng phạt. Bốn loại khẩu ác hạnh là khẩu trừng phạt. Ba loại ý ác hạnh là ý trừng phạt. Sabbesu bhūtesu nidhāya daṇḍaṃ có nghĩa là sau khi từ bỏ, sau khi đặt xuống sự trừng phạt đối với tất cả chúng sanh.
Aviheṭhayaṃ aññatarampi tesanti ekamekampi sattaṃ pāṇinā vā leḍḍunā vā daṇḍena vā satthena vā anduyā † vā rajjuyā vā aviheṭhayanto, sabbepi satte pāṇinā vā leḍḍunā vā daṇḍena vā satthena vā anduyā vā rajjuyā vā aviheṭhayantoti – aviheṭhayaṃ aññatarampi tesaṃ.
"Not harming any one of them": not harming any single being with the hand or a clod, with a stick or a weapon, with a fetter or a rope; not harming all beings with the hand or a clod, with a stick or a weapon, with a fetter or a rope. This is the meaning of "not harming any one of them."
Aviheṭhayaṃ aññatarampi tesaṃ có nghĩa là không làm hại bất cứ một chúng sanh nào, hoặc bằng tay, hoặc bằng cục đất, hoặc bằng gậy, hoặc bằng dao, hoặc bằng xiềng xích, hoặc bằng dây thừng; không làm hại tất cả chúng sanh, hoặc bằng tay, hoặc bằng cục đất, hoặc bằng gậy, hoặc bằng dao, hoặc bằng xiềng xích, hoặc bằng dây thừng. Đây là ý nghĩa của aviheṭhayaṃ aññatarampi tesaṃ.
Na puttamiccheyya kuto sahāyanti. Nāti paṭikkhepo; puttāti cattāro puttā – atrajo putto, khettajo putto, dinnako putto, antevāsiko putto. Sahāyanti sahāyā vuccanti yehi saha āgamanaṃ phāsu, gamanaṃ phāsu, gamanāgamanaṃ phāsu, ṭhānaṃ phāsu, nisajjanaṃ phāsu, sayanaṃ † phāsu, ālapanaṃ phāsu, sallapanaṃ phāsu, ullapanaṃ phāsu, samullapanaṃ phāsu. Na puttamiccheyya kuto sahāyanti puttampi na iccheyya na sādiyeyya na patthayeyya na pihayeyya nābhijappeyya, kuto mittaṃ vā sandiṭṭhaṃ vā sambhattaṃ vā sahāyaṃ vā iccheyya † sādiyeyya patthayeyya pihayeyya abhijappeyyāti – na puttamiccheyya kuto sahāyaṃ.
“One should not wish for a son, still less a companion”: “Na” is a term of negation. “Son”: there are four kinds of sons: a son born of one's body, a son of the field, an adopted son, and a disciple as a son. “Companions”: companions are said to be those with whom it is pleasant to come, pleasant to go, pleasant to come and go, pleasant to stand, pleasant to sit, pleasant to lie down, pleasant to address, pleasant to converse well, pleasant to discuss, and pleasant to converse repeatedly. “One should not wish for a son, still less a companion” means: one should not wish for, delight in, long for, yearn for, or speak of with longing for a son; how much less should one wish for, delight in, long for, yearn for, or speak of with longing for a friend, an acquaintance, one with whom one has shared meals, or a companion? This is the meaning of “one should not wish for a son, still less a companion.”
Na puttamiccheyya kuto sahāyanti (Không nên mong có con, huống nữa là bạn đồng hành). Nāti (chữ ‘na’) là sự phủ định; puttāti (chữ ‘putta’) là con, có bốn loại con – atrajo putto (con do mình sinh ra), khettajo putto (con sinh ra trên mảnh đất của mình), dinnako putto (con nuôi), antevāsiko putto (con là đệ tử). Sahāyanti (về bạn đồng hành), sahāyā vuccanti (được gọi là bạn đồng hành) là những người mà cùng với họ việc đến được dễ chịu, việc đi được dễ chịu, việc đi và đến được dễ chịu, việc đứng được dễ chịu, việc ngồi được dễ chịu, việc nằm được dễ chịu, việc bắt chuyện được dễ chịu, việc trò chuyện được dễ chịu, việc nói chuyện khi thấy được dễ chịu, việc nói chuyện lặp lại được dễ chịu. Na puttamiccheyya kuto sahāyanti (Không nên mong có con, huống nữa là bạn đồng hành) có nghĩa là: không nên mong muốn, không nên vui thích, không nên cầu mong, không nên khao khát, không nên ao ước cả đến người con, huống nữa là bạn bè, người quen biết, người cùng ăn, hay bạn đồng hành mà lại nên mong muốn, nên vui thích, nên cầu mong, nên khao khát, nên ao ước hay sao? – (nghĩa là) không nên mong có con, huống nữa là bạn đồng hành.
Eko care khaggavisāṇakappoti. Ekoti so paccekasambuddho pabbajjāsaṅkhātena eko, adutiyaṭṭhena eko, taṇhāya pahānaṭṭhena † eko, ekantavītarāgoti eko, ekantavītadosoti eko, ekantavītamohoti eko, ekantanikkilesoti eko, ekāyanamaggaṃ gatoti eko, eko anuttaraṃ paccekasambodhiṃ abhisambuddhoti eko.
“Let one wander alone like a rhinoceros’s horn”: “One”: That paccekabuddha is “one” by way of renunciation; “one” in the sense of being without a second; “one” in the sense of having abandoned craving; “one” as being completely free from lust; “one” as being completely free from hatred; “one” as being completely free from delusion; “one” as being completely without defilements; “one” as having gone on the sole path; “one” as having singly awakened to the unsurpassed enlightenment of a paccekabuddha.
Eko care khaggavisāṇakappoti (Hãy đi một mình như sừng tê giác). Ekoti (chữ ‘eko’), vị Độc Giác Phật ấy là một (eko) theo ý nghĩa của sự xuất gia (pabbajjāsaṅkhātena), là một (eko) theo ý nghĩa không có người thứ hai (adutiyaṭṭhena), là một (eko) theo ý nghĩa đã đoạn trừ ái dục (taṇhāya pahānaṭṭhena), là một (eko) vì hoàn toàn ly tham (ekantavītarāgo), là một (eko) vì hoàn toàn ly sân (ekantavītadoso), là một (eko) vì hoàn toàn ly si (ekantavītamoha), là một (eko) vì hoàn toàn không còn phiền não (ekantanikkileso), là một (eko) vì đã đi trên con đường độc nhất (ekāyanamaggaṃ gato), là một (eko) vì đã một mình chứng ngộ quả vị Độc Giác vô thượng (anuttaraṃ paccekasambodhiṃ abhisambuddho).
Kathaṃ so paccekasambuddho pabbajjāsaṅkhātena eko? So paccekasambuddho sabbaṃ gharāvāsapalibodhaṃ chinditvā puttadārapalibodhaṃ chinditvā ñātipalibodhaṃ chinditvā sannidhipalibodhaṃ chinditvā kesamassuṃ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitvā akiñcanabhāvaṃ upagantvā eko carati viharati iriyati vatteti pāleti yapeti yāpetīti – evaṃ so paccekasambuddho pabbajjāsaṅkhātena eko.
How is that paccekabuddha “one” by way of renunciation? That paccekabuddha, having cut off every impediment of the household life, having cut off the impediment of wife and children, having cut off the impediment of relatives, having cut off the impediment of accumulation, having shaved off his hair and beard, having put on the saffron robes, having gone forth from the household life into homelessness, having arrived at a state of possessing nothing, wanders, dwells, moves about, comports himself, maintains himself, and carries on alone. It is in this way that the paccekabuddha is “one” by way of renunciation.
Làm thế nào vị Độc Giác Phật ấy là một (eko) theo ý nghĩa của sự xuất gia (pabbajjāsaṅkhātena)? Vị Độc Giác Phật ấy, sau khi cắt đứt mọi ràng buộc của đời sống tại gia (sabbaṃ gharāvāsapalibodhaṃ), cắt đứt ràng buộc vợ con (puttadārapalibodhaṃ), cắt đứt ràng buộc quyến thuộc (ñātipalibodhaṃ), cắt đứt ràng buộc về tích trữ (sannidhipalibodhaṃ), cạo bỏ râu tóc (kesamassuṃ ohāretvā), đắp y ca-sa (kāsāyāni vatthāni acchādetvā), từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình, xuất gia (agārasmā anagāriyaṃ pabbajitvā), đạt đến trạng thái không còn gì vướng bận (akiñcanabhāvaṃ upagantvā), một mình đi (carati), trú (viharati), duy trì oai nghi (iriyati), hành xử (vatteti), bảo hộ (pāleti), nuôi mạng (yapeti), duy trì sự sống (yāpeti) – như vậy, vị Độc Giác Phật ấy là một (eko) theo ý nghĩa của sự xuất gia (pabbajjāsaṅkhātena).
Kathaṃ so paccekasambuddho adutiyaṭṭhena eko? So evaṃ pabbajito samāno eko araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevati appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppāni. So eko gacchati, eko tiṭṭhati, eko nisīdati, eko seyyaṃ kappeti, eko gāmaṃ piṇḍāya pavisati, eko abhikkamati, eko paṭikkamati, eko raho nisīdati, eko caṅkamaṃ adhiṭṭhāti, eko carati viharati iriyati vatteti pāleti yapeti yāpetīti – evaṃ so paccekasambuddho adutiyaṭṭhena eko.
How is that Paccekasambuddha 'one' in the sense of being without a second? Having thus gone forth, being alone, he resorts to lodgings in forest groves that are remote, quiet, free from noise, free from the wind caused by people, and suitable for human seclusion. He goes alone, stands alone, sits alone, makes his bed alone, enters the village for alms-food alone, goes forward alone, returns alone, sits in seclusion alone, undertakes walking meditation alone; he wanders, dwells, maintains his posture, conducts himself, protects himself, and sustains himself alone. It is in this way that the Paccekasambuddha is 'one' in the sense of being without a second.
Làm thế nào vị Độc Giác Phật ấy là một (eko) theo ý nghĩa không có người thứ hai (adutiyaṭṭhena)? Vị ấy, sau khi xuất gia như vậy, một mình thường lui tới những trú xứ trong rừng sâu, hẻo lánh (araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevati), ít tiếng động (appasaddāni), ít ồn ào (appanigghosāni), vắng bóng người (vijanavātāni), kín đáo cho con người (manussarāhasseyyakāni), thích hợp cho việc độc cư (paṭisallānasāruppāni). Vị ấy một mình đi (eko gacchati), một mình đứng (eko tiṭṭhati), một mình ngồi (eko nisīdati), một mình nằm (eko seyyaṃ kappeti), một mình vào làng khất thực (eko gāmaṃ piṇḍāya pavisati), một mình đi tới (eko abhikkamati), một mình đi lui (eko paṭikkamati), một mình ngồi nơi kín đáo (eko raho nisīdati), một mình kinh hành (eko caṅkamaṃ adhiṭṭhāti), một mình đi (carati), trú (viharati), duy trì oai nghi (iriyati), hành xử (vatteti), bảo hộ (pāleti), nuôi mạng (yapeti), duy trì sự sống (yāpeti) – như vậy, vị Độc Giác Phật ấy là một (eko) theo ý nghĩa không có người thứ hai (adutiyaṭṭhena).
Kathaṃ so paccekasambuddho taṇhāya pahānaṭṭhena eko? So evaṃ eko adutiyo appamatto ātāpī pahitatto viharanto mahāpadhānaṃ padahanto māraṃ sasenakaṃ namuciṃ kaṇhaṃ pamattabandhuṃ vidhametvā ca taṇhājāliniṃ visaritaṃ visattikaṃ pajahi vinodesi byantīakāsi anabhāvaṃgamesi.
How is that Paccekasambuddha 'one' in the sense of having abandoned craving? Dwelling thus alone, without a second, heedful, ardent, and resolute, striving the great striving, he vanquishes Māra with his army—Namuci, the Dark One, the kinsman of the negligent—and he has abandoned, dispelled, terminated, and annihilated the net of craving, which is widespread and clinging.
Làm thế nào vị Độc Giác Phật ấy là một (eko) theo ý nghĩa đã đoạn trừ ái dục (taṇhāya pahānaṭṭhena)? Vị ấy, trong khi trú một mình (eko), không có người thứ hai (adutiyo), không dể duôi (appamatto), nhiệt tâm (ātāpī), tinh cần (pahitatto), nỗ lực tinh tấn lớn (mahāpadhānaṃ padahanto), sau khi phá tan Ma vương (māraṃ) cùng với quyến thuộc (sasenakaṃ), Namuci, Kẻ Đen Tối (kaṇhaṃ), bà con của kẻ dể duôi (pamattabandhuṃ), đã từ bỏ (pajahi), đã loại trừ (vinodesi), đã làm cho chấm dứt (byantīakāsi), đã làm cho không còn hiện hữu (anabhāvaṃgamesi) lưới ái dục (taṇhājāliniṃ) lan rộng (visaritaṃ) và bám víu (visattikaṃ).
‘‘Taṇhādutiyo puriso, dīghamaddhāna saṃsaraṃ;
Itthabhāvaññathābhāvaṃ, saṃsāraṃ nātivattati.
A person with craving as his companion wanders for a long time through saṃsāra. From this state of existence to another, he does not pass beyond saṃsāra.
“Người có ái dục làm bạn đồng hành, lang thang trong luân hồi suốt thời gian dài; Trạng thái này, trạng thái khác, không thể vượt qua được luân hồi.”
‘‘Etamādīnavaṃ ñatvā, taṇhaṃ dukkhassa sambhavaṃ;
Vītataṇho anādāno, sato bhikkhu paribbaje’’ti.
Having understood this danger—that craving is the origin of suffering—free from craving, without grasping, a mindful bhikkhu should wander forth.
“Sau khi biết được sự nguy hại này, rằng ái dục là nguồn gốc của khổ đau; Vị tỳ khưu không còn ái dục, không còn chấp thủ, chánh niệm, nên đi (tu tập).”
Evaṃ so paccekasambuddho taṇhāya pahānaṭṭhena eko.
It is in this way that the Paccekasambuddha is 'one' in the sense of having abandoned craving.
Như vậy, vị Độc Giác Phật ấy là một (eko) theo ý nghĩa đã đoạn trừ ái dục (taṇhāya pahānaṭṭhena).
Kathaṃ so paccekasambuddho ekantavītarāgoti eko? Rāgassa pahīnattā ekantavītarāgoti eko, dosassa pahīnattā ekantavītadosoti eko, mohassa pahīnattā ekantavītamohoti eko, kilesānaṃ pahīnattā ekantanikkilesoti eko. Evaṃ so paccekasambuddho ekantavītarāgoti eko.
How is that Paccekasambuddha 'one' as being completely free from lust? Because lust has been abandoned, he is 'one' as being completely free from lust. Because hatred has been abandoned, he is 'one' as being completely free from hatred. Because delusion has been abandoned, he is 'one' as being completely free from delusion. Because the defilements have been abandoned, he is 'one' as being completely without defilements. It is in this way that the Paccekasambuddha is 'one' as being completely free from lust.
Làm thế nào vị Độc Giác Phật ấy là một (eko) vì hoàn toàn ly tham (ekantavītarāgo)? Do đã đoạn trừ tham (rāgassa pahīnattā), vị ấy là một (eko) vì hoàn toàn ly tham (ekantavītarāgo); do đã đoạn trừ sân (dosassa pahīnattā), vị ấy là một (eko) vì hoàn toàn ly sân (ekantavītadoso); do đã đoạn trừ si (mohassa pahīnattā), vị ấy là một (eko) vì hoàn toàn ly si (ekantavītamoha); do đã đoạn trừ các phiền não (kilesānaṃ pahīnattā), vị ấy là một (eko) vì hoàn toàn không còn phiền não (ekantanikkileso). Như vậy, vị Độc Giác Phật ấy là một (eko) vì hoàn toàn ly tham (ekantavītarāgo).
Kathaṃ so paccekasambuddho ekāyanamaggaṃ gatoti eko? Ekāyanamaggo vuccati cattāro satipaṭṭhānā, cattāro sammappadhānā, cattāro iddhipādā, pañcindriyāni, pañca balāni, satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo.
How is that Paccekasambuddha 'one' as having gone on the solitary path? The solitary path is said to be: the four establishments of mindfulness, the four right strivings, the four bases for spiritual power, the five spiritual faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, and the Noble Eightfold Path.
Làm thế nào vị Độc Giác Phật ấy là một (eko) vì đã đi trên con đường độc nhất (ekāyanamaggaṃ gato)? Được gọi là con đường độc nhất (ekāyanamaggo vuccati) là: bốn niệm xứ (cattāro satipaṭṭhānā), bốn chánh cần (cattāro sammappadhānā), bốn như ý túc (cattāro iddhipādā), năm căn (pañcindriyāni), năm lực (pañca balāni), bảy giác chi (satta bojjhaṅgā), và Thánh đạo tám ngành (ariyo aṭṭhaṅgiko maggo).
‘‘Ekāyanaṃ jātikhayantadassī, maggaṃ pajānāti hitānukampī;
Etena maggena tariṃsu pubbe, tarissanti ye ca taranti ogha’’nti.
Compassionate for the welfare [of others], the seer of the end of birth—Nibbāna—knows the one-way path. He knows thus: 'By this path they crossed the flood in the past, and by it they will cross and are crossing.'
“Người thấy được sự đoạn tận của sanh, người có lòng bi mẫn vì lợi ích, biết rõ con đường độc nhất. Bằng con đường này, các vị trong quá khứ đã vượt qua, và những ai sẽ vượt qua, và đang vượt qua bộc lưu.”
Evaṃ so paccekasambuddho ekāyanamaggaṃ gatoti eko.
Thus, that Paccekasambuddha has gone on the one-way path; therefore, he is noble.
Như vậy, vị Độc Giác Phật ấy là một (eko) vì đã đi trên con đường độc nhất (ekāyanamaggaṃ gato).
Kathaṃ so paccekasambuddho eko anuttaraṃ paccekasambodhiṃ abhisambuddhoti eko? Bodhi vuccati catūsu maggesu ñāṇaṃ. Paññā paññindriyaṃ paññābalaṃ dhammavicayasambojjhaṅgo vīmaṃsā vipassanā sammādiṭṭhi. So paccekasambuddho maggapaccekasambuddho ñāṇapaccekasambuddho ‘‘sabbe saṅkhārā aniccā’’ti bujjhi, ‘‘sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti bujjhi, ‘‘sabbe dhammā anattā’’ti bujjhi, ‘‘avijjāpaccayā saṅkhārā’’ti bujjhi, ‘‘saṅkhārapaccayā viññāṇa’’nti bujjhi, ‘‘viññāṇapaccayā nāmarūpa’’nti bujjhi, ‘‘nāmarūpapaccayā saḷāyatana’’nti bujjhi, ‘‘saḷāyatanapaccayā phasso’’ti bujjhi, ‘‘phassapaccayā vedanā’’ti bujjhi, ‘‘vedanāpaccayā taṇhā’’ti bujjhi, ‘‘taṇhāpaccayā upādāna’’nti bujjhi, ‘‘upādānapaccayā bhavo’’ti bujjhi, ‘‘bhavapaccayā jātī’’ti bujjhi, ‘‘jātipaccayā jarāmaraṇa’’nti bujjhi; ‘‘avijjānirodhā saṅkhāranirodho’’ti bujjhi, ‘‘saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho’’ti bujjhi, ‘‘viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho’’ti bujjhi, ‘‘nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho’’ti bujjhi, ‘‘saḷāyatananirodhā phassanirodho’’ti bujjhi, ‘‘phassanirodhā vedanānirodho’’ti bujjhi, ‘‘vedanānirodhā taṇhānirodho’’ti bujjhi, ‘‘taṇhānirodhā upādānanirodho’’ti bujjhi, ‘‘upādānanirodhā bhavanirodho’’ti bujjhi, ‘‘bhavanirodhā jātinirodho’’ti bujjhi, ‘‘jātinirodhā jarāmaraṇanirodho’’ti bujjhi; ‘‘idaṃ dukkha’’nti bujjhi, ‘‘ayaṃ dukkhasamudayo’’ti bujjhi, ‘‘ayaṃ dukkhanirodho’’ti bujjhi, ‘‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’’ti bujjhi; ‘‘ime āsavā’’ti bujjhi, ‘‘ayaṃ āsavasamudayo’’ti bujjhi…pe… ‘‘ayaṃ āsavanirodhagāminī paṭipadā’’ti bujjhi; ‘‘ime dhammā abhiññeyyā’’ti bujjhi, ‘‘ime dhammā pahātabbā’’ti bujjhi, ‘‘ime dhammā sacchikātabbā’’ti bujjhi, ‘‘ime dhammā bhāvetabbā’’ti bujjhi; channaṃ phassāyatanānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca bujjhi, pañcannaṃ upādānakkhandhānaṃ samudayañca…pe… nissaraṇañca bujjhi, catunnaṃ mahābhūtānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca bujjhi, ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti bujjhi.
How does that Paccekasambuddha, alone, awaken to the unsurpassed individual enlightenment—as one? 'Bodhi' is said to be the knowledge in the four paths. It is wisdom, the faculty of wisdom, the power of wisdom, the enlightenment factor of investigation of phenomena, examination, insight, and right view. That Paccekasambuddha is one who is enlightened individually regarding the path and enlightened individually regarding knowledge. He understood: “All conditioned phenomena are impermanent”; he understood: “All conditioned phenomena are suffering”; he understood: “All phenomena are non-self”; he understood: “With ignorance as condition, volitional formations come to be”; he understood: “With volitional formations as condition, consciousness comes to be”; he understood: “With consciousness as condition, name-and-form comes to be”; he understood: “With name-and-form as condition, the six sense bases come to be”; he understood: “With the six sense bases as condition, contact comes to be”; he understood: “With contact as condition, feeling comes to be”; he understood: “With feeling as condition, craving comes to be”; he understood: “With craving as condition, clinging comes to be”; he understood: “With clinging as condition, existence comes to be”; he understood: “With existence as condition, birth comes to be”; he understood: “With birth as condition, aging and death come to be”; he understood: “With the cessation of ignorance comes the cessation of volitional formations”; he understood: “With the cessation of volitional formations comes the cessation of consciousness”; he understood: “With the cessation of consciousness comes the cessation of name-and-form”; he understood: “With the cessation of name-and-form comes the cessation of the six sense bases”; he understood: “With the cessation of the six sense bases comes the cessation of contact”; he understood: “With the cessation of contact comes the cessation of feeling”; he understood: “With the cessation of feeling comes the cessation of craving”; he understood: “With the cessation of craving comes the cessation of clinging”; he understood: “With the cessation of clinging comes the cessation of existence”; he understood: “With the cessation of existence comes the cessation of birth”; he understood: “With the cessation of birth comes the cessation of aging and death”; he understood: “This is suffering”; he understood: “This is the origin of suffering”; he understood: “This is the cessation of suffering”; he understood: “This is the path leading to the cessation of suffering”; he understood: “These are the taints”; he understood: “This is the origin of the taints” … “This is the path leading to the cessation of the taints”; he understood: “These phenomena are to be directly known”; he understood: “These phenomena are to be abandoned”; he understood: “These phenomena are to be realized”; he understood: “These phenomena are to be developed”; he understood the origin, the passing away, the gratification, the danger, and the escape in the case of the six bases for contact; he understood the origin … and the escape in the case of the five aggregates of clinging; he understood the origin, the passing away, the gratification, the danger, and the escape in the case of the four great elements; he understood: “Whatever is subject to origination is all subject to cessation.”
Làm thế nào vị Phật Độc Giác ấy, một mình, đã chứng ngộ Vô Thượng Độc Giác Chánh Đẳng Giác, nên (gọi là) một mình? Giác ngộ được gọi là trí tuệ ở trong bốn đạo. (Đó là) tuệ, tuệ quyền, tuệ lực, trạch pháp giác chi, thẩm sát, minh sát, chánh kiến. Vị Phật Độc Giác ấy là vị Độc Giác về đạo, là vị Độc Giác về trí. Vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Tất cả các pháp hữu vi là vô thường,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Tất cả các pháp hữu vi là khổ,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Tất cả các pháp là vô ngã,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do duyên vô minh, có các hành,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do duyên các hành, có thức,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do duyên thức, có danh sắc,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do duyên danh sắc, có sáu xứ,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do duyên sáu xứ, có xúc,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do duyên xúc, có thọ,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do duyên thọ, có ái,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do duyên ái, có thủ,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do duyên thủ, có hữu,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do duyên hữu, có sanh,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do duyên sanh, có già chết;’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do vô minh diệt, các hành diệt,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do các hành diệt, thức diệt,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do thức diệt, danh sắc diệt,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do danh sắc diệt, sáu xứ diệt,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do sáu xứ diệt, xúc diệt,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do xúc diệt, thọ diệt,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do thọ diệt, ái diệt,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do ái diệt, thủ diệt,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do thủ diệt, hữu diệt,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do hữu diệt, sanh diệt,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Do sanh diệt, già chết diệt;’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Đây là khổ,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Đây là khổ tập,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Đây là khổ diệt,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt;’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Đây là các lậu hoặc,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Đây là sự tập khởi của các lậu hoặc,’ ... cho đến ... vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc;’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Các pháp này cần được thắng tri,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Các pháp này cần được đoạn tận,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Các pháp này cần được chứng ngộ,’ vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Các pháp này cần được tu tập;’ vị ấy đã giác ngộ sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự xuất ly của sáu xứ xúc; vị ấy đã giác ngộ sự sanh khởi, ... cho đến ... sự xuất ly của năm thủ uẩn; vị ấy đã giác ngộ sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự xuất ly của bốn đại; vị ấy đã giác ngộ rằng: ‘Bất cứ pháp nào có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có đoạn diệt.’
Atha vā, yaṃ bujjhitabbaṃ anubujjhitabbaṃ paṭibujjhitabbaṃ sambujjhitabbaṃ adhigantabbaṃ phassitabbaṃ sacchikātabbaṃ, sabbaṃ taṃ tena paccekabodhiñāṇena bujjhi anubujjhi paṭibujjhi sambujjhi adhigacchi phassesi sacchākāsīti evaṃ so paccekasambuddho eko anuttaraṃ paccekasambodhiṃ abhisambuddhoti – eko.
Or alternatively, whatever Dhamma was to be known, to be known by the first path, to be known by the second path, to be known by the third path, to be attained by the first, second, and third fruits, to be contacted by the third fruit, and to be realized by the fourth fruit—all that Dhamma he knew, knew by the power of the first path, knew again by the power of the second path, knew well by the power of the third path, knew unerringly by the power of the fourth path, attained by the power of the first, second, and third fruits, contacted by the power of the third fruit, and realized by the power of the fourth fruit by means of that knowledge of Paccekabodhi. Thus, that Paccekasambuddha, being excellent, has fully awakened to the unsurpassed Paccekasambodhi. Therefore, he is excellent.
Hoặc nữa, điều gì cần được giác ngộ, cần được tùy giác, cần được đối giác, cần được chánh giác, cần được chứng đắc, cần được xúc chứng, cần được thực chứng, tất cả điều ấy vị ấy đã giác ngộ, đã tùy giác, đã đối giác, đã chánh giác, đã chứng đắc, đã xúc chứng, đã thực chứng bằng trí tuệ Độc Giác ấy. Như vậy, vị Phật Độc Giác ấy, một mình, đã chứng ngộ Vô Thượng Độc Giác Chánh Đẳng Giác, nên (gọi là) một mình.
Khaggavisāṇakappoti yathā khaggassa nāma visāṇaṃ ekaṃ hoti adutiyaṃ, evameva so paccekasambuddho takkappo tassadiso tappaṭibhāgo. Yathā atiloṇaṃ vuccati loṇakappo, atitittakaṃ vuccati tittakappo, atimadhuraṃ vuccati madhurakappo, atiuṇhaṃ vuccati aggikappo, atisītalaṃ vuccati himakappo, mahāudakakkhandho vuccati samuddakappo, mahābhiññābalappatto sāvako vuccati satthukappoti; evameva so paccekasambuddho tattha takkappo tassadiso tappaṭibhāgo eko adutiyo muttabandhano sammā loke carati viharati iriyati vatteti pāleti yapeti yāpetīti – eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
“Like a rhinoceros horn” means: just as the horn of the creature called a rhinoceros is single, without a second, so too that Paccekasambuddha is of that nature, similar to that, a counterpart to that. Just as what is extremely salty is called “salt-like,” what is extremely bitter is called “bitter-like,” what is extremely sweet is called “sweet-like,” what is extremely hot is called “fire-like,” what is extremely cold is called “ice-like,” a great mass of water is called “ocean-like,” and a disciple who has attained the power of great direct knowledge is called “teacher-like”; so too, that Paccekasambuddha is of that nature, similar to that, a counterpart to that—alone, without a second, freed from bonds, he fares rightly in the world, dwells, comports himself, proceeds, maintains, carries on, and causes to carry on. This is the meaning of the phrase, 'One should wander alone like a rhinoceros horn.' Therefore that Paccekasambuddha said:
Như sừng tê giác (khaggavisāṇakappo) có nghĩa là: Giống như sừng của con vật tên là tê giác chỉ có một, không có cái thứ hai, cũng vậy, vị Phật Độc Giác ấy có bản chất như thế, tương tự như thế, có phần giống như thế. Giống như vị quá mặn được gọi là ‘tựa như muối’, vị quá đắng được gọi là ‘tựa như vị đắng’, vị quá ngọt được gọi là ‘tựa như vị ngọt’, sự quá nóng được gọi là ‘tựa như lửa’, sự quá lạnh được gọi là ‘tựa như tuyết’, khối nước lớn được gọi là ‘tựa như biển cả’, vị đệ tử đã đạt đến năng lực đại thắng trí được gọi là ‘tựa như bậc Đạo Sư’; cũng vậy, vị Phật Độc Giác ấy ở đây có bản chất như thế, tương tự như thế, có phần giống như thế, là một mình, không có người thứ hai, đã giải thoát khỏi sự trói buộc, đi lại, trú ngụ, sinh hoạt, hành xử, hộ trì, duy trì, bảo dưỡng một cách chân chánh ở trong đời – hãy sống một mình như sừng tê giác. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng –
‘‘Sabbesu bhūtesu nidhāya daṇḍaṃ, aviheṭhayaṃ aññatarampi tesaṃ;
Na puttamiccheyya kuto sahāyaṃ, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“Having laid aside the rod toward all beings, not harming any one of them, one should not wish for a son, still less a companion. One should wander alone like a rhinoceros horn.”
“Đối với tất cả chúng sanh, hãy từ bỏ hình phạt, không làm hại bất cứ ai trong số họ; không nên mong có con, huống nữa là bạn đồng hành, hãy sống một mình như sừng tê giác.”
122.
122.
122.
Saṃsaggajātassa bhavanti snehā, snehanvayaṃ dukkhamidaṃ pahoti;
Ādīnavaṃ snehajaṃ pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
For one for whom association has arisen, affections arise; this suffering follows in the wake of affection. Seeing the danger born of affection, one should wander alone like a rhinoceros horn.
Do giao du mà sanh ra quyến luyến; theo sau sự quyến luyến, khổ đau này phát sanh. Thấy được sự nguy hại sanh ra từ quyến luyến, hãy sống một mình như sừng tê giác.
Saṃsaggajātassa bhavanti snehāti. Saṃsaggāti dve saṃsaggā – dassanasaṃsaggo ca savanasaṃsaggo ca. Katamo dassanasaṃsaggo? Idhekacco passati itthiṃ vā kumāriṃ vā abhirūpaṃ dassanīyaṃ pāsādikaṃ paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgataṃ. Disvā passitvā anubyañjanaso nimittaṃ gaṇhāti – kesā vā sobhanā † mukhaṃ vā sobhanaṃ akkhī vā sobhanā kaṇṇā vā sobhanā nāsā vā sobhanā oṭṭhā vā sobhanā dantā vā sobhanā mukhaṃ vā sobhanaṃ gīvā vā sobhanā thanā vā sobhanā uraṃ vā sobhanaṃ udaraṃ vā sobhanaṃ kaṭi vā sobhanā ūrū vā sobhanā jaṅghā vā sobhanā hatthā vā sobhanā pādā vā sobhanā aṅguliyo vā sobhanā nakhā vā sobhanāti. Disvā passitvā abhinandati abhivadati abhipattheti anuppādeti † anubandhati rāgabandhanaṃ – ayaṃ dassanasaṃsaggo.
‘For one who has associated, affections arise.’ There are two kinds of association: association through sight and association through hearing. What is association through sight? Here, a certain person sees a woman or a girl who is very beautiful, lovely to see, pleasing, and endowed with the supreme beauty of complexion. Having seen and looked at her, he grasps her general appearance and her specific features, thinking: ‘Her hair is beautiful, her face is beautiful, her eyes are beautiful, her ears are beautiful, her nose is beautiful, her lips are beautiful, her teeth are beautiful, her mouth is beautiful, her neck is beautiful, her breasts are beautiful, her chest is beautiful, her belly is beautiful, her waist is beautiful, her thighs are beautiful, her shins are beautiful, her hands are beautiful, her feet are beautiful, her fingers are beautiful, and her nails are beautiful.’ Having seen and looked at her, he delights in her, speaks in praise of her, desires her, generates lust, and pursues the bond of passion. This is association through sight.
Do tiếp xúc mà sanh khởi ái luyến. Tiếp xúc là gì? Có hai loại tiếp xúc: tiếp xúc qua sự thấy và tiếp xúc qua sự nghe. Thế nào là tiếp xúc qua sự thấy? Ở đây, có người thấy người nữ hay thiếu nữ xinh đẹp, đáng nhìn, đáng ưa, có dung sắc tuyệt hảo. Sau khi thấy, sau khi nhìn, người ấy nắm giữ tướng chung và tướng riêng: ‘Tóc đẹp thay, mặt đẹp thay, mắt đẹp thay, tai đẹp thay, mũi đẹp thay, môi đẹp thay, răng đẹp thay, miệng đẹp thay, cổ đẹp thay, vú đẹp thay, ngực đẹp thay, bụng đẹp thay, hông đẹp thay, đùi đẹp thay, ống chân đẹp thay, tay đẹp thay, chân đẹp thay, ngón tay đẹp thay, móng đẹp thay.’ Sau khi thấy, sau khi nhìn, người ấy hoan hỷ, tán dương, mong cầu, làm sanh khởi, trói buộc sự ràng buộc của tham ái – đây là tiếp xúc qua sự thấy.
Katamo savanasaṃsaggo? Idhekacco suṇāti – ‘‘asukasmiṃ nāma gāme vā nigame vā itthī vā kumārī vā abhirūpā dassanīyā pāsādikā paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgatā’’ti. Sutvā suṇitvā abhinandati abhivadati abhipattheti anuppādeti anubandhati rāgabandhanaṃ – ayaṃ savanasaṃsaggo.
What is association through hearing? Here, a certain person hears: ‘In such and such a village or town there is a woman or a girl who is very beautiful, lovely to see, pleasing, and endowed with the supreme beauty of complexion.’ Having heard this, he delights in her, speaks in praise of her, desires her, generates lust, and pursues the bond of passion. This is association through hearing.
Thế nào là tiếp xúc qua sự nghe? Ở đây, có người nghe rằng: ‘Tại ngôi làng kia hay thị trấn kia, có người nữ hay thiếu nữ xinh đẹp, đáng nhìn, đáng ưa, có dung sắc tuyệt hảo.’ Sau khi nghe, sau khi lắng nghe, người ấy hoan hỷ, tán dương, mong cầu, làm sanh khởi, trói buộc sự ràng buộc của tham ái – đây là tiếp xúc qua sự nghe.
Snehāti dve snehā – taṇhāsneho ca diṭṭhisneho ca. Katamo taṇhāsneho? Yāvatā taṇhāsaṅkhātena sīmakataṃ † odhikataṃ pariyantikataṃ pariggahitaṃ mamāyitaṃ – ‘‘idaṃ mama, etaṃ mama, ettakaṃ mama, ettāvatā mama’’. Rūpā saddā gandhā rasā phoṭṭhabbā attharaṇā pāvuraṇā dāsidāsā ajeḷakā kukkuṭasūkarā hatthigavāssavaḷavā khettaṃ vatthu hiraññaṃ suvaṇṇaṃ gāmanigamarājadhāniyo raṭṭhañca janapado ca koso ca koṭṭhāgārañca, kevalampi mahāpathaviṃ taṇhāvasena mamāyati, yāvatā aṭṭhasatataṇhāvicaritaṃ – ayaṃ taṇhāsneho.
Affection: there are two kinds of affection—affection through craving and affection through view. What is affection through craving? To whatever extent something is demarcated, bounded, defined by a limit, grasped, and appropriated through what is reckoned as craving, with the thought: ‘This is mine, that is mine, this much is mine, to this extent is mine.’ Forms, sounds, smells, tastes, tactile objects, spreads, cloaks, female and male slaves, goats and sheep, fowl and pigs, elephants, cattle, horses, and mares, fields and building sites, silver and gold, villages, market towns, and royal capitals, the country and the province, the treasury and the storehouse—even the entire great earth one appropriates through the power of craving. Insofar as the one hundred and eight vicissitudes of craving extend—this is affection through craving.
Ái luyến là gì? Có hai loại ái luyến: ái luyến do tham ái và ái luyến do tà kiến. Thế nào là ái luyến do tham ái? Bất cứ những gì được phân định, được giới hạn, được khoanh vùng, được chiếm hữu, được xem là của ta bởi cái gọi là tham ái – ‘cái này là của tôi, cái kia là của tôi, chừng này là của tôi, bấy nhiêu là của tôi.’ Sắc, thanh, hương, vị, xúc, vật trải, vật đắp, tôi trai tớ gái, dê và cừu, gà và heo, voi, bò, ngựa, ngựa cái, ruộng, đất, bạc, vàng, làng, thị trấn, kinh đô, xứ, tỉnh, kho tàng, kho lẫm, và ngay cả toàn thể đại địa này cũng được xem là của ta do năng lực của tham ái, cho đến một trăm lẻ tám hành tướng của tham ái – đây là ái luyến do tham ái.
Katamo diṭṭhisneho? Vīsativatthukā sakkāyadiṭṭhi, dasavatthukā micchādiṭṭhi, dasavatthukā antaggāhikādiṭṭhi. Yā evarūpā diṭṭhi diṭṭhigataṃ diṭṭhigahanaṃ diṭṭhikantāro diṭṭhivisūkāyikaṃ diṭṭhivipphanditaṃ diṭṭhisaṃyojanaṃ gāho paṭiggāho † abhiniveso parāmāso kummaggo micchāpatho micchattaṃ titthāyatanaṃ vipariyāsaggāho viparītaggāho vipallāsaggāho micchāgāho ayāthāvakasmiṃ yāthāvakanti gāho, yāvatā dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni – ayaṃ diṭṭhisneho.
What is affection through view? The identity-view with its twenty grounds, the wrong view with its ten grounds, and the view of grasping at extremes with its ten grounds. Any such view, speculative opinion, jungle of views, wilderness of views, contortion of views, vacillation of views, the fetter of views; grasping, clinging, adherence, misapprehension; a wrong path, a false way, wrongness; a sectarian basis; a perverse grasp, a contrary grasp, a distorted grasp, a wrong grasp; a grasp of what is not the case as the case—insofar as the sixty-two speculative views extend—this is affection through view.
Thế nào là ái luyến do tà kiến? Thân kiến có hai mươi đối tượng, tà kiến có mười đối tượng, biên kiến có mười đối tượng. Bất cứ loại tà kiến nào như vậy, sở kiến, rừng rậm tà kiến, hoang địa tà kiến, gai nhọn tà kiến, sự vùng vẫy của tà kiến, kiết sử tà kiến, sự nắm giữ, sự chấp giữ, sự cố chấp, sự bám víu, con đường xấu, con đường sai lầm, sự sai lầm, cơ sở của ngoại đạo, sự nắm giữ điên đảo, sự nắm giữ sai lệch, sự nắm giữ xuyên tạc, sự nắm giữ sai lầm, sự nắm giữ cái không có thật như là có thật, cho đến sáu mươi hai loại tà kiến – đây là ái luyến do tà kiến.
Saṃsaggajātassa bhavanti snehāti dassanasaṃsaggapaccayā ca savanasaṃsaggapaccayā ca taṇhāsneho ca diṭṭhisneho ca bhavanti sambhavanti jāyanti sañjāyanti nibbattanti abhinibbattanti pātubhavantīti – saṃsaggajātassa bhavanti snehā.
‘For one who has association, affections arise’: conditioned by association through seeing and conditioned by association through hearing, affection through craving and affection through view arise, come to be, are born, are generated, are produced, are fully produced, and manifest. Thus, ‘For one who has association, affections arise.’
‘Do tiếp xúc mà sanh khởi ái luyến’ có nghĩa là: do duyên tiếp xúc qua sự thấy và do duyên tiếp xúc qua sự nghe mà ái luyến do tham ái và ái luyến do tà kiến được sanh ra, được hiện hữu, được phát sanh, được khởi sanh, được hình thành, được hoàn toàn hình thành, được biểu hiện – (đó là nghĩa của) ‘do tiếp xúc mà sanh khởi ái luyến’.
Snehanvayaṃ dukkhamidaṃ pahotīti. Snehoti dve snehā – taṇhāsneho ca diṭṭhisneho ca…pe… ayaṃ taṇhāsneho…pe… ayaṃ diṭṭhisneho. Dukkhamidaṃ pahotīti idhekacco kāyena duccaritaṃ carati, vācāya duccaritaṃ carati, manasā duccaritaṃ carati, pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, sandhimpi chindati, nillopampi † harati, ekāgārikampi karoti, paripanthepi tiṭṭhati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati. Tamenaṃ gahetvā rañño dassenti – ‘‘ayaṃ, deva, coro āgucārī. Imassa yaṃ icchasi taṃ daṇḍaṃ paṇehī’’ti. Tamenaṃ rājā taṃ paribhāsati. So paribhāsapaccayāpi dukkhaṃ domanassaṃ † paṭisaṃvedeti. Etaṃ bhayaṃ dukkhaṃ domanassaṃ kuto jātaṃ? Tassa snehapaccayā ca nandipaccayā ca rāgapaccayā ca nandirāgapaccayā ca jātaṃ.
‘From the twofold affection, this suffering arises.’ Affection is of two kinds: affection due to craving and affection due to views… this is affection due to craving… this is affection due to views. ‘This suffering arises’: Here, a certain person engages in misconduct by body, misconduct by speech, and misconduct by mind. He kills living beings, takes what is not given, breaks into houses, plunders, commits burglary, commits highway robbery, goes to another's wife, and speaks falsehoods. Then they seize him and present him to the king, saying, 'Your Majesty, this is a thief, a wrongdoer. Impose on him whatever punishment you wish.' The king then reviles him. Conditioned by that reviling, he experiences suffering and displeasure. From where have this fear, suffering, and displeasure arisen? They have arisen for him conditioned by affection, conditioned by delight, conditioned by lust, and conditioned by delight-lust.
‘Khổ này sanh khởi từ hai loại ái luyến.’ Ái luyến là gì? Có hai loại ái luyến: ái luyến do tham ái và ái luyến do tà kiến... (vân vân)... đây là ái luyến do tham ái... (vân vân)... đây là ái luyến do tà kiến. ‘Khổ này sanh khởi’ có nghĩa là: ở đây, có người làm điều ác hạnh qua thân, làm điều ác hạnh qua lời, làm điều ác hạnh qua ý; người ấy sát sanh, lấy của không cho, phá vỡ tường rào, cướp bóc, đột nhập nhà người, đứng chặn đường, đi đến vợ người khác, nói dối. Người ta bắt kẻ ấy và trình lên vua: ‘Tâu đại vương, đây là tên trộm, kẻ phạm tội. Xin hãy áp dụng hình phạt nào mà ngài muốn đối với kẻ này.’ Vua quở trách kẻ ấy. Do duyên bị quở trách, người ấy cảm thọ khổ và ưu. Sự sợ hãi, khổ, ưu này sanh từ đâu? Nó sanh ra do duyên ái luyến, do duyên hoan hỷ, do duyên tham ái, và do duyên tham ái đi kèm với hoan hỷ của người ấy.
Ettakenapi rājā na tussati. Tamenaṃ rājā bandhāpeti – andubandhanena vā rajjubandhanena vā saṅkhalikabandhanena vā vettabandhanena vā latābandhanena vā pakkhepabandhanena vā parikkhepabandhanena vā gāmabandhanena vā nigamabandhanena vā raṭṭhabandhanena vā janapadabandhanena vā, antamaso savacanīyampi karoti – ‘‘na te labbhā ito pakkamitu’’nti. So bandhanapaccayāpi dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Etaṃ bhayaṃ dukkhaṃ domanassaṃ kuto jātaṃ? Tassa snehapaccayā ca nandipaccayā ca rāgapaccayā ca nandirāgapaccayā ca jātaṃ.
But the king is not satisfied with just this. The king has him bound—with fetters, or ropes, or chains, or canes, or vines; or by imprisonment, or by encirclement, or by village confinement, or by town confinement, or by country confinement, or by provincial confinement; or at the very least, he makes him subject to his word: 'You are not allowed to leave from here.' Conditioned by that bondage, he experiences suffering and displeasure. From where have this fear, suffering, and displeasure arisen? They have arisen for him conditioned by affection, conditioned by delight, conditioned by lust, and conditioned by delight-lust.
Dù chỉ với chừng ấy, nhà vua vẫn không hài lòng. Nhà vua cho trói buộc người ấy lại – hoặc bằng cùm gỗ, hoặc bằng dây thừng, hoặc bằng xiềng xích, hoặc bằng dây mây, hoặc bằng dây leo, hoặc bằng cách giam giữ, hoặc bằng cách vây hãm, hoặc bằng cách quản thúc tại làng, hoặc bằng cách quản thúc tại thị trấn, hoặc bằng cách quản thúc tại xứ, hoặc bằng cách quản thúc tại quận; cho đến nỗi, nhà vua còn ra lệnh bằng lời nói: ‘Ngươi không được phép rời khỏi nơi này.’ Do duyên bị trói buộc, người ấy cảm thọ sự khổ, sự ưu. Nỗi sợ hãi, sự khổ, sự ưu này từ đâu sanh ra? Nó sanh ra do duyên ái luyến, do duyên hoan hỷ, do duyên tham ái, và do duyên tham ái đi kèm với hoan hỷ của người ấy.
Ettakenapi rājā na tussati. Tamenaṃ rājā tasseva † dhanaṃ āharāpeti – sataṃ vā sahassaṃ vā satasahassaṃ vā. So dhanajānipaccayāpi dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Etaṃ bhayaṃ dukkhaṃ domanassaṃ kuto jātaṃ? Tassa snehapaccayā ca nandipaccayā ca rāgapaccayā ca nandirāgapaccayā ca jātaṃ.
Even with just this, the king is not satisfied. The king has that man's wealth confiscated—a hundred, or a thousand, or a hundred thousand. Conditioned by the loss of his wealth, he experiences suffering and displeasure. From what have this fear, suffering, and displeasure arisen? They have arisen conditioned by his affection, conditioned by delight, conditioned by lust, and conditioned by craving born of delight.
Dù chỉ với chừng ấy, nhà vua vẫn không hài lòng. Nhà vua cho tịch thu tài sản của chính người ấy – hoặc một trăm, hoặc một ngàn, hoặc một trăm ngàn. Do duyên mất mát tài sản, người ấy cảm thọ sự khổ, sự ưu. Nỗi sợ hãi, sự khổ, sự ưu này từ đâu sanh ra? Nó sanh ra do duyên ái luyến, do duyên hoan hỷ, do duyên tham ái, và do duyên tham ái đi kèm với hoan hỷ của người ấy.
Ettakenapi rājā na tussati. Tamenaṃ rājā vividhā kammakāraṇā † kārāpeti – kasāhipi tāḷeti, vettehipi tāḷeti, aḍḍhadaṇḍehipi tāḷeti, hatthampi chindati, pādampi chindati, hatthapādampi chindati, kaṇṇampi chindati, nāsampi chindati, kaṇṇanāsampi chindati, bilaṅgathālikampi karoti, saṅkhamuṇḍikampi karoti, rāhumukhampi karoti, jotimālikampi karoti, hatthapajjotikampi karoti, erakavattikampi † karoti, cīrakavāsikampi karoti, eṇeyyakampi karoti, baḷisamaṃsikampi karoti, kahāpaṇikampi karoti, khārāpatacchikampi † karoti, palighaparivattikampi karoti, palālapīṭhakampi karoti, tattenapi telena osiñcati, sunakhehipi khādāpeti, jīvantampi sūle uttāseti, asināpi sīsaṃ chindati. So kammakāraṇapaccayāpi dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Etaṃ bhayaṃ dukkhaṃ domanassaṃ kuto jātaṃ? Tassa snehapaccayā ca nandipaccayā ca rāgapaccayā ca nandirāgapaccayā ca jātaṃ. Rājā imesaṃ catunnaṃ daṇḍānaṃ issaro.
Even with just this, the king is not satisfied. The king has that man subjected to various kinds of torture: they flog him with whips, cane him with rattans, and beat him with clubs; they cut off his hand, they cut off his foot, they cut off his hand and foot; they cut off his ear, they cut off his nose, they cut off his ear and nose. They perform the ‘gruel-pot’ punishment, the ‘shell-shaven’ punishment, the ‘Rāhu’s mouth’ punishment, the ‘fire-garland’ punishment, the ‘hand-torch’ punishment, the ‘bark-dress’ punishment, the ‘bark-garment’ punishment, the ‘antelope’ punishment, the ‘flesh-hooking’ punishment, the ‘coin-flesh’ punishment, the ‘lye-pickling’ punishment, the ‘turning-the-bolt’ punishment, and the ‘straw-mattress’ punishment. They drench him in boiling oil, have him devoured by dogs, impale him alive on a stake, and cut off his head with a sword. Conditioned by these tortures, he experiences suffering and displeasure. From what have this fear, suffering, and displeasure arisen? They have arisen conditioned by his affection, conditioned by delight, conditioned by lust, and conditioned by craving born of delight. The king is the master of these four punishments.
Dù chỉ với chừng ấy, nhà vua vẫn không hài lòng. Nhà vua cho áp dụng nhiều hình phạt khác nhau đối với người ấy – cho đánh bằng roi da, cho đánh bằng roi mây, cho đánh bằng gậy ngắn; cho chặt tay, cho chặt chân, cho chặt cả tay lẫn chân; cho xẻo tai, cho xẻo mũi, cho xẻo cả tai lẫn mũi; cho áp dụng hình phạt ‘cháo loãng’, cho áp dụng hình phạt ‘đầu vỏ ốc’, cho áp dụng hình phạt ‘miệng La-hầu’, cho áp dụng hình phạt ‘vòng hoa lửa’, cho áp dụng hình phạt ‘đuốc tay’, cho áp dụng hình phạt ‘áo vỏ cây’, cho áp dụng hình phạt ‘áo vải rách’, cho áp dụng hình phạt ‘con nai’, cho áp dụng hình phạt ‘móc câu xẻo thịt’, cho áp dụng hình phạt ‘đồng tiền’, cho áp dụng hình phạt ‘tẩm dung dịch ăn da’, cho áp dụng hình phạt ‘xoay trên cọc’, cho áp dụng hình phạt ‘ghế rơm’; cho tưới dầu sôi, cho chó đói ăn thịt, cho đóng cọc xiên qua người khi còn sống, cho dùng gươm chặt đầu. Do duyên bị hành hình, người ấy cảm thọ sự khổ, sự ưu. Nỗi sợ hãi, sự khổ, sự ưu này từ đâu sanh ra? Nó sanh ra do duyên ái luyến, do duyên hoan hỷ, do duyên tham ái, và do duyên tham ái đi kèm với hoan hỷ của người ấy. Nhà vua là người có quyền lực đối với bốn loại hình phạt này.
So sakena kammena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjati. Tamenaṃ nirayapālā pañcavidhabandhanaṃ nāma kammakāraṇaṃ karonti † – tattaṃ ayokhilaṃ hatthe gamenti, tattaṃ ayokhilaṃ dutiye hatthe gamenti, tattaṃ ayokhilaṃ pāde gamenti, tattaṃ ayokhilaṃ dutiye pāde gamenti, tattaṃ ayokhilaṃ majjhe urasmiṃ gamenti. So tattha dukkhā tibbā † kharā kaṭukā vedanā vedeti; na ca tāva kālaṃ karoti yāva na taṃ pāpakammaṃ byantīhoti. Etaṃ bhayaṃ dukkhaṃ domanassaṃ kuto jātaṃ? Tassa snehapaccayā ca nandipaccayā ca rāgapaccayā ca nandirāgapaccayā ca jātaṃ.
By his own kamma, with the breaking up of the body, after death, he is reborn in the plane of misery, a bad destination, the lower world, in hell. There the hell-wardens inflict on him the punishment called the fivefold bondage: they drive a red-hot iron stake through one hand, a red-hot iron stake through the other hand, a red-hot iron stake through one foot, a red-hot iron stake through the other foot, and a red-hot iron stake through the middle of his chest. There he experiences feelings that are painful, sharp, fierce, and severe; but he does not die so long as that evil kamma is not exhausted. From what have this fear, suffering, and displeasure arisen? They have arisen conditioned by his affection, conditioned by delight, conditioned by lust, and conditioned by lustful delight.
Do nghiệp của chính mình, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Tại đó, các lính canh địa ngục áp dụng hình phạt gọi là ‘ngũ hình trói buộc’ đối với người ấy – họ đóng một cọc sắt nung đỏ vào một tay, đóng một cọc sắt nung đỏ vào tay thứ hai, đóng một cọc sắt nung đỏ vào một chân, đóng một cọc sắt nung đỏ vào chân thứ hai, và đóng một cọc sắt nung đỏ vào giữa ngực. Tại đó, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt, nhức nhối; và người ấy chưa mệnh chung cho đến khi ác nghiệp ấy chưa được trả hết. Nỗi sợ hãi, sự khổ, sự ưu này từ đâu sanh ra? Nó sanh ra do duyên ái luyến, do duyên hoan hỷ, do duyên tham ái, và do duyên tham ái đi kèm với hoan hỷ của người ấy.
Tamenaṃ nirayapālā saṃvesetvā † kuṭhārīhi † tacchanti…pe… tamenaṃ nirayapālā uddhaṃpādaṃ adhosiraṃ gahetvā vāsīhi tacchanti. Tamenaṃ nirayapālā rathe yojetvā ādittāya pathaviyā sampajjalitāya sajotibhūtāya † sārentipi paccāsārentipi. Tamenaṃ nirayapālā mahantaṃ aṅgārapabbataṃ ādittaṃ sampajjalitaṃ sajotibhūtaṃ āropentipi oropentipi. Tamenaṃ nirayapālā uddhaṃpādaṃ adhosiraṃ gahetvā tattāya lohakumbhiyā pakkhipanti ādittāya sampajjalitāya sajotibhūtāya. So tattha pheṇuddehakaṃ paccati. So tattha pheṇuddehakaṃ paccamāno sakimpi uddhaṃ gacchati, sakimpi adho gacchati, sakimpi tiriyaṃ gacchati. So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedeti; na ca tāva kālaṅkaroti yāva na taṃ pāpakammaṃ byantīhoti. Etaṃ bhayaṃ dukkhaṃ domanassaṃ kuto jātaṃ? Tassa snehapaccayā ca nandipaccayā ca rāgapaccayā ca nandirāgapaccayā ca jātaṃ.
Then the hell-wardens lay him down and plane him with adzes… Then the hell-wardens seize him feet up and head down and plane him with hatchets. Then the hell-wardens yoke him to a chariot and drive him back and forth across ground that is burning, blazing, and glowing. Then the hell-wardens make him ascend and descend a great mountain of embers that is burning, blazing, and glowing. Then the hell-wardens seize him feet up and head down and throw him into a hot iron cauldron that is burning, blazing, and glowing. There he is cooked, bubbling with foam. While being cooked and bubbling with foam, he is swept now up, now down, and now across. There he experiences feelings that are painful, sharp, fierce, and severe; but he does not die so long as that evil kamma is not exhausted. From what have this fear, suffering, and displeasure arisen? They have arisen conditioned by his affection, conditioned by delight, conditioned by lust, and conditioned by lustful delight.
Các lính canh địa ngục cho người ấy nằm xuống rồi dùng rìu đẽo... (v.v.)... Các lính canh địa ngục nắm lấy chân hướng lên, đầu chúc xuống rồi dùng búa đẽo. Các lính canh địa ngục thắng người ấy vào xe rồi kéo tới kéo lui trên mặt đất rực lửa, cháy bừng, chói sáng. Các lính canh địa ngục cho người ấy leo lên, leo xuống một ngọn núi than hồng lớn, rực lửa, cháy bừng, chói sáng. Các lính canh địa ngục nắm lấy chân hướng lên, đầu chúc xuống rồi ném vào một vạc đồng đang sôi, rực lửa, cháy bừng, chói sáng. Người ấy bị nấu sôi sùng sục ở trong đó. Khi bị nấu sôi sùng sục ở trong đó, có lúc người ấy trồi lên, có lúc chìm xuống, có lúc trôi ngang. Tại đó, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt, nhức nhối; và người ấy chưa mệnh chung cho đến khi ác nghiệp ấy chưa được trả hết. Nỗi sợ hãi, sự khổ, sự ưu này từ đâu sanh ra? Nó sanh ra do duyên ái luyến, do duyên hoan hỷ, do duyên tham ái, và do duyên tham ái đi kèm với hoan hỷ của người ấy.
Tamenaṃ nirayapālā mahāniraye pakkhipanti. So kho pana mahānirayo –
Then the hell-wardens cast him into the Great Hell. Now, that Great Hell is:
Các lính canh địa ngục ném người ấy vào đại địa ngục. Và này, đại địa ngục ấy –
Catukkaṇṇo catudvāro, vibhatto bhāgaso mito;
Ayopākārapariyanto, ayasā paṭikujjito.
It is four-cornered, divided by four gates, measured by portions; it is encircled by an iron wall and covered over with iron.
Có bốn góc, bốn cửa, được phân chia thành các phần đều nhau; được bao quanh bởi tường sắt, được lợp mái bằng sắt.
Tassa ayomayā bhūmi, jalitā tejasā yutā;
Samantā yojanasataṃ, pharitvā tiṭṭhati sabbadā.
Its ground is made of iron, blazing and endowed with heat; always, it stands, pervading a hundred yojanas all around.
Sàn của nó bằng sắt, rực lửa, đầy sức nóng; luôn luôn trải rộng một trăm do-tuần khắp mọi phía.
Kadariyātapanā † ghorā, accimanto durāsadā;
Lomahaṃsanarūpā ca, bhesmā paṭibhayā dukhā.
Severely tormenting, terrible, flaming, and hard to approach; hair-raising in nature, dreadful, fear-inducing, and painful.
Luôn thiêu đốt, khủng khiếp, rực lửa, khó đến gần; có hình tướng dựng tóc gáy, ghê rợn, đáng sợ, đau khổ.
Puratthimāya ca bhittiyā, accikkhandho samuṭṭhito;
Ḍahanto pāpakammante, pacchimāya paṭihaññati.
From the eastern wall a mass of flame arises; burning those of evil kamma, it strikes against the western wall.
Từ bức tường phía đông, một khối lửa dấy lên; thiêu đốt những kẻ làm ác, nó đập vào bức tường phía tây.
Pacchimāya ca bhittiyā, accikkhandho samuṭṭhito;
Ḍahanto pāpakammante, purimāya paṭihaññati.
From the western wall a mass of flame arises; burning those of evil kamma, it strikes against the eastern wall.
Từ bức tường phía tây, một khối lửa dấy lên; thiêu đốt những kẻ làm ác, nó đập vào bức tường phía đông.
Dakkhiṇāya ca bhittiyā, accikkhandho samuṭṭhito;
Ḍahanto pāpakammante, uttarāya paṭihaññati.
From the southern wall a mass of flame arises; burning those of evil kamma, it strikes against the northern wall.
Từ bức tường phía nam, một khối lửa dấy lên; thiêu đốt những kẻ làm ác, nó đập vào bức tường phía bắc.
Uttarāya ca bhittiyā, accikkhandho samuṭṭhito;
Ḍahanto pāpakammante, dakkhiṇāya paṭihaññati.
From the northern wall a mass of flame arises; burning those of evil kamma, it strikes against the southern wall.
Từ bức tường phía bắc, một khối lửa dấy lên; thiêu đốt những kẻ làm ác, nó đập vào bức tường phía nam.
Heṭṭhato ca samuṭṭhāya, accikkhandho bhayānako;
Ḍahanto pāpakammante, chadanasmiṃ paṭihaññati.
From below a terrifying mass of flame arises; burning those of evil kamma, it strikes against the roof.
Và từ bên dưới dấy lên, một khối lửa kinh hoàng; thiêu đốt những kẻ làm ác, nó đập vào mái nhà.
Chadanamhā samuṭṭhāya, accikkhandho bhayānako;
Ḍahanto pāpakammante, bhūmiyaṃ paṭihaññati.
From the roof a terrifying mass of flame arises; burning those of evil kamma, it strikes against the ground.
Từ mái nhà dấy lên, một khối lửa kinh hoàng; thiêu đốt những kẻ làm ác, nó đập xuống sàn nhà.
Ayokapālamādittaṃ, santattaṃ jalitaṃ yathā;
Evaṃ avīcinirayo, heṭṭhā upari passato.
Just as an iron pan is blazing, glowing hot, and flaming, so the Avīci hell blazes, seen from below and above.
Như chảo sắt rực lửa, nóng bỏng, bốc cháy thế nào; Địa ngục Vô Gián cũng vậy, bốc lửa từ bên dưới, bên trên, và các phía.
Tattha sattā mahāluddā, mahākibbisakārino;
Accantapāpakammantā, paccanti na ca miyyare †.
There beings are extremely miserable, performers of great evil, of utterly evil kamma; they are cooked but do not die.
Ở đó, các chúng sanh phải chịu đại khổ, là những kẻ đã làm điều ác lớn, có nghiệp ác tột cùng, bị nấu chín mà không chết.
Jātavedasamo kāyo, tesaṃ nirayavāsinaṃ;
Passa kammānaṃ daḷhattaṃ, na bhasmā hoti napi masi.
The bodies of those hell-dwellers are like fire. See the firmness of their kamma: they become neither ash nor soot.
Thân của những chúng sanh trong địa ngục ấy giống như lửa. Hãy xem sự vững chắc của nghiệp, (thân ấy) không thành tro, cũng không thành than.
Puratthimenapi dhāvanti, tato dhāvanti pacchimaṃ;
Uttarenapi dhāvanti, tato dhāvanti dakkhiṇaṃ.
They run towards the east, and from there they run to the west; they run towards the north, and from there they run to the south.
Họ chạy về hướng đông, rồi từ đó họ chạy về hướng tây; Họ cũng chạy về hướng bắc, rồi từ đó họ chạy về hướng nam.
Yaṃ yaṃ disaṃ padhāvanti, taṃ taṃ dvāraṃ pidhīyati;
Abhinikkhamitāsā te, sattā mokkhagavesino.
Whatever direction they rush, that very door is shut. Desiring to escape, those beings are seekers of release.
Họ chạy về phương hướng nào, cửa ở hướng đó liền đóng lại; Những chúng sanh ấy, mong muốn thoát ra, tìm kiếm sự giải thoát.
Na te tato nikkhamituṃ, labhanti kammapaccayā;
Tesañca pāpakammantaṃ, avipakkaṃ kataṃ bahunti.
They do not get to escape from there on account of their kamma, for much evil kamma done by them is still unripened.
Do duyên nghiệp, họ không thể thoát ra khỏi nơi đó; Và họ vẫn còn nhiều nghiệp ác đã làm chưa trổ quả.
Etaṃ bhayaṃ dukkhaṃ domanassaṃ kuto jātaṃ? Tassa snehapaccayā ca nandipaccayā ca rāgapaccayā ca nandirāgapaccayā ca jātaṃ.
Whence have this fear, suffering, and dejection arisen? They have arisen with affection as a condition, with delight as a condition, with lust as a condition, and with delight-and-lust as a condition.
Sự sợ hãi, khổ đau, ưu phiền này từ đâu sanh khởi? Nó sanh khởi do duyên ái luyến, do duyên hoan hỷ, do duyên tham ái, và do duyên tham ái mãnh liệt.
Yāni ca nerayikāni dukkhāni yāni ca tiracchānayonikāni dukkhāni yāni ca pettivisayikāni dukkhāni yāni ca mānusikāni dukkhāni, tāni kuto jātāni kuto sañjātāni kuto nibbattāni kuto abhinibbattāni kuto pātubhūtāni? Tassa snehapaccayā ca nandipaccayā ca rāgapaccayā ca nandirāgapaccayā ca bhavanti sambhavanti jāyanti sañjāyanti nibbattanti abhinibbattanti pātubhavantīti – snehanvayaṃ dukkhamidaṃ pahoti.
Whatever sufferings there are in hell, and whatever sufferings in the animal realm, and whatever sufferings in the sphere of petas, and whatever human sufferings; from what cause are they born? From what cause do they intensely arise? From what cause are they produced? From what cause are they fully produced? From what cause do they manifestly arise? They are, they well arise, they are born, they are well born, they are produced, they are fully produced, and they manifestly arise due to affection as a condition, due to delight as a condition, due to lust as a condition, and due to intense lust and craving as a condition. This is the meaning of the phrase: 'This suffering arises following from affection.'
Những khổ ở địa ngục, những khổ ở loài súc sanh, những khổ ở cõi ngạ quỷ, và những khổ ở cõi người, những khổ ấy từ đâu sanh, từ đâu đồng sanh, từ đâu phát sanh, từ đâu hoàn toàn phát sanh, từ đâu hiện khởi? Chúng hiện hữu, đồng hiện hữu, sanh khởi, đồng sanh khởi, phát sanh, hoàn toàn phát sanh, hiện khởi là do duyên ái luyến, do duyên hoan hỷ, do duyên tham ái, và do duyên tham ái mãnh liệt – (đó là ý nghĩa của câu:) ‘Sự khổ này phát sanh đi kèm với ái luyến’.
Ādīnavaṃ snehajaṃ pekkhamānoti. Snehoti dve snehā – taṇhāsneho ca diṭṭhisneho ca…pe… ayaṃ taṇhāsneho…pe… ayaṃ diṭṭhisneho. Ādīnavaṃ snehajaṃ pekkhamānoti taṇhāsneho ca diṭṭhisneho ca ādīnavaṃ snehajaṃ pekkhamāno dakkhamāno olokayamāno nijjhāyamāno upaparikkhamānoti – ādīnavaṃ snehajaṃ pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
Regarding the phrase, 'Seeing the danger born of affection': 'Affection' means there are two kinds of affection: affection by way of craving and affection by way of views... This is affection by way of craving... This is affection by way of views. 'Seeing the danger born of affection' means: considering, seeing, investigating, contemplating, and examining the danger born from these two kinds of affection. This is the meaning of 'Seeing the danger born of affection'. One should fare alone like a rhinoceros horn. Therefore, that Paccekasambuddha said:
Trong câu ‘Thấy rõ sự nguy hại sanh từ ái luyến’. Ái luyến (sneha) có hai loại – ái luyến do tham ái (taṇhāsneha) và ái luyến do tà kiến (diṭṭhisneha)... (v.v.)... Đây là ái luyến do tham ái... (v.v.)... Đây là ái luyến do tà kiến. ‘Thấy rõ sự nguy hại sanh từ ái luyến’ nghĩa là: trong khi nhận thấy, thấy, xem xét, quán chiếu, thẩm sát sự nguy hại sanh từ hai loại ái luyến là ái luyến do tham ái và ái luyến do tà kiến – (đó là ý nghĩa của câu) ‘Thấy rõ sự nguy hại sanh từ ái luyến, hãy sống một mình như sừng tê ngưu’. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng –
‘‘Saṃsaggajātassa bhavanti snehā, snehanvayaṃ dukkhamidaṃ pahoti;
Ādīnavaṃ snehajaṃ pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“For one who has formed associations, affections arise; this suffering arises following from affection. Seeing the danger born of affection, one should fare alone like a rhinoceros horn.”
‘Đối với người có sự giao du, các ái luyến sanh khởi; sự khổ này phát sanh đi kèm với ái luyến. Thấy rõ sự nguy hại sanh từ ái luyến, hãy sống một mình như sừng tê ngưu’.
123.
123.
123.
Mitte suhajje anukampamāno, hāpeti atthaṃ paṭibaddhacitto † ;
Etaṃ bhayaṃ santhave † pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
Being compassionate toward friends and companions, with a bound mind, one causes one's welfare to diminish. Seeing this danger in intimacy, one should fare alone like a rhinoceros horn.
Do lòng thương xót bạn bè, thân hữu, người có tâm bị ràng buộc làm tổn giảm lợi ích. Thấy rõ sự nguy hại này trong tình thân thiết, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.
Mitte suhajje anukampamāno, hāpeti atthaṃ paṭibaddhacittoti. Mittāti dve mittā – agārikamitto ca anāgārikamitto † ca. Katamo agārikamitto? Idhekacco duddadaṃ dadāti, duccajaṃ cajati, dukkaraṃ karoti, dukkhamaṃ khamati, guyhamassa ācikkhati, guyhamassa parigūhati †, āpadāsu na vijahati, jīvitampissa atthāya pariccattaṃ hoti, khīṇe nātimaññati – ayaṃ agārikamitto.
Regarding the phrase, 'Being compassionate toward friends and companions, with a bound mind, one causes one's welfare to diminish': 'Friend' means there are two kinds of friends: the householder friend and the homeless friend. Who is the householder friend? Here, a certain person gives what is difficult to give, gives up what is difficult to give up, does what is difficult to do, endures what is difficult to endure, tells his own secret to his friend, and keeps his friend's secret; in times of misfortune he does not abandon him, his very life is given up for his friend's sake, and he does not despise him when he is ruined. This is the householder friend.
Trong câu ‘Do lòng thương xót bạn bè, thân hữu, người có tâm bị ràng buộc làm tổn giảm lợi ích’. Bạn bè (mitta) có hai loại – bạn tại gia (agārikamitta) và bạn xuất gia (anāgārikamitta). Thế nào là bạn tại gia? Ở đời này, có người cho vật khó cho, từ bỏ vật khó từ bỏ, làm việc khó làm, kham nhẫn việc khó kham nhẫn, nói cho bạn nghe điều bí mật của mình, che giấu điều bí mật của bạn, không từ bỏ bạn trong lúc hoạn nạn, mạng sống cũng vì lợi ích của bạn mà từ bỏ, không khinh thường khi bạn sa sút – người này là bạn tại gia.
Katamo anāgārikamitto? Idha bhikkhu piyo ca hoti manāpo ca garu ca bhāvanīyo ca vattā ca vacanakkhamo ca gambhīrañca kathaṃ kattā, no ca aṭṭhāne niyojeti adhisīle samādapeti, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvanānuyoge samādapeti, catunnaṃ sammappadhānānaṃ…pe… catunnaṃ iddhipādānaṃ… pañcannaṃ indriyānaṃ… pañcannaṃ balānaṃ… sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ… ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa bhāvanānuyoge samādapeti – ayaṃ anāgārikamitto.
Who is the friend of a renunciant? Here, a bhikkhu is dear and agreeable, respected and esteemed, an admonisher and one who patiently accepts admonition, a speaker on profound topics, and he does not engage one in what is inappropriate. He establishes one in higher virtue; he establishes one in the dedicated practice of developing the four establishments of mindfulness, the four right strivings... the four bases for spiritual power... the five spiritual faculties... the five powers... the seven factors of enlightenment... the Noble Eightfold Path. This is the friend of a renunciant.
Thế nào là bạn xuất gia? Ở đây, vị tỳ khưu đáng mến, đáng hài lòng, đáng kính trọng, đáng tu tập (theo), là người nói (lời hay), kham nhẫn lời nói, có thể nói lời sâu sắc, và không dấn thân vào việc không đúng chỗ; vị ấy làm cho (bạn) an trú trong tăng thượng giới, làm cho an trú trong sự thực hành tu tập bốn niệm xứ, bốn chánh cần... (v.v.)... bốn như ý túc... năm quyền... năm lực... bảy giác chi... làm cho an trú trong sự thực hành tu tập Thánh đạo tám ngành – người này là bạn xuất gia.
Suhajjā vuccanti yehi saha āgamanaṃ phāsu gamanaṃ phāsu ṭhānaṃ phāsu nisajjanaṃ † phāsu sayanaṃ phāsu ālapanaṃ phāsu sallapanaṃ phāsu ullapanaṃ phāsu samullapanaṃ phāsu. Mitte suhajje anukampamāno hāpeti atthanti mitte ca suhajje ca sandiṭṭhe ca sambhatte ca sahāye ca anukampamāno anupekkhamāno anugaṇhamāno attatthampi paratthampi ubhayatthampi hāpeti, diṭṭhadhammikampi atthaṃ hāpeti, samparāyikampi atthaṃ hāpeti, paramatthampi hāpeti pahāpeti parihāpeti paridhaṃseti parivajjeti † antaradhāpetīti – mitte suhajje anukampamāno hāpeti atthaṃ.
Companions are so called because with them it is pleasant to come, pleasant to go, pleasant to stand, pleasant to sit, pleasant to lie down, pleasant to talk, pleasant to converse, pleasant to comment, and pleasant to discuss. ‘Feeling compassion for friends and companions, one neglects the goal’ means: feeling compassion for, being considerate of, and taking care of friends, companions, intimates, comrades, and associates, one neglects one’s own welfare, the welfare of others, and the welfare of both. One neglects the welfare in this present life, the welfare in future lives, and the ultimate welfare. One neglects it, makes it be given up, causes it to diminish, destroys it, shuns it, and makes it disappear. Thus: ‘Feeling compassion for friends and companions, one neglects the goal.’
Những người được gọi là thân hữu (suhajja) là những người mà cùng với họ, việc đến là dễ chịu, việc đi là dễ chịu, việc đứng là dễ chịu, việc ngồi là dễ chịu, việc nằm là dễ chịu, việc bắt chuyện là dễ chịu, việc trò chuyện là dễ chịu, việc nói chuyện khi thấy là dễ chịu, việc trò chuyện nhiều lần khi thấy là dễ chịu. ‘Do lòng thương xót bạn bè, thân hữu, làm tổn giảm lợi ích’ nghĩa là: do lòng thương xót, quan tâm, nâng đỡ bạn bè, thân hữu, người quen biết, người thân cận, và bạn đồng hành, người ấy làm tổn giảm lợi ích của mình, lợi ích của người khác, và lợi ích của cả hai; làm tổn giảm lợi ích trong hiện tại, làm tổn giảm lợi ích trong tương lai, và làm tổn giảm lợi ích tối thượng, làm cho nó tổn giảm hoàn toàn, tổn giảm nhiều lần, hủy hoại, từ bỏ, và biến mất – (đó là ý nghĩa của câu) ‘Do lòng thương xót bạn bè, thân hữu, làm tổn giảm lợi ích’.
Paṭibaddhacittoti dvīhi kāraṇehi paṭibaddhacitto hoti – attānaṃ vā nīcaṃ ṭhapento paraṃ uccaṃ ṭhapento paṭibaddhacitto hoti, attānaṃ vā uccaṃ ṭhapento paraṃ nīcaṃ ṭhapento paṭibaddhacitto hoti. Kathaṃ attānaṃ nīcaṃ ṭhapento paraṃ uccaṃ ṭhapento paṭibaddhacitto hoti? Tumhe me bahūpakārā, ahaṃ tumhe nissāya labhāmi cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ. Yampi † me aññe dātuṃ vā kātuṃ vā maññanti tumhe nissāya tumhe sampassantā. Yampi me porāṇaṃ mātāpettikaṃ nāmagottaṃ, tampi me antarahitaṃ. Tumhehi ahaṃ ñāyāmi – asukassa kulupako, asukāya kulupakoti. Evaṃ attānaṃ nīcaṃ ṭhapento paraṃ uccaṃ ṭhapento paṭibaddhacitto hoti.
‘With a mind attached’: one’s mind is attached for two reasons: one’s mind is attached by placing oneself low and another high, or one’s mind is attached by placing oneself high and another low. How is one’s mind attached by placing oneself low and another high? ‘You are of great help to me. It is by relying on you that I obtain robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites for the sick. And when others think of giving things to me or doing things for me, it is because of you, on seeing me with you. Even my former family and clan name has disappeared. I am known through you as “the dependant of so-and-so,” or “the dependant of so-and-so.”’ In this way one’s mind is attached by placing oneself low and another high.
‘Tâm bị ràng buộc’ (paṭibaddhacitto): do hai nguyên nhân mà tâm bị ràng buộc – hoặc là người ấy có tâm bị ràng buộc khi tự đặt mình vào chỗ thấp và đặt người khác vào chỗ cao, hoặc là người ấy có tâm bị ràng buộc khi tự đặt mình vào chỗ cao và đặt người khác vào chỗ thấp. Thế nào là có tâm bị ràng buộc khi tự đặt mình vào chỗ thấp và đặt người khác vào chỗ cao? (Người ấy nghĩ:) ‘Các vị là người có nhiều ân huệ đối với tôi, nhờ các vị mà tôi nhận được y, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng. Cũng nhờ các vị, khi thấy các vị mà những người khác nghĩ đến việc cho hoặc làm (điều gì đó) cho tôi. Ngay cả tên họ xưa của cha mẹ tôi, nó cũng đã bị che lấp. Vì các vị mà tôi được biết đến là người thường đến nhà của ông kia, là người thường đến nhà của bà nọ’. Như vậy, khi tự đặt mình vào chỗ thấp và đặt người khác vào chỗ cao, người ấy có tâm bị ràng buộc.
Kathaṃ attānaṃ uccaṃ ṭhapento paraṃ nīcaṃ ṭhapento paṭibaddhacitto hoti? Ahaṃ tumhākaṃ bahūpakāro, tumhe maṃ āgamma buddhaṃ saraṇaṃ gatā, dhammaṃ saraṇaṃ gatā, saṅghaṃ saraṇaṃ gatā, pāṇātipātā paṭiviratā, adinnādānā paṭiviratā, kāmesumicchācārā paṭiviratā, musāvādā paṭiviratā, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratā; ahaṃ tumhākaṃ uddesaṃ demi, paripucchaṃ demi, uposathaṃ ācikkhāmi, navakammaṃ adhiṭṭhāmi. Atha pana tumhe maṃ ujjhitvā † aññe sakkarotha garuṃ karotha mānetha pūjethāti. Evaṃ attānaṃ uccaṃ ṭhapento paraṃ nīcaṃ ṭhapento paṭibaddhacitto hotīti – mitte suhajje anukampamāno, hāpeti atthaṃ paṭibaddhacitto.
How is one’s mind attached by placing oneself high and another low? ‘I am of great help to you. It is because of me that you have gone for refuge to the Buddha, the Dhamma, and the Sangha; that you have abstained from the destruction of life, from taking what is not given, from sexual misconduct, from false speech, and from liquor, wine, and intoxicants, which are a basis for negligence. I give you texts for recitation, I give the commentary, I declare the Uposatha, I supervise new work. But now you have abandoned me and you honor, respect, esteem, and venerate others!’ In this way one’s mind is attached by placing oneself high and another low. Thus: ‘Feeling compassion for friends and companions, with a mind attached, one neglects the goal.’
Làm thế nào một người nâng mình lên, hạ người khác xuống, lại có tâm bị trói buộc? ‘Ta là người có nhiều đóng góp cho các ngươi, nhờ nương tựa vào ta mà các ngươi đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, đã từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ dùng các chất say là rượu men, rượu nấu, là cơ sở của sự dễ duôi; ta đã trao cho các ngươi phần học thuộc lòng (uddesa), phần câu hỏi (paripuccha), ta đã thông báo ngày Bố-tát (uposatha), ta đã đảm nhận công việc mới (navakamma). Tuy nhiên, các ngươi lại ruồng bỏ ta mà tôn trọng, kính nể, quý mến, cúng dường những người khác.’ Như vậy, người ấy nâng mình lên, hạ người khác xuống, và có tâm bị trói buộc. – Đây là ý nghĩa của câu: ‘Vì thương xót bạn bè thân hữu, người có tâm bị trói buộc làm mất đi lợi ích.’
Etaṃ bhayaṃ santhave pekkhamānoti. Bhayanti jātibhayaṃ jarābhayaṃ byādhibhayaṃ maraṇabhayaṃ rājabhayaṃ corabhayaṃ aggibhayaṃ udakabhayaṃ attānuvādabhayaṃ parānuvādabhayaṃ daṇḍabhayaṃ duggatibhayaṃ ūmibhayaṃ kumbhilabhayaṃ āvaṭṭabhayaṃ susumārabhayaṃ † ājīvikabhayaṃ asilokabhayaṃ parisasārajjabhayaṃ madanabhayaṃ bhayānakaṃ chambhitattaṃ lomahaṃso cetaso ubbego utrāso. Santhaveti dve santhavā – taṇhāsanthavo ca diṭṭhisanthavo ca…pe… ayaṃ taṇhāsanthavo…pe… ayaṃ diṭṭhisanthavo. Etaṃ bhayaṃ santhave pekkhamānoti etaṃ bhayaṃ santhave pekkhamāno dakkhamāno olokayamāno nijjhāyamāno upaparikkhamānoti – etaṃ bhayaṃ santhave pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
‘Seeing this danger in intimacy.’ Fear means: the fear of birth, fear of aging, fear of illness, fear of death; fear of kings, fear of thieves, fear of fire, fear of water; fear of self-reproach, fear of others’ reproach, fear of punishment, fear of a bad destination; fear of waves, fear of crocodiles, fear of whirlpools, fear of sharks; fear of livelihood, fear of a bad reputation, fear of timidity in assemblies, fear of infatuation; the frightening, trembling, horripilation, mental agitation, and terror. Intimacy: there are two kinds of intimacy: intimacy as craving and intimacy as views.... This is intimacy as craving.... This is intimacy as views. ‘Seeing this danger in intimacy’ means seeing, observing, contemplating, and investigating this danger in intimacy. Thus, seeing this danger in intimacy, one should wander alone like a rhinoceros. Therefore that Solitary Buddha said:
‘Thấy sự nguy hiểm này trong giao du.’ ‘Sự nguy hiểm’ (bhayaṃ) là: sự nguy hiểm của sanh, sự nguy hiểm của già, sự nguy hiểm của bệnh, sự nguy hiểm của chết, sự nguy hiểm từ vua chúa, sự nguy hiểm từ trộm cướp, sự nguy hiểm từ lửa, sự nguy hiểm từ nước, sự nguy hiểm vì tự khiển trách, sự nguy hiểm vì người khác khiển trách, sự nguy hiểm của hình phạt, sự nguy hiểm của ác thú, sự nguy hiểm của sóng thần, sự nguy hiểm của cá sấu, sự nguy hiểm của nước xoáy, sự nguy hiểm của cá dữ, sự nguy hiểm của sinh kế, sự nguy hiểm của tiếng xấu, sự nguy hiểm của sự rụt rè trong hội chúng, sự nguy hiểm của sự say đắm; sự kinh hãi, sự run rẩy, sự dựng tóc gáy, sự xao động của tâm, sự khiếp sợ. ‘Giao du’ (santhava): có hai loại giao du – giao du do ái và giao du do tà kiến... (vân vân)... đây là giao du do ái... (vân vân)... đây là giao du do tà kiến. ‘Thấy sự nguy hiểm này trong giao du’ nghĩa là: thấy, nhận thấy, nhìn thấy, quán chiếu, xem xét sự nguy hiểm này trong sự giao du. – ‘Thấy sự nguy hiểm này trong giao du, hãy sống một mình như sừng tê giác.’ Vì vậy, vị Phật Độc Giác ấy đã nói:
‘‘Mitte suhajje anukampamāno, hāpeti atthaṃ paṭibaddhacitto;
Etaṃ bhayaṃ santhave pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“Feeling compassion for friends and companions, with a mind attached, one neglects the goal. Seeing this danger in intimacy, one should wander alone like a rhinoceros.”
‘Vì thương xót bạn bè thân hữu, người có tâm bị trói buộc làm mất đi lợi ích; Thấy sự nguy hiểm này trong giao du, hãy sống một mình như sừng tê giác.’
124.
124.
124.
Vaṃso visālova yathā visatto, puttesu dāresu ca yā apekkhā;
Vaṃsakkaḷīrova † asajjamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
Just as a sprawling bamboo thicket is entangled, so is the longing for children and wives. Like a bamboo shoot not getting entangled, one should wander alone like a rhinoceros.
‘Như bụi tre lan rộng bị vướng mắc, sự quyến luyến đối với con cái và vợ cũng vậy; Như búp măng tre không dính mắc, hãy sống một mình như sừng tê giác.’
Vaṃso visālova yathā visattoti vaṃso vuccati veḷugumbo. Yathā veḷugumbasmiṃ porāṇakā vaṃsā sattā † visattā āsattā laggā laggitā palibuddhā, evameva visattikā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo anunayo anurodho nandī nandirāgo cittassa sārāgo icchā mucchā ajjhosānaṃ gedho paligedho saṅgo paṅko ejā māyā janikā sañjananī sibbinī jālinī saritā visattikā suttaṃ visaṭā āyūhanī dutiyā paṇidhi bhavanetti vanaṃ vanatho santhavo sineho apekkhā paṭibandhu āsā āsīsanā āsīsitattaṃ rūpāsā saddāsā gandhāsā rasāsā phoṭṭhabbāsā lābhāsā dhanāsā puttāsā jīvitāsā jappā pajappā abhijappā jappanā jappitattaṃ loluppaṃ loluppāyanā loluppāyitattaṃ pucchañjikatā sādhukamyatā adhammarāgo visamalobho nikanti nikāmanā patthanā pihanā sampatthanā kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā rūpataṇhā arūpataṇhā nirodhataṇhā rūpataṇhā saddataṇhā gandhataṇhā rasataṇhā phoṭṭhabbataṇhā dhammataṇhā ogho yogo gantho upādānaṃ āvaraṇaṃ nīvaraṇaṃ chadanaṃ bandhanaṃ upakkileso anusayo pariyuṭṭhānaṃ latā vevicchaṃ dukkhamūlaṃ dukkhanidānaṃ dukkhappabhavo mārapāso mārabaḷisaṃ māravisayo māranivāso mārabandhanaṃ taṇhānadī taṇhājālaṃ taṇhāgaddulaṃ taṇhāsamuddo abhijjhā lobho akusalamūlaṃ.
“Like a spreading bamboo, entangled”—`vaṃso` is called a bamboo thicket. Just as in a bamboo thicket, old bamboos are attached, entangled, clinging, fastened, stuck, and entwined, so too is craving called the entangler. It is lust, intense passion, inclination, compliance, delight, passionate delight, lust of the mind; desire, infatuation, clinging, greed, intense greed; attachment, mire, agitation, illusion; the generatrix, the producer of affliction, the seamstress, the net, the oozing, the entangler, the thread, diffuseness, the accumulator, the companion, aspiration, the guide to existence; the forest, the jungle-thicket, intimacy, affection, expectation, bondage; hope, wishing, the state of wishing; hope for forms, hope for sounds, hope for smells, hope for tastes, hope for tangibles, hope for gain, hope for wealth, hope for life; longing, fervent longing, intense longing, the act of longing, the state of one who longs; greediness, being greedy, the state of being greedy; fondling, desire for the agreeable; unrighteous lust, inordinate greed; liking, desiring, wish, longing, fervent wishing; craving for sensual pleasures, craving for existence, craving for non-existence; craving for forms, craving for the formless, craving for cessation; craving for forms, craving for sounds, craving for smells, craving for tastes, craving for tangibles, craving for mental phenomena; the flood, the yoke, the tie, grasping; the veil, the hindrance, the covering, the bond; the defilement, the underlying tendency, the obsession, the creeper, variety; the root of suffering, the source of suffering, the origin of suffering; Māra’s snare, Māra’s hook, Māra’s domain, Māra’s dwelling, Māra’s bond; the river of craving, the net of craving, the leash of craving, the ocean of craving; covetousness, greed, the unwholesome root.
Trong câu ‘Như bụi tre lan rộng bị vướng mắc’: ‘Bụi tre’ (vaṃso) được gọi là lùm tre. Giống như trong một lùm tre, những cây tre cũ bị dính mắc, vướng víu, bám chặt, quyến luyến, dính liền, ràng buộc, cũng vậy, ái được gọi là ‘sự vướng mắc’ (visattikā). Bất cứ tham ái, tham ái mãnh liệt, sự tùy thuận, sự không chống đối, sự hoan hỷ, tham ái trong sự hoan hỷ, sự tham ái mãnh liệt của tâm, sự mong muốn, sự mê muội, sự đắm chìm, sự tham lam, sự tham lam hoàn toàn, sự dính mắc, vũng lầy, sự rung động, sự lừa dối, cái sanh ra, cái tạo ra, cái may vá, cái lưới, dòng sông, sự vướng mắc, sợi chỉ, sự lan tràn, sự cố gắng, người bạn đồng hành, sự ước nguyện, cái dẫn đến cõi hữu, khu rừng, khu rừng rậm, sự giao du, tình thương, sự quyến luyến, sự ràng buộc, hy vọng, sự mong cầu, trạng thái mong cầu, hy vọng vào sắc, hy vọng vào thanh, hy vọng vào hương, hy vọng vào vị, hy vọng vào xúc, hy vọng vào lợi lộc, hy vọng vào tài sản, hy vọng vào con cái, hy vọng vào sự sống, sự lẩm bẩm, sự lẩm bẩm nhiều, sự lẩm bẩm quá mức, sự lẩm bẩm, trạng thái lẩm bẩm, sự tham lam, sự tham lam, trạng thái tham lam, sự run rẩy, sự ưa thích điều tốt, sự tham ái bất chính, lòng tham không đúng đắn, sự ưa thích, sự ham muốn, sự cầu mong, sự ao ước, sự cầu mong hoàn toàn, ái dục, ái hữu, ái vô hữu, ái sắc, ái vô sắc, ái diệt, ái đối với sắc, ái đối với thanh, ái đối với hương, ái đối với vị, ái đối với xúc, ái đối với pháp, bộc lưu, ách縛, triền phược, thủ, cái che chướng, triền cái, cái che đậy, sự trói buộc, tùy phiền não, tùy miên, sự bao trùm, dây leo, sự đa dạng, gốc rễ của khổ, nguyên nhân của khổ, nguồn gốc của khổ, cạm bẫy của ma, lưỡi câu của ma, cảnh giới của ma, nơi ở của ma, sự trói buộc của ma, sông ái, lưới ái, cái bẫy ái, biển ái, sự tham lam, lòng tham, là gốc rễ bất thiện.
Visattikāti kenaṭṭhena visattikā? Visālāti visattikā visatāti visattikā, visaṭāti visattikā, visamāti visattikā, visakkatīti visattikā, visaṃharatīti visattikā, visaṃvādikāti visattikā, visamūlāti visattikā, visaphalāti visattikā, visaparibhogāti visattikā. Visālā vā pana taṇhā rūpe sadde gandhe rase phoṭṭhabbe kule gaṇe āvāse lābhe yase pasaṃsāya sukhe cīvare piṇḍapāte senāsane gilānapaccayabhesajjaparikkhāre kāmadhātuyā rūpadhātuyā arūpadhātuyā kāmabhave rūpabhave arūpabhave saññābhave asaññābhave nevasaññānāsaññābhave ekavokārabhave catuvokārabhave pañcavokārabhave atīte anāgate paccuppanne diṭṭhasutamutaviññātabbesu dhammesu visatā vitthatāti – visattikāti – vaṃso visālova yathā visatto.
Why is it called the entangler? Because it expands (`visālā`), because it spreads (`visata`), because it is diffuse (`visaṭa`), because it is uneven (`visama`), because it spreads about (`visakkati`), because it brings suffering (`visaṃharati`), because it is deceitful (`visaṃvādikā`), because it is the cause of kamma that produces suffering (`visamūlā`), because it has a painful fruit (`visaphalā`), because its partaking is of suffering (`visaparibhogā`). Or, because craving pervades and spreads over forms, sounds, smells, tastes, tangibles, families, groups, dwellings, gain, honor, praise, pleasure, robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites for the sick; over the sensual-sphere realm, the form-sphere realm, and the formless-sphere realm; over sensual existence, form existence, and formless existence; over existence with perception, existence without perception, and existence with neither-perception-nor-non-perception; over one-constituent existence, four-constituent existence, and five-constituent existence; over the past, the future, and the present; over things seen, heard, sensed, and cognized—thus it is called the entangler, like a spreading bamboo, entangled.
‘Sự vướng mắc’ (visattikā): Do ý nghĩa nào mà gọi là ‘sự vướng mắc’? Vì nó lan rộng (visālā) nên gọi là visattikā; vì nó xâm nhập (visatā) nên gọi là visattikā; vì nó lan tràn (visaṭā) nên gọi là visattikā; vì nó không đồng đều (visamā) nên gọi là visattikā; vì nó dính mắc (visakkati) nên gọi là visattikā; vì nó mang đến nọc độc (visaṃharati) nên gọi là visattikā; vì nó lừa dối (visaṃvādikā) nên gọi là visattikā; vì nó có gốc rễ độc hại (visamūlā) nên gọi là visattikā; vì nó có kết quả độc hại (visaphalā) nên gọi là visattikā; vì nó có sự thụ hưởng độc hại (visaparibhogā) nên gọi là visattikā. Hoặc là, ái đó lan rộng (visālā) trong sắc, thanh, hương, vị, xúc, trong gia đình, trong đoàn thể, trong trú xứ, trong lợi lộc, trong danh vọng, trong lời tán dương, trong sự an lạc, trong y phục, trong vật thực khất thực, trong sàng tọa, trong dược phẩm trị bệnh cho người bệnh, trong Dục giới, trong Sắc giới, trong Vô sắc giới, trong cõi Dục, trong cõi Sắc, trong cõi Vô sắc, trong cõi Tưởng, trong cõi Vô tưởng, trong cõi Phi tưởng phi phi tưởng, trong cõi Một uẩn, trong cõi Bốn uẩn, trong cõi Năm uẩn, trong quá khứ, trong tương lai, trong hiện tại, trong các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận thức; nó xâm nhập và lan tràn. – Vì vậy gọi là ‘sự vướng mắc’ (visattikā). – ‘Như bụi tre lan rộng bị vướng mắc.’
Puttesu dāresu ca yā apekkhāti. Puttāti cattāro puttā – atrajo putto, khettajo putto, dinnako putto, antevāsiko putto. Dārā vuccanti bhariyāyo. Apekkhā vuccanti taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlanti – puttesu dāresu ca yā apekkhā.
“The longing for sons and wives”: `puttā` (sons) are of four kinds: a son born of one’s own loins (`atrajo`), a temporary son (`khettajo`), one who is given (`dinnako`), and a pupil (`antevāsiko`). By `dārā` wives are meant. By `apekkhā` (longing) craving is meant. That which is lust, strong lust …pe… covetousness, greed, the unwholesome root—this is “the longing for sons and wives.”
Trong câu ‘Sự quyến luyến đối với con cái và vợ’: ‘Con cái’ (puttā): có bốn loại con trai – con do mình sanh ra (atrajo putto), con sanh trong ruộng của mình (khettajo putto), con được cho (dinnako putto), con là đệ tử (antevāsiko putto). ‘Vợ’ (dārā) được gọi là những người vợ (bhariyāyo). ‘Sự quyến luyến’ (apekkhā) được gọi là ái (taṇhā). Bất cứ tham ái, tham ái mãnh liệt nào... (vân vân)... sự tham lam, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. – Đây là ý nghĩa của câu ‘Sự quyến luyến đối với con cái và vợ’.
Vaṃsakkaḷīrova asajjamānoti vaṃso vuccati veḷugumbo. Yathā veḷugumbasmiṃ taruṇakā kaḷīrakā † asattā alaggā agadhitā † apalibuddhā nikkhantā nissaṭā vippamuttā evameva. Sajjāti dve sajjanā – taṇhāsajjanā ca diṭṭhisajjanā ca…pe… ayaṃ taṇhāsajjanā…pe… ayaṃ diṭṭhisajjanā. Tassa paccekasambuddhassa taṇhāsajjanā pahīnā, diṭṭhisajjanā paṭinissaṭṭhā. Taṇhāsajjanāya pahīnattā diṭṭhisajjanāya paṭinissaṭṭhattā so paccekasambuddho rūpe na sajjati sadde na sajjati gandhe na sajjati rase na sajjati phoṭṭhabbe na sajjati kule…pe… gaṇe… āvāse… lābhe… yase… pasaṃsāya… sukhe… cīvare… piṇḍapāte… senāsane… gilānapaccayabhesajjaparikkhāre… kāmadhātuyā… rūpadhātuyā… arūpadhātuyā… kāmabhave… rūpabhave… arūpabhave… saññābhave… asaññābhave… nevasaññānāsaññābhave… ekavokārabhave… catuvokārabhave… pañcavokārabhave… atīte… anāgate… paccuppanne… diṭṭhasutamutaviññātabbesu dhammesu na sajjati na gaṇhāti na bajjhati na palibajjhati na mucchati; nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – vaṃsakkaḷīrova asajjamāno, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
“Like a bamboo shoot, not clinging”: By `vaṃsa` is meant a bamboo thicket. Just as in a bamboo thicket the young shoots are unattached, unclinging, unentangled, unobstructed, having come forth, detached, and fully released, so too…. Clinging (`sajjanā`) is of two kinds: the clinging of craving and the clinging of views …pe… this is the clinging of craving …pe… this is the clinging of views. For that Paccekabuddha, the clinging of craving is abandoned, the clinging of views is relinquished. Because the clinging of craving has been abandoned and the clinging of views has been relinquished, that Paccekabuddha does not cling to forms, does not cling to sounds, does not cling to smells, does not cling to tastes, does not cling to tangibles, does not cling to families …pe… groups … dwellings … gain … honor … praise … happiness … robes … almsfood … lodgings … medicinal requisites for the sick … the sensual sphere … the form sphere … the formless sphere … sensual existence … form existence … formless existence … existence with perception … existence without perception … existence with neither-perception-nor-non-perception … one-constituent existence … four-constituent existence … five-constituent existence … the past … the future … the present … he does not cling to, grasp, get bound, become ensnared, or become infatuated with things seen, heard, sensed, and cognized. He dwells having departed, detached, fully released, dissociated, with a mind that has its boundaries removed. Thus: “Like a bamboo shoot, not clinging, one should wander alone like the horn of a rhinoceros.” Therefore that Paccekabuddha said:
“Như măng tre không vướng mắc” (Vaṃsakkaḷīrova asajjamāno) có nghĩa là: Bụi tre được gọi là vaṃso. Giống như trong bụi tre, những mầm măng non không bị dính, không bị vướng, không bị quấn lấy, không bị ràng buộc, đã thoát ra, đã rời khỏi, đã được giải thoát, cũng như thế ấy. Có hai sự dính mắc – sự dính mắc do ái và sự dính mắc do tà kiến... (vân vân)... đây là sự dính mắc do ái... (vân vân)... đây là sự dính mắc do tà kiến. Đối với vị Phật Độc Giác ấy, sự dính mắc do ái đã được đoạn tận, sự dính mắc do tà kiến đã được từ bỏ. Do đã đoạn tận sự dính mắc do ái, do đã từ bỏ sự dính mắc do tà kiến, vị Phật Độc Giác ấy không dính mắc vào sắc, không dính mắc vào thanh, không dính mắc vào hương, không dính mắc vào vị, không dính mắc vào xúc, không dính mắc vào gia tộc... (vân vân)... hội chúng... trú xứ... lợi lộc... danh tiếng... tán dương... lạc... y... vật thực khất thực... sàng tọa... dược phẩm trị bệnh... cõi Dục... cõi Sắc... cõi Vô Sắc... cõi hữu Dục... cõi hữu Sắc... cõi hữu Vô Sắc... cõi hữu Tưởng... cõi hữu Vô Tưởng... cõi hữu Phi Tưởng Phi Phi Tưởng... cõi hữu Một Uẩn... cõi hữu Bốn Uẩn... cõi hữu Năm Uẩn... quá khứ... tương lai... hiện tại... các pháp được thấy, nghe, cảm nhận, nhận biết, vị ấy không dính mắc, không nắm giữ, không bị trói buộc, không bị ràng buộc, không bị mê đắm; đã thoát ra, đã rời khỏi, đã được giải thoát, không còn liên hệ, vị ấy sống với tâm không còn giới hạn – như vậy là ý nghĩa của câu “Như măng tre không vướng mắc, hãy sống một mình như tê ngưu một sừng”. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói:
‘‘Vaṃso visālova yathā visatto, puttesu dāresu ca yā apekkhā;
Vaṃsakkaḷīrova asajjamāno, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“The longing for sons and wives is like a spreading bamboo entangled; but like a bamboo shoot, not clinging, one should wander alone like the horn of a rhinoceros.”
“Sự quyến luyến đối với con cái và vợ, giống như bụi tre rậm rạp chằng chịt; (hãy) như măng tre không vướng mắc, hãy sống một mình như tê ngưu một sừng.”
125.
125.
125.
Migo araññamhi yathā abaddho †, yenicchakaṃ gacchati gocarāya;
Viññū naro seritaṃ pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
Like a deer in the wilderness, unbound, that goes for pasture wherever it wishes; so a wise person, seeing his own freedom, should wander alone like the horn of a rhinoceros.
Như con nai trong rừng không bị trói buộc, đi đến nơi kiếm ăn tùy thích; người trí, nhận thấy sự tự do, hãy sống một mình như tê ngưu một sừng.
Migo araññamhi yathā abaddho, yenicchakaṃ gacchati gocarāyāti. Migoti dve migā – eṇimigo ca pasadamigo ca. Yathā āraññiko † migo araññe pavane caramāno † vissattho gacchati vissattho tiṭṭhati vissattho nisīdati vissattho seyyaṃ kappeti.
“Like a deer in the wilderness, unbound, that goes for pasture wherever it wishes”: By `migo` (deer) two kinds of deer are meant: the black antelope and the spotted deer. Just as a wilderness deer, roaming in the forest and wood, walks without fear, stands without fear, sits without fear, and lies down without fear.
“Như con nai trong rừng không bị trói buộc, đi đến nơi kiếm ăn tùy thích”. Migo (nai) có hai loại – nai đen và nai đốm. Giống như con nai sống trong rừng, khi đi trong rừng rậm, nó đi lại một cách an tâm, đứng một cách an tâm, ngồi một cách an tâm, nằm nghỉ một cách an tâm.
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘seyyathāpi, bhikkhave, āraññiko migo araññe pavane caramāno vissattho gacchati vissattho tiṭṭhati vissattho nisīdati vissattho seyyaṃ kappeti. Taṃ kissa hetu? Anāpāthagato, bhikkhave, luddassa. Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu andhamakāsi māraṃ, apadaṃ † vadhitvā māracakkhuṃ adassanaṃ gato pāpimato’.
This was said by the Blessed One: “Just as, bhikkhus, a wilderness deer roaming in the forest and wood walks without fear, stands without fear, sits without fear, and lies down without fear. For what reason? Because, bhikkhus, it is out of the hunter’s range. So too, bhikkhus, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unwholesome states, a bhikkhu enters and dwells in the first jhāna, which is accompanied by directed thought and evaluation, with rapture and happiness born of seclusion. This bhikkhu, bhikkhus, is said to have made an end of Māra; having utterly destroyed him, he has passed beyond the sight of the eye of the Evil One.”
Điều này đã được Thế Tôn nói: “Này các Tỳ khưu, ví như con nai sống trong rừng, khi đi trong rừng rậm, nó đi lại một cách an tâm, đứng một cách an tâm, ngồi một cách an tâm, nằm nghỉ một cách an tâm. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, vì nó ở ngoài tầm của người thợ săn. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh, có tầm có tứ. Này các Tỳ khưu, Tỳ khưu này được gọi là ‘người đã làm cho Ma vương bị mù, đã phá hủy dấu vết, đã đi đến chỗ mắt Ma không thấy được, kẻ ác ma’.”
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu andhamakāsi māraṃ, apadaṃ vadhitvā māracakkhuṃ adassanaṃ gato pāpimato’.
“Furthermore, bhikkhus, with the subsiding of directed thought and evaluation, a bhikkhu enters and dwells in the second jhāna, which has internal serenity and unification of mind, is without directed thought and evaluation, and has rapture and happiness born of concentration. This bhikkhu, bhikkhus, is said to have made an end of Māra; having utterly destroyed him, he has passed beyond the sight of the eye of the Evil One.”
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu do làm lắng dịu tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sinh, nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ. Này các Tỳ khưu, Tỳ khưu này được gọi là ‘người đã làm cho Ma vương bị mù, đã phá hủy dấu vết, đã đi đến chỗ mắt Ma không thấy được, kẻ ác ma’.”
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu andhamakāsi māraṃ, apadaṃ vadhitvā māracakkhuṃ adassanaṃ gato pāpimato’.
“Furthermore, bhikkhus, with the fading away of rapture, a bhikkhu dwells equanimous, mindful, and clearly comprehending, and he experiences happiness with the body; he enters and dwells in the third jhāna, of which the noble ones declare: ‘He is equanimous, mindful, and dwells happily.’ This bhikkhu, bhikkhus, is said to have made an end of Māra; having utterly destroyed him, he has passed beyond the sight of the eye of the Evil One.”
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu do ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, chứng và trú Thiền thứ ba, mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’. Này các Tỳ khưu, Tỳ khưu này được gọi là ‘người đã làm cho Ma vương bị mù, đã phá hủy dấu vết, đã đi đến chỗ mắt Ma không thấy được, kẻ ác ma’.”
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu andhamakāsi māraṃ, apadaṃ vadhitvā māracakkhuṃ adassanaṃ gato pāpimato’.
Again, bhikkhus, with the abandoning of pleasure and pain, and with the previous passing away of joy and displeasure, a bhikkhu enters and dwells in the fourth jhāna, which is neither painful nor pleasant and includes the purification of mindfulness by equanimity. This bhikkhu, bhikkhus, is said to have made an end of Māra; having utterly destroyed him, he has become invisible to the eye of the evil one.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu do xả lạc, xả khổ, và diệt trừ hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỳ khưu, Tỳ khưu này được gọi là ‘người đã làm cho Ma vương bị mù, đã phá hủy dấu vết, đã đi đến chỗ mắt Ma không thấy được, kẻ ác ma’.”
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṃ samatikkamā paṭighasaññānaṃ atthaṅgamā nānattasaññānaṃ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu andhamakāsi māraṃ, apadaṃ vadhitvā māracakkhuṃ adassanaṃ gato pāpimato’.
Again, bhikkhus, with the complete surmounting of perceptions of form, with the passing away of perceptions of resistance, and with non-attention to perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite,’ a bhikkhu enters and dwells in the base of the infinity of space. This bhikkhu, bhikkhus, is said to have made an end of Māra; having utterly destroyed Māra, he has become invisible to the eye of the evil one.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu do vượt qua hoàn toàn sắc tưởng, do chấm dứt đối ngại tưởng, do không tác ý đến các tưởng sai biệt, với ý niệm ‘hư không là vô biên’, chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Này các Tỳ khưu, Tỳ khưu này được gọi là ‘người đã làm cho Ma vương bị mù, đã phá hủy dấu vết, đã đi đến chỗ mắt Ma không thấy được, kẻ ác ma’.”
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṃ samatikkamma ‘anantaṃ viññāṇa’nti viññāṇañcāyatanaṃ upasampajja viharati…pe….
Again, bhikkhus, by completely surmounting the base of the infinity of space, aware that ‘consciousness is infinite,’ a bhikkhu enters and dwells in the base of the infinity of consciousness …pe….
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu do vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘thức là vô biên’, chứng và trú Thức Vô Biên Xứ... (vân vân)...”
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, sabbaso viññāṇañcāyatanaṃ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṃ upasampajja viharati…pe….
Again, bhikkhus, by completely surmounting the base of the infinity of consciousness, aware that ‘there is nothing,’ a bhikkhu enters and dwells in the base of nothingness …pe….
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, do vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘không có gì cả’, vị ấy chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ... (vân vân)...”
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, sabbaso ākiñcaññāyatanaṃ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṃ upasampajja viharati…pe….
Again, bhikkhus, by completely surmounting the base of nothingness, a bhikkhu enters and dwells in the base of neither-perception-nor-non-perception …pe….
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, do vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, vị ấy chứng và trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ... (vân vân)...”
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṃ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṃ upasampajja viharati, paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu andhamakāsi māraṃ, apadaṃ vadhitvā māracakkhuṃ adassanaṃ gato pāpimato’, tiṇṇo loke visattikaṃ. So vissattho gacchati vissattho tiṭṭhati vissattho nisīdati vissattho seyyaṃ kappeti. Taṃ kissa hetu? Anāpāthagato, bhikkhave, pāpimato’’ti – migo araññamhi yathā abaddho, yenicchakaṃ gacchati gocarāya.
Furthermore, bhikkhus, having entirely transcended the base of neither-perception-nor-non-perception, a bhikkhu enters and abides in the cessation of perception and feeling; and, having seen with wisdom, his taints are utterly destroyed. This bhikkhu, bhikkhus, is said to have made an end of Māra; having utterly destroyed him, he has become invisible to the eye of the evil one, and has crossed over entanglement in the world. He walks unattached, stands unattached, sits unattached, and lies down unattached. For what reason? Because, bhikkhus, he has gone beyond the range of the evil one.
Lại nữa, này các tỳ khưu, sau khi vượt qua hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, vị ấy chứng đạt và an trú Diệt Thọ Tưởng Định. Và sau khi đã thấy bằng trí tuệ, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn tận. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này được gọi là: ‘đã làm cho Ma vương bị mù lòa, sau khi đã hủy diệt dấu vết, đã đi đến chỗ mắt của Ma vương không nhìn thấy được, kẻ ác ma ấy’, đã vượt qua sự dính mắc ở đời. Vị ấy đi không bị ràng buộc, đứng không bị ràng buộc, ngồi không bị ràng buộc, nằm không bị ràng buộc. Điều ấy vì lý do gì? Này các tỳ khưu, vì đã đi ra khỏi tầm ảnh hưởng của kẻ ác ma. (Giống như) con nai trong rừng không bị trói buộc, đi đến nơi kiếm ăn theo ý muốn.
Viññū naro seritaṃ pekkhamānoti. Viññūti paṇḍito paññavā buddhimā ñāṇī vibhāvī medhāvī. Naroti satto māṇavo poso puggalo jīvo jāgu jantu indagu manujo. Serīti dve serī – dhammopi serī puggalopi serī. Katamo dhammo serī? Cattāro satipaṭṭhānā cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo – ayaṃ dhammo serī. Katamo puggalo serī? Yo iminā serinā dhammena samannāgato, so vuccati puggalo serī. Viññū naro seritaṃ pekkhamānoti viññū naro seritaṃ dhammaṃ pekkhamāno, dakkhamāno olokayamāno nijjhāyamāno upaparikkhamānoti – viññū naro seritaṃ pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
“A wise person, observing sovereignty.” ‘Wise’ means intelligent, discerning, sage, knowledgeable, insightful, sagacious. ‘Person’ means a being, a youth, a man, an individual, a living being, one who goes to rebirth, a creature, one who goes by the faculties, a human. ‘Sovereignty’: there are two kinds of sovereignty—the Dhamma is sovereignty and a person is sovereign. What is the Dhamma that is sovereignty? The four establishments of mindfulness, the four right strivings, the four bases for spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, the Noble Eightfold Path—this is the Dhamma that is sovereignty. Who is the person that is sovereign? One who is endowed with this Dhamma of sovereignty is called a person who is sovereign. “A wise person, observing sovereignty” means a wise person observing the Dhamma of sovereignty, seeing it, looking at it, contemplating it, scrutinizing it. “...one should wander alone like a rhinoceros horn.” Therefore that Paccekabuddha said:
Về câu ‘Người trí nhận thấy sự tự tại’: ‘Người trí’ là người có trí, người có tuệ, người có giác, người có tri, người sáng suốt, người minh mẫn. ‘Người’ là chúng sanh, thanh niên, người nuôi dưỡng, cá nhân, sinh linh, sinh vật, sinh thể, người đi bằng các căn, con người. ‘Tự tại’ có hai loại tự tại: tự tại về Pháp và tự tại về cá nhân. Thế nào là tự tại về Pháp? Bốn Niệm Xứ, bốn Chánh Cần, bốn Như Ý Túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác Chi, Thánh Đạo Tám Ngành – đây là tự tại về Pháp. Thế nào là tự tại về cá nhân? Vị nào thành tựu với Pháp tự tại này, vị ấy được gọi là người tự tại. ‘Người trí nhận thấy sự tự tại’ có nghĩa là người trí nhận thấy, thấy rõ, quan sát, chiêm nghiệm, thẩm xét Pháp tự tại. (Do đó) ‘người trí nhận thấy sự tự tại, hãy sống một mình như sừng tê giác.’ Vì thế, vị Độc Giác Phật ấy đã nói:
‘‘Migo araññamhi yathā abaddho, yenicchakaṃ gacchati gocarāya;
Viññū naro seritaṃ pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“As a deer in the forest, unbound, goes for pasture wherever it wishes, a wise person, observing sovereignty, should wander alone like a rhinoceros horn.”
“Như con nai trong rừng không bị trói buộc, đi đến nơi kiếm ăn theo ý muốn; người trí nhận thấy sự tự tại, hãy sống một mình như sừng tê giác.”
126.
126.
126.
Āmantanā hoti sahāyamajjhe, vāse ṭhāne gamane cārikāya;
Anabhijjhitaṃ seritaṃ pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
There are consultations among companions, in one's dwelling, while standing, going, and on tour. Regarding the uncoveted state and sovereignty, one should wander alone like a rhinoceros horn.
Giữa bạn bè có sự mời gọi, ở nơi ở, nơi đứng, nơi đi, lúc du hành; nhận thấy sự tự tại không bị thèm muốn, hãy sống một mình như sừng tê giác.
Āmantanā hoti sahāyamajjhe, vāse ṭhāne gamane cārikāyāti sahāyā vuccanti yehi saha āgamanaṃ phāsu gamanaṃ phāsu gamanāgamanaṃ phāsu ṭhānaṃ phāsu nisajjanaṃ phāsu sayanaṃ phāsu ālapanaṃ phāsu sallapanaṃ phāsu ullapanaṃ phāsu samullapanaṃ phāsu. Āmantanā hoti sahāyamajjhe, vāse ṭhāne gamane cārikāyāti sahāyamajjhe vāsepi ṭhānepi gamanepi cārikāyapi attatthamantanā paratthamantanā ubhayatthamantanā diṭṭhadhammikatthamantanā samparāyikatthamantanā paramatthamantanā † ti – āmantanā hoti sahāyamajjhe, vāse ṭhāne gamane cārikāya.
“There is consultation among companions—in one's dwelling, while standing, going, and on tour.” ‘Companions’ are those with whom it is comfortable to come, comfortable to go, comfortable to come and go, comfortable to stand, comfortable to sit, comfortable to lie down, comfortable to speak, comfortable to converse, comfortable to address, and comfortable to converse together. “There is consultation among companions—in one's dwelling, while standing, going, and on tour” means that among companions, whether in one's dwelling, while standing, going, or on tour, there is consultation for one's own welfare, for the welfare of others, for the welfare of both, for welfare in this present life, for welfare in the life to come, and for the welfare of both. Thus: “There is consultation among companions—in one's dwelling, while standing, going, and on tour.”
Về câu ‘Giữa bạn bè có sự mời gọi, ở nơi ở, nơi đứng, nơi đi, lúc du hành’: ‘Bạn bè’ được gọi là những người mà cùng với họ, việc đến là dễ chịu, việc đi là dễ chịu, việc đi lại là dễ chịu, việc đứng là dễ chịu, việc ngồi là dễ chịu, việc nằm là dễ chịu, việc nói chuyện là dễ chịu, việc đàm luận là dễ chịu, việc tán dương là dễ chịu, việc cùng nhau tán dương là dễ chịu. ‘Giữa bạn bè có sự mời gọi, ở nơi ở, nơi đứng, nơi đi, lúc du hành’ có nghĩa là: giữa bạn bè, ở nơi ở, nơi đứng, nơi đi, lúc du hành, có sự mời gọi vì lợi ích của bản thân, sự mời gọi vì lợi ích của người khác, sự mời gọi vì lợi ích của cả hai, sự mời gọi vì lợi ích trong hiện tại, sự mời gọi vì lợi ích trong tương lai, sự mời gọi vì lợi ích tối thượng. (Đó là ý nghĩa của câu) ‘Giữa bạn bè có sự mời gọi, ở nơi ở, nơi đứng, nơi đi, lúc du hành’.
Anabhijjhitaṃ seritaṃ pekkhamānoti anabhijjhitaṃ etaṃ vatthu bālānaṃ asappurisānaṃ titthiyānaṃ titthayasāvakānaṃ, yadidaṃ – bhaṇḍukāsāyavatthavasanatā. Abhijjhitaṃ etaṃ vatthu paṇḍitānaṃ sappurisānaṃ buddhasāvakānaṃ paccekabuddhānaṃ, yadidaṃ – bhaṇḍukāsāyavatthavasanatā. Serīti dve serī – dhammopi serī puggalopi serī. Katamo dhammo serī? Cattāro satipaṭṭhānā …pe… ariyo aṭṭhaṅgiko maggo – ayaṃ dhammo serī. Katamo puggalo serī? Yo iminā serinā dhammena samannāgato, so vuccati puggalo serī. Anabhijjhitaṃ seritaṃ pekkhamānoti seritaṃ dhammaṃ pekkhamāno dakkhamāno olokayamāno nijjhāyamāno upaparikkhamānoti – anabhijjhitaṃ seritaṃ pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
Regarding `Anabhijjhitaṃ seritaṃ pekkhamāno`: This state is not longed for by fools, by inferior people, by sectarians, and by the disciples of sectarians—that is, the state of wearing the ochre-dyed robe. This state is longed for by the wise, by good people, by Buddhas, by the disciples of Buddhas, and by Paccekabuddhas—that is, the state of wearing the ochre-dyed robe. `Serī` (sovereign): there are two kinds of sovereignty—the Dhamma is sovereign and a person is sovereign. What is the Dhamma that is sovereign? The four establishments of mindfulness... the noble eightfold path—this is the Dhamma that is sovereign. Who is the person that is sovereign? One who is endowed with this sovereign Dhamma is called a person who is sovereign. `Anabhijjhitaṃ seritaṃ pekkhamāno` means considering, seeing, observing, contemplating, and examining the sovereign Dhamma. Thus: 'Considering that which is sovereign and not longed for, one should wander alone like a rhinoceros horn.' Therefore, that Paccekasambuddha said:
Về câu ‘Nhận thấy sự tự tại không bị thèm muốn’: Điều này không được những kẻ ngu, những người không chân chánh, các người theo ngoại đạo, các đệ tử của ngoại đạo thèm muốn, đó là – việc mặc y cà-sa đã cạo đầu. Điều này được những người trí, những người chân chánh, các đệ tử của Đức Phật, các vị Độc Giác Phật thèm muốn, đó là – việc mặc y cà-sa đã cạo đầu. ‘Tự tại’ có hai loại tự tại: tự tại về Pháp và tự tại về cá nhân. Thế nào là tự tại về Pháp? Bốn Niệm Xứ... Thánh Đạo Tám Ngành – đây là tự tại về Pháp. Thế nào là tự tại về cá nhân? Vị nào thành tựu với Pháp tự tại này, vị ấy được gọi là người tự tại. ‘Nhận thấy sự tự tại không bị thèm muốn’ có nghĩa là nhận thấy, thấy rõ, quan sát, chiêm nghiệm, thẩm xét Pháp tự tại. (Do đó) ‘nhận thấy sự tự tại không bị thèm muốn, hãy sống một mình như sừng tê giác.’ Vì thế, vị Độc Giác Phật ấy đã nói:
‘‘Āmantanā hoti sahāyamajjhe, vāse ṭhāne gamane cārikāya;
Anabhijjhitaṃ seritaṃ pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“There is addressing among companions—in one's dwelling, while standing, while going, and on tour. Considering that which is sovereign and not longed for, one should wander alone like a rhinoceros horn.”
“Giữa bạn bè có sự mời gọi, ở nơi ở, nơi đứng, nơi đi, lúc du hành; nhận thấy sự tự tại không bị thèm muốn, hãy sống một mình như sừng tê giác.”
127.
127.
127.
Khiḍḍā † ratī hoti sahāyamajjhe, puttesu ca vipulaṃ hoti pemaṃ;
Piyavippayogaṃ † vijigucchamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
There is play and delight among friends, and for one's children abundant affection; loathing separation from what is dear, one should wander alone like a rhinoceros horn.
Giữa bạn bè có sự vui đùa, thích thú; và đối với con cái có tình thương yêu rộng lớn. Ghê tởm sự chia ly với những người thân yêu, hãy sống một mình như sừng tê giác.
Khiḍḍā ratī hoti sahāyamajjheti. Khiḍḍāti dve khiḍḍā – kāyikā ca khiḍḍā vācasikā ca khiḍḍā. Katamā kāyikā khiḍḍā? Hatthīhipi kīḷanti, assehipi kīḷanti, rathehipi kīḷanti, dhanūhipi kīḷanti, tharūhipi kīḷanti, aṭṭhapadehipi kīḷanti, dasapadehipi kīḷanti, ākāsepi kīḷanti, parihārapathepi kīḷanti, santikāyapi kīḷanti, khalikāyapi kīḷanti, ghaṭikāyapi kīḷanti, salākahatthenapi kīḷanti, akkhenapi kīḷanti, paṅgacīrenapi kīḷanti, vaṅkakenapi kīḷanti, mokkhacikāyapi kīḷanti, ciṅgulakenapi kīḷanti, pattāḷhakenapi kīḷanti, rathakenapi kīḷanti, dhanukenapi kīḷanti, akkharikāyapi kīḷanti, manesikāyapi kīḷanti, yathāvajjenapi kīḷanti. Ayaṃ kāyikā khiḍḍā.
There is play and delight among friends. As to 'play', there are two kinds of play: bodily play and verbal play. What is bodily play? They play with elephants, they play with horses, they play with chariots, they play with bows, they play with swords; they play on eight-squared boards, they play on ten-squared boards; they play by tossing things in the air; they play on a marked path; they play by flicking pellets; they play by throwing dice; they play tip-cat; they play with bamboo strips; they play with balls; they play with palm-leaf pipes; they play with toy ploughs; they turn somersaults; they play with palm-leaf pinwheels; they play with toy leaf-measures; they play with toy chariots; they play with toy bows; they guess letters; they guess thoughts; they mimic deformities. This is bodily play.
Về câu ‘Giữa bạn bè có sự vui đùa, thích thú’: ‘Vui đùa’ có hai loại vui đùa: vui đùa bằng thân và vui đùa bằng lời. Thế nào là vui đùa bằng thân? Họ chơi với voi, chơi với ngựa, chơi với xe, chơi với cung, chơi với gươm, chơi cờ tám ô, chơi cờ mười ô, chơi tung hứng trên không, chơi nhảy lò cò, chơi búng, chơi xúc xắc, chơi gõ, chơi bằng tay cầm que, chơi bằng hạt, chơi bằng lá cọ, chơi bằng cày, chơi nhào lộn, chơi chong chóng, chơi bằng lá cây, chơi xe nhỏ, chơi cung nhỏ, chơi đoán chữ, chơi đoán ý, chơi bắt chước người tàn tật. Đây là sự vui đùa bằng thân.
Katamā vācasikā khiḍḍā? Mukhabherikaṃ mukhālambaraṃ mukhaḍiṇḍimakaṃ † mukhacalimakaṃ mukhakerakaṃ † mukhadaddarikaṃ nāṭakaṃ lāsaṃ gītaṃ davakammaṃ. Ayaṃ vācasikā khiḍḍā.
What is verbal play? Making sounds with the mouth like a war-drum, a tabor, and a kettle-drum; dancing, shouting, singing, and jesting. This is verbal play.
Thế nào là vui đùa bằng lời? Giả tiếng trống lớn bằng miệng, giả tiếng chiêng bằng miệng, giả tiếng trống nhỏ bằng miệng, giả tiếng vỗ tay bằng miệng, giả tiếng... bằng miệng, giả tiếng trống da bằng miệng, diễn kịch, nhảy múa, ca hát, nói đùa. Đây là sự vui đùa bằng lời.
Ratīti anukkaṇṭhitādhivacanametaṃ ratīti. Sahāyā vuccanti yehi saha āgamanaṃ phāsu gamanaṃ phāsu gamanāgamanaṃ phāsu ṭhānaṃ phāsu nisajjanaṃ phāsu sayanaṃ phāsu ālapanaṃ phāsu sallapanaṃ phāsu ullapanaṃ phāsu samullapanaṃ phāsu. Khiḍḍā ratī hoti sahāyamajjheti khiḍḍā ca rati ca sahāyamajjhe hotīti – khiḍḍā ratī hoti sahāyamajjhe.
As to 'delight', this is a term for being without discontent. 'Companions' are those with whom it is comfortable to come, comfortable to go, comfortable to come and go, comfortable to stand, comfortable to sit, comfortable to lie down, comfortable to speak, comfortable to converse, comfortable to speak in praise, and comfortable to converse together. 'There is play and delight among companions' means that there is both play and delight in the midst of companions. Thus: There is play and delight among companions.
‘Ratīti’ (sự vui thích): ‘Ratīti’ (sự vui thích) này là tên gọi của sự không chán ghét. ‘Sahāyā’ (bạn bè) được gọi là những người mà cùng với họ, việc đi đến là dễ chịu, việc đi là dễ chịu, việc đi lại là dễ chịu, việc đứng là dễ chịu, việc ngồi là dễ chịu, việc nằm là dễ chịu, việc nói chuyện là dễ chịu, việc trò chuyện là dễ chịu, việc tán dương là dễ chịu, việc cùng nhau tán dương là dễ chịu. ‘Khiḍḍā ratī hoti sahāyamajjhe’ (có sự vui đùa thích thú giữa bạn bè) có nghĩa là có sự vui đùa và sự thích thú ở giữa bạn bè – (cho nên nói) có sự vui đùa thích thú giữa bạn bè.
Puttesu ca vipulaṃ hoti pemanti. Puttāti cattāro puttā – atrajo putto, khettajo putto, dinnako putto, antevāsiko putto. Puttesu ca vipulaṃ hotiṃ pemanti puttesu ca adhimattaṃ hoti pemanti – puttesu ca vipulaṃ hoti pemaṃ.
And for children, there is abundant affection. As to 'children', there are four kinds of children: a child born of oneself, a field-born child, a given child, and a resident pupil-child. 'And for children, there is abundant affection' means that for children there is exceedingly great affection. Thus: And for children, there is abundant affection.
‘Puttesu ca vipulaṃ hoti pemaṃ’ (và có tình thương yêu rộng lớn đối với các con). ‘Puttāti’ (các con): Có bốn loại con – con ruột, con sinh trong nhà, con nuôi, con là đệ tử. ‘Puttesu ca vipulaṃ hoti pemaṃ’ (và có tình thương yêu rộng lớn đối với các con) có nghĩa là có tình thương yêu tột bậc đối với các con – (cho nên nói) và có tình thương yêu rộng lớn đối với các con.
Piyavippayogaṃ vijigucchamānoti dve piyā – sattā vā saṅkhārā vā. Katame sattā piyā? Idha yassa te honti atthakāmā hitakāmā phāsukāmā yogakkhemakāmā mātā vā pitā vā bhātā vā bhaginī vā putto vā dhītā vā mittā vā amaccā vā ñātī vā sālohitā vā, ime sattā piyā.
Regarding the phrase 'loathing separation from what is dear': There are two kinds of dear things—beings and formations. Which beings are dear? Here, for a certain person, there are those who wish for one's benefit, wish for one's welfare, wish for one's comfort, and wish for one's security from bondage—whether mother, father, brother, sister, son, daughter, friend, confidant, kinsman, or blood relative. These are the dear beings.
‘Piyavippayogaṃ vijigucchamāno’ (ghê tởm sự chia lìa người thân): Có hai thứ thân yêu – chúng sanh hoặc các pháp hữu vi. Những chúng sanh thân yêu là những ai? Ở đây, đối với người nào có những người mong muốn lợi ích, mong muốn hạnh phúc, mong muốn sự an ổn, mong muốn sự an toàn khỏi các ách縛, như là mẹ, hoặc cha, hoặc anh em, hoặc chị em, hoặc con trai, hoặc con gái, hoặc bạn bè, hoặc thân hữu, hoặc bà con, hoặc huyết thống, những chúng sanh này là thân yêu.
Katame saṅkhārā piyā? Manāpikā rūpā manāpikā saddā manāpikā gandhā manāpikā rasā manāpikā phoṭṭhabbā, ime saṅkhārā piyā. Piyavippayogaṃ vijigucchamānoti piyānaṃ vippayogaṃ vijigucchamāno aṭṭiyamāno harāyamānoti – piyavippayogaṃ vijigucchamāno, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
Which formations are dear? Agreeable sights, agreeable sounds, agreeable smells, agreeable tastes, and agreeable tactile objects—these are the dear formations. 'Loathing separation from what is dear' means loathing, being distressed by, and being ashamed of separation from what is dear. ...one should wander alone like a rhinoceros horn. Therefore, that Paccekasambuddha said:
Những pháp hữu vi thân yêu là những gì? Các sắc khả ý, các thanh khả ý, các hương khả ý, các vị khả ý, các xúc khả ý, những pháp hữu vi này là thân yêu. ‘Piyavippayogaṃ vijigucchamāno’ (ghê tởm sự chia lìa người thân) có nghĩa là ghê tởm, khổ não, hổ thẹn về sự chia lìa những người thân yêu – (cho nên nói) ghê tởm sự chia lìa người thân, hãy sống một mình như sừng tê giác. Vì thế, vị Độc Giác Phật ấy đã nói:
‘‘Khiḍḍā ratī hoti sahāyamajjhe, puttesu ca vipulaṃ hoti pemaṃ;
Piyavippayogaṃ vijigucchamāno, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“There is play and delight among friends, and for one's children abundant affection; loathing separation from what is dear, one should wander alone like a rhinoceros horn.”
“Có sự vui đùa thích thú giữa bạn bè, và có tình thương yêu rộng lớn đối với các con; ghê tởm sự chia lìa người thân, hãy sống một mình như sừng tê giác.”
128.
128.
128.
Cātuddiso appaṭigho ca hoti, santussamāno itarītarena;
Parissayānaṃ sahitā achambhī, eko care khaggavisāṇakappo.
Going to the four directions and unresentful, content with any kind of requisite; an endurer of dangers and fearless, one should wander alone like a rhinoceros horn.
Sống không chướng ngại ở bốn phương, hài lòng với bất cứ thứ gì (vật dụng); chịu đựng các hiểm nguy, không run sợ, hãy sống một mình như sừng tê giác.
Cātuddiso appaṭigho ca hotīti. Cātuddisoti so paccekasambuddho mettāsahagatena cetasā ekaṃ disaṃ pharitvā viharati, tathā dutiyaṃ, tathā tatiyaṃ, tathā catutthaṃ. Iti uddhamadho tiriyaṃ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṃ lokaṃ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena † pharitvā viharati. Karuṇāsahagatena…pe… muditāsahagatena…pe… upekkhāsahagatena cetasā ekaṃ disaṃ pharitvā viharati, tathā dutiyaṃ, tathā tatiyaṃ…pe… abyāpajjena pharitvā viharati. Cātuddiso appaṭigho ca hotīti mettāya bhāvitattā ye puratthimāya disāya sattā te appaṭikūlā † honti, ye dakkhiṇāya disāya sattā te appaṭikūlā honti, ye pacchimāya disāya sattā te appaṭikūlā honti, ye uttarāya disāya sattā te appaṭikūlā honti, ye puratthimāya anudisāya sattā te appaṭikūlā honti, ye dakkhiṇāya anudisāya sattā te appaṭikūlā honti, ye pacchimāya anudisāya sattā te appaṭikūlā honti, ye uttarāya anudisāya sattā te appaṭikūlā honti, ye heṭṭhimāya disāya sattā te appaṭikūlā honti, ye uparimāya disāya sattā te appaṭikūlā honti, ye disāsu vidisāsu sattā te appaṭikūlā honti; karuṇāya bhāvitattā muditāya bhāvitattā upekkhāya bhāvitattā ye puratthimāya disāya sattā te appaṭikūlā honti…pe… ye disāsu vidisāsu sattā te appaṭikūlā hontīti – cātuddiso appaṭigho ca hoti.
“He is of the four directions and unobstructed.” Here, “of the four directions” is as follows: that Paccekabuddha dwells pervading one direction with a mind accompanied by loving-kindness, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth. Thus above, below, and across, everywhere, for all, he dwells pervading the entire world with a mind accompanied by loving-kindness—abundant, exalted, immeasurable, without hostility, and without ill will. With a mind accompanied by compassion… with a mind accompanied by altruistic joy… with a mind accompanied by equanimity, he dwells pervading one direction, likewise the second, likewise the third… without ill will. “He is of the four directions and unobstructed”: because he has developed loving-kindness, beings in the eastern direction are unobstructed; beings in the southern direction are unobstructed; beings in the western direction are unobstructed; beings in the northern direction are unobstructed; beings in the northeastern intermediate direction are unobstructed; beings in the southeastern intermediate direction are unobstructed; beings in the southwestern intermediate direction are unobstructed; beings in the northwestern intermediate direction are unobstructed; beings in the lower direction are unobstructed; beings in the upper direction are unobstructed; beings in the directions and intermediate directions are unobstructed. Because he has developed compassion… because he has developed altruistic joy… because he has developed equanimity, beings in the eastern direction are unobstructed… beings in the directions and intermediate directions are unobstructed. Thus he is of the four directions and unobstructed.
‘Cātuddiso appaṭigho ca hoti’ (sống không chướng ngại ở bốn phương). ‘Cātuddiso’ (bốn phương): Vị Độc Giác Phật ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, ở khắp mọi nơi, vì xem tất cả như chính mình, vị ấy an trú biến mãn toàn thể thế gian với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không sân, không hận. Với tâm câu hữu với bi... (như trên)... với tâm câu hữu với hỷ... (như trên)... vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba... (như trên)... biến mãn không hận. ‘Cātuddiso appaṭigho ca hoti’ (sống không chướng ngại ở bốn phương): Do đã tu tập từ, những chúng sanh ở phương đông trở nên không đáng ghét; những chúng sanh ở phương nam trở nên không đáng ghét; những chúng sanh ở phương tây trở nên không đáng ghét; những chúng sanh ở phương bắc trở nên không đáng ghét; những chúng sanh ở phương đông nam trở nên không đáng ghét; những chúng sanh ở phương tây nam trở nên không đáng ghét; những chúng sanh ở phương tây bắc trở nên không đáng ghét; những chúng sanh ở phương đông bắc trở nên không đáng ghét; những chúng sanh ở phương dưới trở nên không đáng ghét; những chúng sanh ở phương trên trở nên không đáng ghét; những chúng sanh ở các phương và các phương phụ trở nên không đáng ghét. Do đã tu tập bi, do đã tu tập hỷ, do đã tu tập xả, những chúng sanh ở phương đông trở nên không đáng ghét... (như trên)... những chúng sanh ở các phương và các phương phụ trở nên không đáng ghét – (cho nên nói) sống không chướng ngại ở bốn phương.
Santussamāno itarītarenāti so paccekasambuddho santuṭṭho hoti itarītarena cīvarena, itarītaracīvarasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī, na ca cīvarahetu anesanaṃ appatirūpaṃ † āpajjati. Aladdhā ca cīvaraṃ na paritassati, laddhā ca cīvaraṃ agadhito amucchito anajjhāpasanno † ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati. Tāya ca pana itarītaracīvarasantuṭṭhiyā nevattānukkaṃseti na paraṃ vambheti. Yo hi tattha dakkho analaso sampajāno patissato, ayaṃ vuccati paccekasambuddho porāṇe aggaññe ariyavaṃse ṭhito. Santuṭṭho hoti itarītarena piṇḍapātena…pe…
“Content with whatever he gets”: That paccekabuddha is content with any kind of robe. He is one who speaks in praise of contentment with any kind of robe, and for the sake of a robe he does not fall into improper seeking and what is unsuitable. Not having obtained a robe, he is not distressed; and having obtained a robe, he uses it without greed, without infatuation, and without attachment, seeing the danger and understanding the escape. And on account of that contentment with any kind of robe, he neither extols himself nor disparages others. Whoever is skilled therein, diligent, clearly comprehending, and mindful, is called a paccekabuddha established in the ancient, supreme, noble lineage. He is content with any kind of almsfood…
‘Santussamāno itarītarena’ (hài lòng với bất cứ thứ gì): Vị Độc Giác Phật ấy hài lòng với bất cứ loại y nào, và tán thán sự hài lòng với bất cứ loại y nào, và không vì y phục mà rơi vào sự tìm kiếm không đúng đắn, không thích hợp. Khi không nhận được y, vị ấy không lo lắng; và khi nhận được y, vị ấy sử dụng mà không tham lam, không si mê, không dính mắc, thấy được sự nguy hại, có trí tuệ về sự thoát ly. Và lại nữa, do sự hài lòng với bất cứ loại y nào ấy, vị ấy không tự tán dương mình, không chê bai người khác. Vị nào khéo léo, không lười biếng, có tỉnh giác, có chánh niệm trong việc ấy, vị Độc Giác Phật này được gọi là người an trú trong dòng dõi Thánh cổ xưa, cao quý nhất. Vị ấy hài lòng với bất cứ loại vật thực khất thực nào... (vân vân)...
Santuṭṭho hoti itarītarena senāsanena…pe… santuṭṭho hoti itarītarena gilānapaccayabhesajjaparikkhārena, itarītaragilānapaccayabhesajjaparikkhārasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī, na ca gilānapaccayabhesajjaparikkhārahetu anesanaṃ appatirūpaṃ āpajjati. Aladdhā ca gilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṃ na paritassati. Laddhā ca gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ agadhito amucchito anajjhāpanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati. Tāya ca itarītaragilānapaccayabhesajjaparikkhārasantuṭṭhiyā nevattānukkaṃseti na paraṃ vambheti. Yo hi tattha dakkho analaso sampajāno patissato, ayaṃ vuccati paccekasambuddho porāṇe aggaññe ariyavaṃse ṭhitoti – santussamāno itarītarena.
He is content with any kind of lodging… He is content with any kind of medicinal requisites for the sick. He is one who speaks in praise of contentment with any kind of medicinal requisites for the sick, and for the sake of such requisites he does not fall into improper seeking and what is unsuitable. Not having obtained medicinal requisites for the sick, he is not distressed; and having obtained them, he uses them without greed, without infatuation, and without attachment, seeing the danger and understanding the escape. And on account of that contentment with any kind of medicinal requisites for the sick, he neither extols himself nor disparages others. Whoever is skilled therein, diligent, clearly comprehending, and mindful, is called a paccekabuddha established in the ancient, supreme, noble lineage. Thus: “content with whatever he gets.”
Vị ấy hài lòng với bất cứ loại sàng tọa nào... (vân vân)... vị ấy hài lòng với bất cứ loại dược phẩm và vật dụng cần thiết cho người bệnh nào, và tán thán sự hài lòng với bất cứ loại dược phẩm và vật dụng cần thiết cho người bệnh nào, và không vì dược phẩm và vật dụng cần thiết cho người bệnh mà rơi vào sự tìm kiếm không đúng đắn, không thích hợp. Khi không nhận được dược phẩm và vật dụng cần thiết cho người bệnh, vị ấy không lo lắng. Và khi nhận được dược phẩm và vật dụng cần thiết cho người bệnh, vị ấy sử dụng mà không tham lam, không si mê, không dính mắc, thấy được sự nguy hại, có trí tuệ về sự thoát ly. Và do sự hài lòng với bất cứ loại dược phẩm và vật dụng cần thiết cho người bệnh nào ấy, vị ấy không tự tán dương mình, không chê bai người khác. Vị nào khéo léo, không lười biếng, có tỉnh giác, có chánh niệm trong việc ấy, vị Độc Giác Phật này được gọi là người an trú trong dòng dõi Thánh cổ xưa, cao quý nhất – (cho nên nói) hài lòng với bất cứ thứ gì.
Parissayānaṃ sahitā achambhīti. Parissayāti dve parissayā – pākaṭaparissayā ca paṭicchannaparissayā ca. Katame pākaṭaparissayā? Sīhā byagghā dīpī acchā taracchā kokā mahiṃsā † hatthī ahī vicchikā satapadī, corā vā assu mānavā vā katakammā vā akatakammā vā, cakkhurogo sotarogo ghānarogo jivhārogo kāyarogo sīsarogo kaṇṇarogo mukharogo dantarogo kāso sāso pināso ḍāho jaro kucchirogo mucchā pakkhandikā sūlā visūcikā kuṭṭhaṃ gaṇḍo kilāso soso apamāro daddu kaṇḍu kacchu rakhasā vitacchikā lohitapittaṃ madhumeho aṃsā piḷakā bhagandalā, pittasamuṭṭhānā ābādhā semhasamuṭṭhānā ābādhā vātasamuṭṭhānā ābādhā sannipātikā ābādhā utupariṇāmajā ābādhā visamaparihārajā ābādhā opakkamikā ābādhā kammavipākajā ābādhā, sītaṃ uṇhaṃ jighacchā pipāsā uccāro passāvo ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassā iti vā. Ime vuccanti pākaṭaparissayā.
In the phrase 'enduring dangers, unafraid': 'Dangers' means there are two kinds of dangers: manifest dangers and hidden dangers. What are the manifest dangers? Lions, tigers, leopards, bears, hyenas, wolves, buffaloes, elephants, snakes, scorpions, centipedes; or thieves, or humans, whether criminals or not; eye-disease, ear-disease, nose-disease, tongue-disease, body-disease, head-disease, external-ear-disease, mouth-disease, tooth-disease; cough, asthma, catarrh, burning sensation, fever, stomach-ailment, fainting, dysentery, sharp pain, cholera; leprosy, boils, skin-eruption, consumption, epilepsy; ringworm, itch, scabies, an injury from being scratched, sores on the palms and soles; a blood-bile disorder, diabetes, piles, pustules, fistula; ailments arising from bile, ailments arising from phlegm, ailments arising from wind, ailments from a combination of the humors; ailments produced by change of climate, ailments produced by improper care, ailments produced by external attack, ailments produced as the result of kamma; cold, heat, hunger, thirst, excrement, urine; or contact with gadflies, mosquitoes, wind, sun, and serpents. These are called the manifest dangers.
Parissayānaṃ sahitā achambhīti (chịu đựng các hiểm nguy, không run sợ). Parissayāti (hiểm nguy là gì)? Có hai loại hiểm nguy: hiểm nguy biểu hiện và hiểm nguy tiềm ẩn. Thế nào là các hiểm nguy biểu hiện? Sư tử, cọp, báo, gấu, linh cẩu, sói, trâu rừng, voi, rắn, bọ cạp, rết; hoặc là kẻ trộm, hoặc là người, hoặc là kẻ đã gây án, hoặc là kẻ chưa gây án; bệnh mắt, bệnh tai, bệnh mũi, bệnh lưỡi, bệnh thân, bệnh đầu, bệnh tai, bệnh miệng, bệnh răng, ho, suyễn, sổ mũi, nóng sốt, sốt rét, bệnh bụng, ngất xỉu, kiết lỵ, đau nhói, thổ tả, bệnh phong, ung nhọt, bạch biến, lao phổi, động kinh, hắc lào, ghẻ ngứa, ghẻ lở, bệnh do móng tay cào, nứt nẻ tay chân, bệnh huyết-đàm, tiểu đường, mụn nhọt, mụn nhọt, bệnh rò hậu môn; các bệnh phát sanh từ mật, các bệnh phát sanh từ đàm, các bệnh phát sanh từ gió, các bệnh do ba thể hợp lại, các bệnh phát sanh do thời tiết thay đổi, các bệnh phát sanh do sinh hoạt không điều độ, các bệnh phát sanh do bị tấn công, các bệnh phát sanh do quả của nghiệp; lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện, hoặc sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, loài bò sát. Những điều này được gọi là các hiểm nguy biểu hiện.
Katame paṭicchannaparissayā? Kāyaduccaritaṃ vacīduccaritaṃ manoduccaritaṃ kāmacchandanīvaraṇaṃ byāpādanīvaraṇaṃ thinamiddhanīvaraṇaṃ uddhaccakukkuccanīvaraṇaṃ vicikicchānīvaraṇaṃ rāgo doso moho kodho upanāho makkho paḷāso issā macchariyaṃ māyā sāṭheyyaṃ thambho sārambho māno atimāno mado pamādo, sabbe kilesā sabbe duccaritā sabbe darathā sabbe pariḷāhā sabbe santāpā sabbākusalābhisaṅkhārā. Ime vuccanti paṭicchannaparissayā.
What are the hidden dangers? Bodily misconduct, verbal misconduct, mental misconduct; the hindrance of sensual desire, the hindrance of ill will, the hindrance of sloth and torpor, the hindrance of restlessness and remorse, the hindrance of doubt; greed, hatred, delusion; anger, hostility, contempt, spite, envy, avarice, deceit, treachery, obstinacy, rivalry, conceit, arrogance, vanity, heedlessness; all defilements, all misconduct, all anxieties, all fevers, all torments, all unwholesome volitional formations. These are called the hidden dangers.
Thế nào là các hiểm nguy tiềm ẩn? Thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, triền cái tham dục, triền cái sân hận, triền cái hôn trầm thụy miên, triền cái trạo cử hối quá, triền cái hoài nghi, tham, sân, si, phẫn nộ, oán hận, phụ ơn, cạnh tranh, ganh tỵ, keo kiệt, xảo trá, lừa lọc, ngoan cố, hiếu thắng, mạn, quá mạn, kiêu căng, phóng dật; tất cả phiền não, tất cả ác hành, tất cả phiền muộn, tất cả sự thiêu đốt, tất cả sự nóng nảy, tất cả các bất thiện hành. Những điều này được gọi là các hiểm nguy tiềm ẩn.
Parissayāti kenaṭṭhena parissayā? Parisahantīti parissayā, parihānāya saṃvattantīti parissayā, tatrāsayāti parissayā. Kathaṃ parisahantīti parissayā? Te parissayā taṃ puggalaṃ sahanti parisahanti abhibhavanti ajjhottharanti pariyādiyanti maddanti. Evaṃ parisahantīti – parissayā.
“Parissayā” (dangers): in what sense are they “dangers”? They “oppress” (parisahanti), thus they are “dangers.” They conduce to “decline” (parihānāya saṃvattanti), thus they are “dangers.” They “arise therein” (tatrāsayā), thus they are “dangers.” How do they “oppress” and are thus “dangers”? Those dangers oppress that person; they thoroughly oppress, overwhelm, inundate, consume, and crush. It is in this way that they “oppress” and are thus “dangers.”
Parissayā (hiểm nguy): Do ý nghĩa nào mà gọi là hiểm nguy? Chúng áp đảo, vì vậy gọi là hiểm nguy. Chúng dẫn đến sự suy thoái, vì vậy gọi là hiểm nguy. Chúng trú ngụ ở đó, vì vậy gọi là hiểm nguy. Thế nào là 'chúng áp đảo, vì vậy gọi là hiểm nguy'? Các hiểm nguy ấy áp đảo, hoàn toàn áp đảo, chế ngự, bao trùm, chiếm đoạt, nghiền nát cá nhân ấy. Như vậy, 'chúng áp đảo' – (nên gọi là) hiểm nguy.
Kathaṃ parihānāya saṃvattantīti parissayā? Te parissayā kusalānaṃ dhammānaṃ antarāyāya parihānāya saṃvattanti. Katamesaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ? Sammāpaṭipadāya anulomapaṭipadāya apaccanīkapaṭipadāya anvatthapaṭipadāya dhammānudhammapaṭipadāya sīlesu paripūrakāritāya indriyesu guttadvāratāya bhojane mattaññutāya jāgariyānuyogassa satisampajaññassa catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvanānuyogassa, catunnaṃ sammappadhānānaṃ… catunnaṃ iddhipādānaṃ… pañcannaṃ indriyānaṃ… pañcannaṃ balānaṃ… sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ… ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa bhāvanānuyogassa – imesaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ antarāyāya parihānāya saṃvattanti. Evaṃ parihānāya saṃvattantīti – parissayā.
How do they conduce to decline and are thus “dangers”? Those dangers conduce to the obstruction and decline of wholesome states. Of which wholesome states? Of right practice, conformable practice, unopposed practice, practice for the goal, practice in accordance with the Dhamma; of the fulfillment of virtues, of guarding the doors of the sense faculties, of moderation in eating, of devotion to wakefulness, of mindfulness and clear comprehension; of devotion to the development of the four establishments of mindfulness, the four right strivings, the four bases for spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, and of devotion to the development of the Noble Eightfold Path. They conduce to the obstruction and decline of these wholesome states. It is in this way that they conduce to decline and are thus “dangers.”
Thế nào là 'chúng dẫn đến sự suy thoái, vì vậy gọi là hiểm nguy'? Các hiểm nguy ấy dẫn đến sự trở ngại, sự suy thoái của các thiện pháp. Của những thiện pháp nào? Của chánh đạo, của thuận đạo, của vô nghịch đạo, của tùy nghĩa đạo, của pháp tùy pháp đạo, của sự viên mãn trong các giới, của sự phòng hộ các căn, của sự tiết độ trong ăn uống, của sự chuyên tâm tỉnh thức, của niệm và tỉnh giác, của sự chuyên tâm tu tập bốn niệm xứ, bốn chánh cần... bốn như ý túc... năm quyền... năm lực... bảy giác chi... của sự chuyên tâm tu tập thánh đạo tám ngành – chúng dẫn đến sự trở ngại, sự suy thoái của những thiện pháp này. Như vậy, 'chúng dẫn đến sự suy thoái' – (nên gọi là) hiểm nguy.
Kathaṃ tatrāsayāti parissayā? Tatthete † pāpakā akusalā dhammā uppajjanti attabhāvasannissayā. Yathā bile bilāsayā pāṇā sayanti, dake dakāsayā † pāṇā sayanti, vane vanāsayā pāṇā sayanti, rukkhe rukkhāsayā pāṇā sayanti; evameva tatthete pāpakā akusalā dhammā uppajjanti attabhāvasannissayāti. Evampi tatrāsayāti – parissayā.
How do they “arise therein” and are thus “dangers”? Therein—dependent on one's individual existence—these evil, unwholesome states arise. Just as creatures that dwell in holes lie in holes, creatures that dwell in water lie in water, creatures that dwell in the forest lie in the forest, and creatures that dwell on trees lie on trees; so too, therein—dependent on one's individual existence—these evil, unwholesome states arise. It is in this way too that they “arise therein” and are thus “dangers.”
Thế nào là 'chúng trú ngụ ở đó, vì vậy gọi là hiểm nguy'? Ở đó, những pháp ác, bất thiện này sanh khởi, nương vào tự thể. Giống như các loài vật sống trong hang trú ngụ trong hang, các loài vật sống dưới nước trú ngụ dưới nước, các loài vật sống trong rừng trú ngụ trong rừng, các loài vật sống trên cây trú ngụ trên cây; cũng vậy, ở đó, những pháp ác, bất thiện này sanh khởi, nương vào tự thể. Như vậy cũng là 'chúng trú ngụ ở đó' – (nên gọi là) hiểm nguy.
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘sāntevāsiko, bhikkhave, bhikkhu sācariyako dukkhaṃ na phāsu viharati. Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sāntevāsiko sācariyako dukkhaṃ na phāsu viharati? Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā uppajjanti ye pāpakā akusalā dhammā, sarasaṅkappā saṃññojanīyā †, tyassa anto vasanti anvāssavanti pāpakā akusalā dhammāti. Tasmā sāntevāsiko vuccati. Tena samudācarena samudācaranti naṃ pāpakā akusalā dhammāti. Tasmā sācariyakoti vuccati.
This was said by the Blessed One: ‘Bhikkhus, a bhikkhu with an inner resident and a teacher dwells in suffering, not at ease. And how, bhikkhus, does a bhikkhu with an inner resident and a teacher dwell in suffering, not at ease? Here, bhikkhus, having seen a form with the eye, whatever evil, unwholesome states arise—thoughts directed towards various objects, conducive to the fetters—those evil, unwholesome states dwell inside him; they follow along and bind. Therefore, he is called ‘one with an inner resident.’ By that habitual occurrence, evil, unwholesome states arise, oppressing him. Therefore, he is called ‘one with a teacher.’”
Điều này đã được Đức Thế Tôn nói: 'Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu có kẻ ở cùng, có người đồng hành, sống khổ, không an lạc. Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu có kẻ ở cùng, có người đồng hành, sống khổ, không an lạc? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sau khi thấy sắc bằng mắt, những pháp ác, bất thiện, những tư duy tham ái, thuộc về kiết sử sanh khởi. Những pháp ác, bất thiện ấy trú ngụ bên trong vị ấy, chúng rỉ chảy theo. Vì vậy, vị ấy được gọi là 'có kẻ ở cùng'. Do cách hành xử ấy, các pháp ác, bất thiện thường xuyên tác động đến vị ấy. Vì vậy, vị ấy được gọi là 'có người đồng hành'.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhuno sotena saddaṃ sutvā…pe… ghānena gandhaṃ ghāyitvā…pe… jivhāya rasaṃ sāyitvā…pe… kāyena phoṭṭhabbaṃ phusitvā…pe… manasā dhammaṃ viññāya uppajjanti ye pāpakā akusalā dhammā sarasaṅkappā saṃyojanīyā, tyassa anto vasanti anvāssavanti pāpakā akusalā dhammāti. Tasmā sāntevāsikoti vuccati. Tena samudācarena samudācaranti naṃ pāpakā akusalā dhammāti. Tasmā sācariyakoti vuccati. Evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu sāntevāsiko sācariyako dukkhaṃ na phāsu viharatī’’ti. Evampi, tatrāsayāti – parissayā.
“Furthermore, bhikkhus, for a bhikkhu, having heard a sound with the ear… having smelled an odor with the nose… having tasted a flavor with the tongue… having felt a tangible with the body… having cognized a mental phenomenon with the mind, whatever evil, unwholesome states arise—thoughts directed towards various objects, conducive to the fetters—those evil, unwholesome states dwell inside him; they follow along and bind. Therefore, he is called ‘one with an inner resident.’ By that conduct, evil, unwholesome states arise, oppressing him. Therefore, he is called ‘one with a teacher.’ It is in this way, bhikkhus, that a bhikkhu with an inner resident and a teacher dwells in suffering, not at ease. Thus also, they are a ‘dwelling place therein’ (tatrāsaya), and are therefore ‘dangers’ (parissayā).”
'Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sau khi nghe tiếng bằng tai... sau khi ngửi mùi bằng mũi... sau khi nếm vị bằng lưỡi... sau khi xúc chạm đối tượng xúc bằng thân... sau khi biết pháp bằng ý, những pháp ác, bất thiện, những tư duy tham ái, thuộc về kiết sử sanh khởi. Những pháp ác, bất thiện ấy trú ngụ bên trong vị ấy, chúng rỉ chảy theo. Vì vậy, vị ấy được gọi là 'có kẻ ở cùng'. Do cách hành xử ấy, các pháp ác, bất thiện thường xuyên tác động đến vị ấy. Vì vậy, vị ấy được gọi là 'có người đồng hành'. Này các Tỳ khưu, như vậy, vị Tỳ khưu có kẻ ở cùng, có người đồng hành, sống khổ, không an lạc'. Như vậy cũng là, 'chúng trú ngụ ở đó' – (nên gọi là) hiểm nguy.
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘tayome, bhikkhave, antarāmalā antarāamittā antarāsapattā antarāvadhakā antarāpaccatthikā. Katame tayo? Lobho, bhikkhave, antarāmalo † antarāamitto antarāsapatto antarāvadhako antarāpaccatthiko, doso, bhikkhave…pe… moho, bhikkhave, antarāmalo antarāamitto antarāsapatto antarāvadhako antarāpaccatthiko. Ime kho, bhikkhave, tayo antarāmalā antarāamittā antarāsapattā antarāvadhakā antarāpaccatthikā’’ti.
This was said by the Blessed One: ‘Bhikkhus, there are these three internal stains, internal enemies, internal adversaries, internal slayers, and internal foes. What three? Greed, bhikkhus, is an internal stain, an internal enemy, an internal adversary, an internal slayer, and an internal foe. Hatred, bhikkhus… Delusion, bhikkhus, is an internal stain, an internal enemy, an internal adversary, an internal slayer, and an internal foe. These, bhikkhus, are the three internal stains, internal enemies, internal adversaries, internal slayers, and internal foes.’”
Điều này đã được Đức Thế Tôn nói: 'Này các Tỳ khưu, có ba thứ cấu uế nội tại, kẻ thù nội tại, địch thủ nội tại, kẻ sát hại nội tại, kẻ đối nghịch nội tại này. Thế nào là ba? Này các Tỳ khưu, tham là cấu uế nội tại, kẻ thù nội tại, địch thủ nội tại, kẻ sát hại nội tại, kẻ đối nghịch nội tại. Này các Tỳ khưu, sân... Này các Tỳ khưu, si là cấu uế nội tại, kẻ thù nội tại, địch thủ nội tại, kẻ sát hại nội tại, kẻ đối nghịch nội tại. Này các Tỳ khưu, đây chính là ba thứ cấu uế nội tại, kẻ thù nội tại, địch thủ nội tại, kẻ sát hại nội tại, kẻ đối nghịch nội tại'.
Anatthajanano lobho, lobho cittappakopano;
Bhayamantarato jātaṃ, taṃ jano nāvabujjhati.
Greed is a source of ruin, greed corrupts the mind; fear is born from within—that, the common person does not comprehend.
Tham lam sinh ra điều bất lợi, tham lam làm khuấy động tâm; Sự sợ hãi sinh ra từ bên trong, người đời không hiểu rõ điều đó.
Luddho atthaṃ na jānāti, luddho dhammaṃ na passati;
Andhatamaṃ tadā hoti, yaṃ lobho sahate naraṃ.
A greedy person does not know the benefit; a greedy person does not see the cause. Then there is extreme darkness, when greed overcomes a person.
Người tham không biết lợi ích, người tham không thấy được Pháp; Khi ấy trở nên tối tăm mờ mịt, lúc mà lòng tham chế ngự con người.
Anatthajanano doso, doso cittappakopano;
Bhayamantarato jātaṃ, taṃ jano nāvabujjhati.
Hatred is a generator of non-benefit; fear is born from within. That, a foolish person does not understand.
Sân hận sinh ra điều bất lợi, sân hận làm khuấy động tâm; Sự sợ hãi sinh ra từ bên trong, người đời không hiểu rõ điều đó.
Duṭṭho atthaṃ na jānāti, duṭṭho dhammaṃ na passati;
Andhatamaṃ tadā hoti, yaṃ doso sahate naraṃ.
An angry person does not see the cause. Then there is extreme darkness, when hatred torments a person.
Người sân không biết lợi ích, người sân không thấy được Pháp; Khi ấy trở nên tối tăm mờ mịt, lúc mà sân hận chế ngự con người.
Anatthajanano moho, moho cittappakopano;
Bhayamantarato jātaṃ, taṃ jano nāvabujjhati.
Delusion is a generator of non-benefit, delusion corrupts the mind; fear is born from within, that a foolish person does not understand.
Si mê sinh ra điều bất lợi, si mê làm khuấy động tâm; Sự sợ hãi sinh ra từ bên trong, người đời không hiểu rõ điều đó.
Mūḷho atthaṃ na jānāti, mūḷho dhammaṃ na passati;
Andhatamaṃ tadā hoti, yaṃ moho sahate naranti.
A deluded person does not know the benefit; a deluded person does not see the cause. Then there is extreme darkness, when delusion torments a person.
Người si mê không biết lợi ích, người si mê không thấy được Pháp; Khi ấy trở nên tối tăm mờ mịt, lúc mà si mê chế ngự con người.
Evampi, tatrāsayāti – parissayā.
Thus also: 'Therein it causes danger,' therefore they are called dangers.
Cũng như vậy, (chúng) trú ngụ ở đó – (đó là) các hiểm nguy.
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘tayo kho, mahārāja, purisassa dhammā ajjhattaṃ uppajjamānā uppajjanti ahitāya dukkhāya aphāsuvihārāya. Katame tayo? Lobho kho, mahārāja, purisassa dhammo ajjhattaṃ uppajjamāno uppajjati ahitāya dukkhāya aphāsuvihārāya; doso kho, mahārāja…pe… moho kho, mahārāja, purisassa dhammo ajjhattaṃ uppajjamāno uppajjati ahitāya dukkhāya aphāsuvihārāya. Ime kho, mahārāja, tayo purisassa dhammā ajjhattaṃ uppajjamānā uppajjanti ahitāya dukkhāya aphāsuvihārāya.
This was said by the Blessed One: 'Great king, there are three things that, arising internally in a person, arise for his non-welfare, for his suffering, and for his uncomfortable living. What three? Greed, great king, is a thing that, arising internally in a person, arises for his non-welfare, for his suffering, and for his uncomfortable living. Hatred, great king... Delusion, great king, is a thing that, arising internally in a person, arises for his non-welfare, for his suffering, and for his uncomfortable living. These, great king, are the three things that, arising internally in a person, arise for his non-welfare, for his suffering, and for his uncomfortable living.'
Điều này đã được Đức Thế Tôn nói: ‘Thưa Đại vương, quả thật có ba pháp của một người, khi sinh khởi bên trong, chúng sinh khởi vì bất hạnh, vì khổ đau, vì không an ổn. Ba pháp ấy là gì? Thưa Đại vương, quả thật pháp tham của một người, khi sinh khởi bên trong, nó sinh khởi vì bất hạnh, vì khổ đau, vì không an ổn; thưa Đại vương, pháp sân...; thưa Đại vương, quả thật pháp si của một người, khi sinh khởi bên trong, nó sinh khởi vì bất hạnh, vì khổ đau, vì không an ổn. Thưa Đại vương, quả thật ba pháp này của một người, khi sinh khởi bên trong, chúng sinh khởi vì bất hạnh, vì khổ đau, vì không an ổn.’
‘‘Lobho doso ca moho ca, purisaṃ pāpacetasaṃ;
Hiṃsanti attasambhūtā, tacasāraṃva samphala’’nti †.
'Greed, hatred, and delusion, born from oneself, harm the person of evil mind, just as its own fruit destroys the bamboo.'
‘Tham, sân, và si, sinh ra từ chính mình, làm hại người có tâm ác, như quả của cây tre phá hoại chính nó.’
Evampi, tatrāsayāti – parissayā.
Thus also, the meaning of the phrase 'therein it causes danger, therefore they are called dangers' should be understood.
Cũng như vậy, (chúng) trú ngụ ở đó – (đó là) các hiểm nguy.
Vuttañhetaṃ bhagavatā –
This was said by the Blessed One:
Điều này đã được Đức Thế Tôn nói:
‘‘Rāgo ca doso ca itonidānā, aratī ratī lomahaṃso itojā;
Ito samuṭṭhāya manovitakkā, kumārakā dhaṅkamivossajantī’’ti †.
'Lust and hatred have their source here; discontent, delight, and hair-raising fear are born from here. Arising from this, mental thoughts cast one about, as boys cast about a crow.'
‘Tham ái và sân hận có nguyên nhân từ đây, bất mãn, thích thú, sởn gai ốc sinh ra từ đây; Khởi lên từ đây, các tầm của ý phóng đi, như những đứa trẻ ném con quạ đi.’
Evampi, tatrāsayāti – parissayā.
Thus also, the meaning of the phrase 'therein it causes danger, therefore they are called dangers' should be understood.
Cũng như vậy, (chúng) trú ngụ ở đó – (đó là) các hiểm nguy.
Parissayānaṃ sahitāti parissaye sahitā ārādhitā ajjhottharitā pariyāditā paṭinissatāti – parissayānaṃ sahitā. Achambhīti so paccekasambuddho abhīrū acchambhī anutrāsī apalāyī pahīnabhayabheravo vigatalomahaṃso viharatīti – parissayānaṃ sahitā acchambhī, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
'Enduring dangers' means: having endured, mastered, overcome, encompassed, and relinquished dangers—thus, 'enduring dangers.' 'Undaunted' means: that Paccekabuddha dwells fearless, undaunted, untrembling, not fleeing, having abandoned fear and dread, with hair-raising horror gone—thus, 'enduring dangers, undaunted,' one should wander alone like a rhinoceros. Therefore that Paccekabuddha said:
‘Chịu đựng các hiểm nguy’ nghĩa là chịu đựng, không đối kháng, chế ngự, làm cho cạn kiệt, từ bỏ các hiểm nguy – (đó là) chịu đựng các hiểm nguy. ‘Không run sợ’ nghĩa là vị Độc Giác Phật ấy không sợ hãi, không run sợ, không kinh hãi, không bỏ chạy, đã từ bỏ sự sợ hãi và kinh hoàng, trú với sự sởn gai ốc đã biến mất – (đó là) chịu đựng các hiểm nguy, không run sợ. Hãy sống một mình như sừng tê giác. Do đó, vị Độc Giác Phật ấy đã nói:
‘‘Cātuddiso appaṭigho ca hoti, santussamāno itarītarena;
Parissayānaṃ sahitā achambhī, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
'Being unresisting toward all four directions, content with anything whatsoever, enduring dangers, undaunted: one should wander alone like a rhinoceros.'
‘Không chướng ngại ở bốn phương, biết đủ với bất cứ thứ gì; Chịu đựng các hiểm nguy, không run sợ, hãy sống một mình như sừng tê giác.’
129.
129.
129.
Dussaṅgahā pabbajitāpi eke, atho gahaṭṭhā gharamāvasantā;
Appossukko paraputtesu hutvā, eko care khaggavisāṇakappo.
'Some who have gone forth are difficult to associate with, and so are householders dwelling at home. Being unconcerned about the children of others, one should wander alone like a rhinoceros.'
Một số vị xuất gia khó nhiếp phục, và cả người tại gia sống trong gia đình; Không bận tâm đến con cái người khác, hãy sống một mình như sừng tê giác.
Dussaṅgahā pabbajitāpi eketi pabbajitāpi idhekacce nissayepi diyyamāne uddesepi diyyamāne paripucchāyapi † diyyamāne cīvarepi diyyamāne pattepi diyyamāne lohathālakepi diyyamāne dhammakaraṇepi † diyyamāne parissāvanepi diyyamāne thavikepi diyyamāne upāhanepi diyyamāne kāyabandhanepi diyyamāne na suṇanti na sotaṃ odahanti na aññācittaṃ upaṭṭhapenti, anassavā avacanakarā paṭilomavuttino aññeneva mukhaṃ karontīti – dussaṅgahā pabbajitāpi eke.
'Some who have gone forth are difficult to associate with' means: Herein, some who have gone forth, though they are given dependence, given instruction, given questioning, given a robe, given a bowl, given a metal dish, given a water pot, given a water strainer, given a bag, given sandals, given a belt, do not listen, do not lend an ear, do not apply their minds to attaining knowledge; they are disobedient, uncompliant, acting contrarily, turning their faces elsewhere—thus, 'some who have gone forth are difficult to associate with.'
‘Một số vị xuất gia khó nhiếp phục’ nghĩa là: ở đây, một số vị xuất gia, khi được trao cho sự y chỉ, được trao cho việc học thuộc lòng, được trao cho việc hỏi đáp, được trao cho y, được trao cho bát, được trao cho đĩa đồng, được trao cho đồ lọc nước, được trao cho túi lọc, được trao cho túi, được trao cho giày dép, được trao cho dây thắt lưng, họ không nghe, không lắng tai, không khởi tâm muốn biết, là những người không muốn nghe, không làm theo lời, có hành vi chống đối, quay mặt đi nơi khác – (đó là) một số vị xuất gia khó nhiếp phục.
Atho gahaṭṭhā gharamāvasantāti gahaṭṭhāpi idhekacce hatthimhipi diyyamāne…pe… rathepi khettepi vatthumhipi hiraññepi suvaṇṇepi diyyamāne gāmepi…pe… nigamepi nagarepi… raṭṭhepi… janapadepi diyyamāne na suṇanti na sotaṃ odahanti na aññācittaṃ upaṭṭhapenti, anassavā avacanakarā paṭilomavuttino aññeneva mukhaṃ karontīti – atho gahaṭṭhā gharamāvasantā.
'And so are householders dwelling at home' means: Herein, some householders, though they are given an elephant... a chariot, a field, a site, bullion, gold, a village... a town, a city... a country, a province, do not listen, do not lend an ear, do not apply their minds to attaining knowledge; they are disobedient, uncompliant, acting contrarily, turning their faces elsewhere—thus, 'and so are householders dwelling at home.'
‘Và cả người tại gia sống trong gia đình’ nghĩa là: ở đây, một số người tại gia, khi được cho voi... xe, ruộng, đất, bạc, vàng, được cho làng... thị trấn, thành phố... xứ... quốc độ, họ không nghe, không lắng tai, không khởi tâm muốn biết, là những người không muốn nghe, không làm theo lời, có hành vi chống đối, quay mặt đi nơi khác – (đó là) và cả người tại gia sống trong gia đình.
Appossukko paraputtesu hutvāti attānaṃ ṭhapetvā sabbe imasmiṃ atthe paraputtā. Tesu paraputtesu appossukko hutvā abyāvaṭo hutvā anapekkho hutvāti – appossukko paraputtesu hutvā, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
“Being unconcerned about the children of others” means: setting oneself aside, all others in this sense are “children of others.” Being unconcerned about those other children, not busy with them, without longing for them—thus, “being unconcerned about the children of others,” one should wander alone like a rhinoceros horn. Therefore that Paccekasambuddha said:
‘Không bận tâm đến con cái người khác’ nghĩa là: ngoại trừ bản thân, tất cả trong ý nghĩa này đều là con cái của người khác. Về những người con của người khác ấy, trở nên không bận tâm, không lo lắng, không quyến luyến – (đó là) không bận tâm đến con cái người khác. Hãy sống một mình như sừng tê giác. Do đó, vị Độc Giác Phật ấy đã nói:
‘‘Dussaṅgahā pabbajitāpi eke, atho gahaṭṭhā gharamāvasantā;
Appossukko paraputtesu hutvā, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“Some who have gone forth are difficult to associate with, and so are householders dwelling at home. Being unconcerned about the children of others, one should wander alone like a rhinoceros horn.”
‘Một số vị xuất gia khó nhiếp phục, và cả người tại gia sống trong gia đình; Không bận tâm đến con cái người khác, hãy sống một mình như sừng tê giác.’
130.
130.
130.
Oropayitvā † gihibyañjanāni, sañchinnapatto † yathā koviḷāro;
Chetvāna vīro gihibandhanāni, eko care khaggavisāṇakappo.
“Having laid down the marks of a householder, like a koviḷāra tree that has shed its leaves; having cut the household bonds, a hero, one should wander alone like a rhinoceros horn.”
Đặt xuống các tướng của người tại gia, như cây kovidara đã rụng hết lá; Bậc anh hùng đã cắt đứt các ràng buộc tại gia, hãy sống một mình như sừng tê giác.
Oropayitvā gihibyañjanānīti gihibyañjanāni vuccanti kesā ca massū ca mālā ca gandhañca vilepanañca ābharaṇañca pilandhanañca vatthañca pārupanañca veṭhanañca ucchādanaṃ parimaddanaṃ nhāpanaṃ † sambāhanaṃ ādāsaṃ añjanaṃ mālāgandhavilepanaṃ mukhacuṇṇaṃ mukhalepanaṃ hatthabandhaṃ sikhābandhaṃ daṇḍaṃ nāḷikaṃ † khaggaṃ chattaṃ citrupāhanaṃ uṇhīsaṃ maṇiṃ vāḷabījaniṃ odātāni vatthāni dīghadasāni † iti vā. Oropayitvā gihibyañjanānīti gihibyañjanāni oropayitvā samoropayitvā nikkhipitvā paṭipassambhayitvāti – oropayitvā gihibyañjanāni.
“Having laid down the marks of a householder”: The marks of a householder are said to be: hair and beard; garlands, scents, and unguents; ornaments and adornments; cloth, cloak, and head-wrap; anointing with powder, rubbing with oil, bathing, and massaging; a mirror, eye-collyrium, wearing garlands and applying unguents, face powder, face-smearing, bracelets, tying the top-knot, a hairpin, a tube of cosmetic, a sword, a parasol, decorated footwear, a turban, a jewel, a yak-tail whisk, and white garments with long fringes, and so on. “Having laid down the marks of a householder” means having abandoned the marks of a householder, having well abandoned them, having put them down, having permanently pacified them—thus, “having laid down the marks of a householder.”
‘Đặt xuống các tướng của người tại gia’: các tướng của người tại gia được gọi là tóc và râu, vòng hoa, hương thơm, vật thoa, trang sức, đồ trang điểm, y phục, khăn choàng, khăn quấn đầu, việc xoa bột thơm, việc xoa bóp, việc tắm, việc đấm bóp, gương, thuốc kẻ mắt, vòng hoa-hương thơm-vật thoa, phấn thoa mặt, vật thoa mặt, vòng tay, dây buộc tóc, gậy, ống thuốc, gươm, lọng, giày dép trang trí, khăn vành, ngọc, phất trần, y phục trắng có tua dài, vân vân. ‘Đặt xuống các tướng của người tại gia’ nghĩa là đặt xuống, đặt xuống hoàn toàn, vứt bỏ, làm cho lắng dịu các tướng của người tại gia – (đó là) đặt xuống các tướng của người tại gia.
Sañchinnapatto yathā koviḷāroti yathā koviḷārassa pattāni chinnāni sañchinnāni patitāni paripatitāni, evameva tassa paccekasambuddhassa gihibyañjanāni chinnāni sañchinnāni patitānīti – sañchinnapatto yathā koviḷāro.
“Like a koviḷāra tree that has shed its leaves” means: just as the leaves of a koviḷāra tree are cut, well cut, fallen, fallen all around, so too for that Paccekasambuddha the marks of a householder have been cut, well cut, and have fallen away—thus, “like a koviḷāra tree that has shed its leaves.”
‘Như cây kovidara đã rụng hết lá’ nghĩa là: giống như lá của cây kovidara bị cắt, bị cắt đứt hoàn toàn, rơi rụng, rơi rụng khắp nơi, cũng như vậy, các tướng của người tại gia của vị Độc Giác Phật ấy đã được cắt đứt, đã được cắt đứt hoàn toàn, đã được vứt bỏ – (đó là) như cây kovidara đã rụng hết lá.
Chetvāna vīro gihibandhanānīti. Vīroti vīriyavāti vīro, pahūti vīro, visavīti vīro, alamattoti vīro, sūroti vīro, vikkanto abhīrū acchambhī anutrāsī apalāyī pahīnabhayabheravoti vīro, vigatalomahaṃsoti vīro.
“Having cut the household bonds, a hero”: “Hero” because he is energetic, thus he is a hero. Because he is able, thus he is a hero. Because he is bold, thus he is a hero. Because he is competent, thus he is a hero. Because he is valiant, thus he is a hero. Because he is courageous, fearless, undaunted, untrembling, not fleeing, and has abandoned fear and dread, thus he is a hero. Because his hair-raising horror has departed, thus he is a hero.
(Về câu) "Bậc dũng cảm cắt đứt các ràng buộc của tại gia." `Vīro` (bậc dũng cảm) có nghĩa là: có tinh tấn nên là `vīro`, có khả năng nên là `vīro`, dũng mãnh nên là `vīro`, có năng lực nên là `vīro`, can đảm nên là `vīro`, là người có bước chân dũng mãnh, không sợ hãi, không kinh sợ, không run rẩy, không bỏ chạy, đã từ bỏ sự sợ hãi và kinh hoàng, nên là `vīro`, đã hết sự dựng tóc gáy, nên là `vīro`.
Virato idha † sabbapākehi, nirayadukkhaṃ aticca vīriyavā so;
So vīriyavā padhānavā, dhīro † tādi pavuccate tathattā.
Abstaining here from all evil deeds, having transcended the suffering of hell, he is energetic. That energetic, striving one of such a nature is called a dhīra (wise one) because of his true state.
Ở đây, vị ấy từ bỏ mọi điều ác, vị ấy, người có tinh tấn, vượt qua khổ đau của địa ngục; Vị ấy, người có tinh tấn, có sự nỗ lực, người như vậy được gọi là `dhīro` (bậc trí) vì bản chất chân thật ấy.
Gihibandhanāni vuccanti puttā ca bhariyā ca dāsā ca dāsī ca ajeḷakā ca kukkuṭasūkarā ca hatthigavāssavaḷavā ca khettañca vatthu ca hiraññañca suvaṇṇañca gāmanigamarājadhāniyo ca raṭṭhañca janapado ca koso ca koṭṭhāgārañca, yaṃ kiñci rajanīyavatthu.
The bonds of a householder are said to be: sons and wife; male and female slaves; goats and sheep; chickens and pigs; elephants, cattle, horses, and mares; fields and land; silver and gold; villages, towns, and royal cities; country and province; the treasury and the granary; and whatever is an enticing object.
Các ràng buộc của tại gia được gọi là: con trai và vợ, tôi trai và tôi gái, dê và cừu, gà và heo, voi, bò, ngựa đực, ngựa cái, ruộng và đất, bạc và vàng, làng, thị trấn, và kinh đô, xứ và địa phương, kho tàng và vựa lúa, và bất cứ vật gì có thể gây ra sự tham ái.
Chetvāna vīro gihibandhanānīti so paccekasambuddho vīro gihibandhanāni chinditvā samucchinditvā jahitvā vinodetvā byantīkaritvā anabhāvaṃ gametvāti – chetvāna vīro gihibandhanāni, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
'Having cut the bonds of a householder, a hero' means: that Paccekasambuddha, the hero, having cut, cut off completely, abandoned, dispelled, terminated, and annihilated the bonds of a householder—thus, 'having cut the bonds of a householder, a hero,' one should wander alone like a rhinoceros. Therefore that Paccekasambuddha said:
(Về câu) "Bậc dũng cảm cắt đứt các ràng buộc của tại gia" có nghĩa là: vị Phật Độc Giác ấy, bậc dũng cảm, sau khi đã cắt đứt, đoạn tuyệt, từ bỏ, xua tan, chấm dứt, làm cho không còn tồn tại các ràng buộc của tại gia – (đó là ý nghĩa của) "bậc dũng cảm cắt đứt các ràng buộc của tại gia, hãy sống một mình như sừng tê giác." Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói:
‘‘Oropayitvā gihibyañjanāni, sañchinnapatto yathā koviḷāro,
Chetvāna vīro gihibandhanāni;
Eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
'Having laid down the marks of a householder, like a coral tree that has shed its leaves; having cut the bonds of a householder, a hero, one should wander alone like a rhinoceros.'
"Sau khi từ bỏ các dấu hiệu của người tại gia, như cây koviḷāra đã rụng hết lá, bậc dũng cảm cắt đứt các ràng buộc của tại gia; hãy sống một mình như sừng tê giác."
Paṭhamo vaggo.
The First Chapter.
Phẩm thứ nhất.
Dutiyavaggo
The Second Chapter.
Phẩm thứ hai.
131.
131.
131.
Sace labhetha nipakaṃ sahāyaṃ, saddhiṃ caraṃ sādhuvihāri dhīraṃ;
Abhibhuyya sabbāni parissayāni, careyya tenattamano satīmā.
If one should find a prudent companion to travel with, one of good conduct and steadfast; having overcome all dangers, one should wander with him, gratified and mindful.
Nếu tìm được bạn đồng hành chín chắn, cùng đi, sống tốt, và vững vàng; hãy vượt qua mọi hiểm nguy, sống cùng người ấy, với tâm hoan hỷ và chánh niệm.
Sace labhetha nipakaṃ sahāyanti sace nipakaṃ paṇḍitaṃ paññavantaṃ buddhimantaṃ ñāṇiṃ vibhāviṃ medhāviṃ sahāyaṃ labheyya paṭilabheyya adhigaccheyya vindeyyāti – sace labhetha nipakaṃ saṃhāyaṃ.
'If one should find a prudent companion' means: if one should find, obtain, attain, or gain a prudent, learned, wise, intelligent, knowledgeable, discerning, sagacious companion—this is the meaning of 'if one should find a prudent companion'.
(Về câu) "Nếu tìm được bạn đồng hành chín chắn" có nghĩa là: nếu một người bạn đồng hành chín chắn, bậc hiền trí, có trí tuệ, có sự giác ngộ, có tri kiến, có sự sáng suốt, có minh mẫn, được tìm thấy, được gặp lại, được đạt đến, được có được – (đó là ý nghĩa của) "nếu tìm được bạn đồng hành chín chắn."
Saddhiṃ caraṃ sādhuvihāri dhīranti. Saddhiṃ caranti ekato caraṃ. Sādhuvihārinti paṭhamenapi jhānena sādhuvihāriṃ, dutiyenapi jhānena… tatiyenapi jhānena… catutthenapi jhānena sādhuvihāriṃ, mettāyapi cetovimuttiyā sādhuvihāriṃ, karuṇāyapi…pe… muditāyapi… upekkhāyapi cetovimuttiyā sādhuvihāriṃ, ākāsānañcāyatanasamāpattiyāpi sādhuvihāriṃ, viññāṇañca āyatanasamāpattiyāpi…pe… ākiñcaññāyatanasamāpattiyāpi…pe… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyāpi sādhuvihāriṃ, nirodhasamāpattiyāpi sādhuvihāriṃ, phalasamāpattiyāpi sādhuvihāriṃ. Dhīranti dhīraṃ paṇḍitaṃ paññavantaṃ buddhimantaṃ ñāṇiṃ vibhāviṃ medhāvinti – saddhiṃ caraṃ sādhuvihāri dhīraṃ.
Regarding the phrase, `Saddhiṃ caraṃ sādhuvihāri dhīraṃ`: `Saddhiṃ caraṃ` means one who fares together. `Sādhuvihāriṃ` means one who dwells well by means of the first jhāna, one who dwells well by means of the second jhāna... the third jhāna... the fourth jhāna; one who dwells well by means of the liberation of mind through loving-kindness, through compassion... through altruistic joy... through equanimity; one who dwells well by means of the attainment of the base of infinite space, the attainment of the base of infinite consciousness... the attainment of the base of nothingness... the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception; one who dwells well by means of the attainment of cessation, and one who dwells well by means of the attainment of fruition. `Dhīraṃ` means steadfast, learned, wise, intelligent, knowledgeable, discerning, and sagacious. This is the meaning of the phrase `saddhiṃ caraṃ sādhuvihāri dhīraṃ`.
(Về câu) "Cùng đi, sống tốt, và vững vàng." "Cùng đi" có nghĩa là đi chung với nhau. "Sống tốt" có nghĩa là người sống tốt với Sơ thiền, cũng như với Nhị thiền... Tam thiền... Tứ thiền; người sống tốt với tâm giải thoát do từ bi, cũng như do hỷ... do xả; người sống tốt với Không vô biên xứ định, cũng như với Thức vô biên xứ định... Vô sở hữu xứ định... Phi tưởng phi phi tưởng xứ định; người sống tốt với Diệt tận định; người sống tốt với Quả định. "Vững vàng" có nghĩa là người vững vàng, bậc hiền trí, có trí tuệ, có sự giác ngộ, có tri kiến, có sự sáng suốt, có minh mẫn – (đó là ý nghĩa của) "cùng đi, sống tốt, và vững vàng."
Abhibhuyya sabbāni parissayānīti. Parissayāti dve parissayā – pākaṭaparissayā ca paṭicchannaparissayā ca…pe… ime vuccanti pākaṭaparissayā…pe… ime vuccanti paṭicchannaparissayā…pe… evampi, tatrāsayāti – parissayā. Abhibhuyya sabbāni parissayānīti sabbe parissaye abhibhuyya abhibhavitvā ajjhottharitvā pariyādiyitvā madditvāti – abhibhuyya sabbāni parissayāni.
Regarding the phrase, `Abhibhuyya sabbāni parissayāni`: `Parissayā` means dangers. There are two kinds of dangers: manifest dangers and hidden dangers... These are called manifest dangers... These are called hidden dangers... `Abhibhuyya sabbāni parissayāni` means having overcome, conquered, overwhelmed, mastered, and crushed all dangers. This is the meaning of `abhibhuyya sabbāni parissayāni`.
(Về câu) "Vượt qua mọi hiểm nguy." "Hiểm nguy" có nghĩa là có hai loại hiểm nguy – hiểm nguy hiển lộ và hiểm nguy che giấu... (v.v.)... những thứ này được gọi là hiểm nguy hiển lộ... (v.v.)... những thứ này được gọi là hiểm nguy che giấu... (v.v.)... cũng vậy, `tatrāsayā` có nghĩa là hiểm nguy. "Vượt qua mọi hiểm nguy" có nghĩa là sau khi đã chế ngự, chinh phục, áp đảo, khắc phục, và đè bẹp tất cả các hiểm nguy – (đó là ý nghĩa của) "vượt qua mọi hiểm nguy."
Careyya tenattamano satīmāti so paccekasambuddho tena nipakena paṇḍitena paññavantena buddhimantena ñāṇinā vibhāvinā medhāvinā sahāyena saddhiṃ attamano tuṭṭhamano haṭṭhamano pahaṭṭhamano udaggamano muditamano careyya vihareyya iriyeyya vatteyya pāleyya yapeyya yāpeyyāti – careyya tenattamano. Satīmāti so paccekasambuddho satimā hoti paramena satinepakkena samannāgato, cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritāti – careyya tenattamano satīmā. Tenāha so paccekasambuddho –
Regarding the phrase, `Careyya tenattamano satīmā`: That Paccekasambuddha, together with that prudent, learned, wise, intelligent, knowledgeable, discerning, and sagacious companion, being gratified, satisfied, joyful, elated, exultant, and glad of mind, should fare, dwell, maintain his postures, act, protect, sustain, and keep himself going. This is the meaning of `careyya tenattamano`. As for `satīmā`: that Paccekasambuddha is mindful, endowed with supreme mindfulness and prudence; he is one who remembers and recollects what was done and said long ago. This is the meaning of `careyya tenattamano satīmā`. Therefore, that Paccekasambuddha said:
(Về câu) "Sống cùng người ấy, với tâm hoan hỷ và chánh niệm." Vị Phật Độc Giác ấy, cùng với người bạn đồng hành chín chắn, hiền trí, có trí tuệ, có sự giác ngộ, có tri kiến, có sự sáng suốt, có minh mẫn ấy, với tâm hoan hỷ, tâm hài lòng, tâm vui vẻ, tâm phấn khởi, tâm hân hoan, tâm hoan lạc, nên đi, nên trú, nên duy trì oai nghi, nên hành xử, nên bảo hộ, nên sống, nên duy trì sự sống – (đó là ý nghĩa của) "sống cùng người ấy, với tâm hoan hỷ." "Chánh niệm" có nghĩa là vị Phật Độc Giác ấy có chánh niệm, được trang bị với chánh niệm và sự thận trọng tối thượng, có thể nhớ lại, hồi tưởng lại những việc đã làm từ lâu và những lời đã nói từ lâu – (đó là ý nghĩa của) "sống cùng người ấy, với tâm hoan hỷ và chánh niệm." Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói:
‘‘Sace labhetha nipakaṃ sahāyaṃ, saddhiṃ caraṃ sādhuvihāri dhīraṃ;
Abhibhuyya sabbāni parissayāni, careyya tenattamano satīmā’’ti.
‘If one should find a prudent companion, one who travels together, dwells well, and is steadfast; having overcome all dangers, one should wander with him, gratified and mindful.’
"Nếu tìm được bạn đồng hành chín chắn, cùng đi, sống tốt, và vững vàng; hãy vượt qua mọi hiểm nguy, sống cùng người ấy, với tâm hoan hỷ và chánh niệm."
132.
132.
132.
No ce labhetha nipakaṃ sahāyaṃ, saddhiṃ caraṃ sādhuvihāri dhīraṃ;
Rājāva raṭṭhaṃ vijitaṃ pahāya, eko care khaggavisāṇakappo.
If one should not find a prudent companion, one who travels together, dwells well, and is steadfast; like a king who has abandoned his conquered kingdom, one should wander alone like a rhinoceros horn.
Nếu không tìm được bạn đồng hành chín chắn, cùng đi, sống tốt, và vững vàng; như vị vua từ bỏ vương quốc đã chinh phục, hãy sống một mình như sừng tê giác.
No ce labhetha nipakaṃ sahāyanti no ce nipakaṃ paṇḍitaṃ paññavantaṃ buddhimantaṃ ñāṇiṃ vibhāviṃ medhāviṃ sahāyaṃ labheyya paṭilabheyya adhigaccheyya vindeyyāti – no ce labhetha nipakaṃ sahāyaṃ.
‘If one should not find a prudent companion’: if one should not find, obtain, attain, or gain a prudent, learned, wise, intelligent, knowledgeable, discerning, sagacious companion—this is ‘if one should not find a prudent companion’.
(Về câu) "Nếu không tìm được bạn đồng hành chín chắn" có nghĩa là: nếu không tìm thấy, không gặp lại, không đạt đến, không có được một người bạn đồng hành chín chắn, bậc hiền trí, có trí tuệ, có sự giác ngộ, có tri kiến, có sự sáng suốt, có minh mẫn – (đó là ý nghĩa của) "nếu không tìm được bạn đồng hành chín chắn."
Saddhiṃ caraṃ sādhuvihāri dhīranti. Saddhiṃ caranti ekato caraṃ. Sādhuvihārinti paṭhamenapi jhānena sādhuvihāriṃ…pe… nirodhasamāpattiyāpi sādhuvihāriṃ, phalasamāpattiyāpi sādhuvihāriṃ. Dhīranti dhīraṃ paṇḍitaṃ paññavantaṃ buddhimantaṃ ñāṇiṃ vibhāviṃ medhāvinti – saddhiṃ caraṃ sādhuvihāri dhīraṃ.
‘Travelling together, dwelling well, and steadfast’: ‘Travelling together’ means to travel together. ‘Dwelling well’ means one who dwells well by means of the first jhāna... up to the attainment of cessation and the attainment of fruition. ‘Steadfast’ means steadfast, learned, endowed with wisdom, intelligent, knowledgeable, discerning, sagacious—this is ‘travelling together, dwelling well, and steadfast’.
(Về câu) "Cùng đi, sống tốt, và vững vàng." "Cùng đi" có nghĩa là đi chung với nhau. "Sống tốt" có nghĩa là người sống tốt với Sơ thiền... (v.v.)... người sống tốt với Diệt tận định; người sống tốt với Quả định. "Vững vàng" có nghĩa là người vững vàng, bậc hiền trí, có trí tuệ, có sự giác ngộ, có tri kiến, có sự sáng suốt, có minh mẫn – (đó là ý nghĩa của) "cùng đi, sống tốt, và vững vàng."
Rājāva raṭṭhaṃ vijitaṃ pahāyāti rājā khattiyo muddhābhisitto vijitasaṅgāmo nihatapaccāmitto laddhādhippāyo paripuṇṇakosakoṭṭhāgāro raṭṭhañca janapadañca kosañca koṭṭhāgārañca pahūtahiraññasuvaṇṇaṃ nagarañca pariccajitvā kesamassuṃ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitvā akiñcanabhāvaṃ upagantvā eko carati viharati iriyati vatteti pāleti yapeti yāpeti. Evaṃ paccekasambuddhopi sabbaṃ gharāvāsapalibodhaṃ chinditvā puttadārapalibodhaṃ chinditvā ñātipalibodhaṃ chinditvā mittāmaccapalibodhaṃ chinditvā kesamassuṃ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitvā akiñcanabhāvaṃ upagantvā eko carati viharati iriyati vatteti pāleti yapeti yāpetīti – rājāva raṭṭhaṃ vijitaṃ pahāya, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
'Like a king who has abandoned his conquered kingdom': just as a king—a Khattiya, consecrated on the head, victorious in battle, with his enemies slain, his aims achieved, his treasury and granaries full—having abandoned his realm and country, his treasury and granaries, his abundant gold and silver, and the city, having shaved off his hair and beard, having donned the saffron robes, having gone forth from the home life into homelessness, having reached a state of possessing nothing, wanders alone, dwells, moves, acts, maintains, sustains, and keeps himself going; so too, the Paccekasambuddha, having cut off all impediments of household life, having cut off the impediment of wife and children, having cut off the impediment of relatives, having cut off the impediment of friends and ministers, having shaved off his hair and beard, having donned the saffron robes, having gone forth from the home life into homelessness, having reached a state of possessing nothing, wanders alone, dwells, moves, acts, maintains, sustains, and keeps himself going. This is the meaning of 'Like a king who has abandoned his conquered kingdom, one should wander alone like a rhinoceros horn.' Therefore that Paccekasambuddha said:
“Như vị vua từ bỏ quốc độ đã được chinh phục” có nghĩa là: Vị vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ, đã làm lễ quán đảnh, đã chiến thắng trận mạc, đã tiêu diệt kẻ thù, đã đạt được ý nguyện, có kho tàng và vựa lẫm được sung mãn, sau khi đã từ bỏ quốc độ, quận huyện, ngân khố, vựa lẫm, nhiều vàng bạc, và thành phố, đã cạo bỏ râu tóc, đã đắp các y màu cà-sa, đã xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không gia đình, đã đạt đến trạng thái vô sản, rồi đi một mình, trú một mình, sinh hoạt một mình, hành xử một mình, duy trì một mình, bảo dưỡng một mình, tự nuôi sống một mình. Tương tự như thế, vị Phật Độc Giác cũng cắt đứt mọi ràng buộc của đời sống tại gia, cắt đứt ràng buộc về con cái và vợ, cắt đứt ràng buộc về quyến thuộc, cắt đứt ràng buộc về bạn bè và quan chức, cạo bỏ râu tóc, đắp các y màu cà-sa, xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không gia đình, đạt đến trạng thái vô sản, rồi đi một mình, trú một mình, sinh hoạt một mình, hành xử một mình, duy trì một mình, bảo dưỡng một mình, tự nuôi sống một mình. – Như vị vua từ bỏ quốc độ đã được chinh phục, hãy đi một mình như sừng tê ngưu. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng –
‘‘No ce labhetha nipakaṃ sahāyaṃ, saddhiṃ caraṃ sādhuvihāri dhīraṃ;
Rājāva raṭṭhaṃ vijitaṃ pahāya, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
‘If one should not find a prudent companion, a steadfast one of good conduct to travel with, like a king who has abandoned his conquered kingdom, one should wander alone like a rhinoceros horn.’
“Nếu không tìm được bạn đồng hành sáng suốt, cùng đi, sống tốt, và vững vàng, thì như vị vua từ bỏ quốc độ đã được chinh phục, hãy đi một mình như sừng tê ngưu.”
133.
133.
133.
Addhā pasaṃsāma sahāyasampadaṃ, seṭṭhā samā sevitabbā sahāyā;
Ete aladdhā anavajjabhojī, eko care khaggavisāṇakappo.
Truly, we praise the blessing of companionship; one should associate with companions who are superior or equal. Not having obtained these, subsisting on blameless food, one should wander alone like a rhinoceros horn.
Chắc chắn chúng ta tán dương sự thành tựu về bạn đồng hành. Nên thân cận với những người bạn cao thượng hơn hoặc tương đương. Không tìm được những người bạn như thế, hãy sống với vật thực không có lỗi lầm, hãy đi một mình như sừng tê ngưu.
Addhā pasaṃsāma sahāyasampadanti. Addhāti ekaṃsavacanaṃ nissaṃsayavacanaṃ nikkaṅkhavacanaṃ advejjhavacanaṃ adveḷhakavacanaṃ niyogavacanaṃ apaṇṇakavacanaṃ aviraddhavacanaṃ avatthāpanavacanametaṃ – addhāti. Sahāyasampadanti sahāyasampadā vuccati yo so sahāyo asekkhena sīlakkhandhena samannāgato hoti, asekkhena samādhikkhandhena… asekkhena paññākkhandhena … asekkhena vimuttikkhandhena… asekkhena vimuttiñāṇadassanakkhandhena samannāgato hoti. Addhā pasaṃsāma sahāyasampadanti sahāyasampadaṃ pasaṃsāma thomema kittema vaṇṇemāti – addhā pasaṃsāma sahāyasampadaṃ.
‘Truly, we praise the accomplishment of a companion.’ ‘Truly’ is a word expressing certainty, a word without doubt, a word without uncertainty, a word without double-mindedness, a word free from defect, a peerless word, and a word of establishment—this is ‘truly.’ ‘The accomplishment of a companion’: the accomplishment of a companion is said of that companion who is possessed of the adept's aggregate of virtue, the adept's aggregate of concentration, the adept's aggregate of wisdom, the adept's aggregate of the liberation of fruition, and the adept's aggregate of the reviewing knowledge and vision of liberation. ‘Truly, we praise the accomplishment of a companion’ means we praise, extol, celebrate, and commend the accomplishment of a companion—this is ‘truly, we praise the accomplishment of a companion.’
“Chắc chắn chúng ta tán dương sự thành tựu về bạn đồng hành.” Ở đây, “chắc chắn” là từ ngữ có nghĩa dứt khoát, có nghĩa không nghi ngờ, có nghĩa không do dự, có nghĩa không phân vân, có nghĩa không lưỡng lự, có nghĩa là sự ràng buộc, có nghĩa không sai lầm, có nghĩa không thất bại, có nghĩa là sự thiết lập vững chắc – đó là “chắc chắn.” “Sự thành tựu về bạn đồng hành” được gọi là sự thành tựu về bạn đồng hành là khi người bạn đồng hành ấy được hội đủ uẩn giới vô học, được hội đủ uẩn định vô học... uẩn tuệ vô học... uẩn giải thoát vô học... được hội đủ uẩn giải thoát tri kiến vô học. “Chắc chắn chúng ta tán dương sự thành tựu về bạn đồng hành” có nghĩa là: Chúng ta tán dương, chúng ta ca ngợi, chúng ta tôn vinh, chúng ta xiển dương sự thành tựu về bạn đồng hành. – Như vậy là “chắc chắn chúng ta tán dương sự thành tựu về bạn đồng hành.”
Seṭṭhā samā sevitabbā sahāyāti seṭṭhā honti sahāyā sīlena samādhinā paññāya vimuttiyā vimuttiñāṇadassanena; samā sadisā honti sahāyā sīlena samādhinā paññāya vimuttiyā vimuttiñāṇadassanena. Seṭṭhā vā sahāyā sadisā vā sahāyā sevitabbā bhajitabbā payirupāsitabbā paripucchitabbā paripañhitabbāti – seṭṭhā samā sevitabbā sahāyā.
‘Companions who are superior or equal should be associated with.’ Companions are superior in virtue, concentration, wisdom, liberation of fruition, and the reviewing knowledge and vision of liberation. Companions are equal, that is, similar, in virtue, concentration, wisdom, liberation of fruition, and the reviewing knowledge and vision of liberation. Companions who are superior or companions who are equal should be repeatedly associated with, questioned, and examined. This is the meaning of ‘Companions who are superior or equal should be associated with.’
“Nên thân cận với những người bạn cao thượng hơn hoặc tương đương.” Những người bạn được gọi là cao thượng hơn về giới, về định, về tuệ, về giải thoát, về giải thoát tri kiến. Những người bạn được gọi là tương đương, ngang bằng về giới, về định, về tuệ, về giải thoát, về giải thoát tri kiến. Hoặc những người bạn cao thượng hơn, hoặc những người bạn tương đương thì nên được thân cận, nên được giao du, nên được hầu cận, nên được hỏi han, nên được tra vấn. – Như vậy là “nên thân cận với những người bạn cao thượng hơn hoặc tương đương.”
Ete aladdhā anavajjabhojīti atthi puggalo sāvajjabhojī atthi puggalo anavajjabhojīti. Katamo ca puggalo sāvajjabhojī? Idhekacco puggalo kuhanāya lapanāya nemittikatāya nippesikatāya lābhena lābhaṃ nijigīsanatāya † dārudānena veḷudānena pattadānena pupphadānena phaladānena sinānadānena cuṇṇadānena mattikādānena dantakaṭṭhadānena mukhodakadānena cāṭukamyatāya † muggasūpyatāya † pāribhaṭyatāya pīṭhamaddikatāya vatthuvijjāya tiracchānavijjāya aṅgavijjāya nakkhattavijjāya dūtagamanena pahiṇagamanena jaṅghapesaniyena vejjakammena navakammena † piṇḍapaṭipiṇḍakena dānānuppadānena, adhammena visamena laddhā labhitvā adhigantvā vinditvā paṭilabhitvā jīvikaṃ † kappeti. Ayaṃ vuccati puggalo sāvajjabhojī.
There is a person who subsists on blameworthy food, and there is a person who subsists on blameless food. And which is the person who subsists on blameworthy food? Here, a certain person maintains their livelihood unrighteously and unfairly by means of deceit, talkativeness, hinting, disparaging, pursuing gain with gain; by giving firewood, bamboo, leaves, flowers, fruit, bathing powder, scented powder, clay, tooth-sticks, or water for washing the face; by flattery, fawning, carrying and tending to children, or acting as a servile attendant; by the art of determining auspicious sites, base arts, the art of interpreting bodily marks, or astrology; by going as a messenger, going on errands, or acting as a courier; by medical practice, construction work, giving alms in return for alms, or giving gifts in return for gifts. This person is called one who subsists on blameworthy food.
“Không tìm được những người bạn như thế, hãy sống với vật thực không có lỗi lầm.” Có hạng người có vật thực có lỗi lầm, có hạng người có vật thực không có lỗi lầm. Và thế nào là hạng người có vật thực có lỗi lầm? Ở đây, có hạng người nuôi mạng sống sau khi đã nhận được, đã kiếm được, đã đạt được, đã tìm được, đã thủ đắc được một cách phi pháp, một cách bất chính, bằng sự lừa phỉnh, bằng sự ba hoa, bằng sự gợi ý, bằng sự ép buộc, bằng cách lấy lợi dưỡng để tìm kiếm lợi dưỡng, bằng cách cho củi, cho tre, cho lá, cho hoa, cho quả, cho vật dụng tắm rửa, cho bột thơm, cho đất sét, cho tăm xỉa răng, cho nước rửa mặt, bằng sự tâng bốc, bằng lời nói ngon ngọt, bằng cách ẵm bồng con nít, bằng cách hầu hạ, bằng khoa học về đất đai, bằng tà thuật, bằng tướng số, bằng chiêm tinh, bằng việc đi đưa tin, bằng việc đi truyền tin, bằng việc đi đưa tin chạy bộ, bằng nghề y, bằng công việc xây dựng mới, bằng cách cho đi để nhận lại, bằng cách cho thêm sau khi đã cho. Hạng người này được gọi là người có vật thực có lỗi lầm.
Katamo ca puggalo anavajjabhojī? Idhekacco puggalo na kuhanāya na lapanāya na nemittikatāya na nippesikatāya na lābhena lābhaṃ nijigīsanatāya na dārudānena na veḷudānena na pattadānena na pupphadānena na phaladānena na sinānadānena na cuṇṇadānena na mattikādānena na dantakaṭṭhadānena na mukhodakadānena na cāṭukamyatāya na muggasūpyatāya na pāribhaṭyatāya na pīṭhamaddikatāya na vatthuvijjāya na tiracchānavijjāya na aṅgavijjāya na nakkhattavijjāya na dūtagamanena na pahiṇagamanena na jaṅghapesaniyena na vejjakammena na navakammena na piṇḍapaṭipiṇḍakena na dānānuppadānena, dhammena samena laddhā labhitvā adhigantvā vinditvā paṭilabhitvā jīvikaṃ kappeti. Ayaṃ vuccati puggalo anavajjabhojī.
And which is the person who subsists on blameless food? Here, a certain person maintains their livelihood righteously and fairly, not by means of deceit, not by talkativeness, not by hinting, not by disparaging, not by pursuing gain with gain; not by giving firewood, bamboo, leaves, flowers, fruit, bathing powder, scented powder, clay, tooth-sticks, or water for washing the face; not by flattery, not by fawning, not by carrying and tending to children, not by acting as a servile attendant; not by the art of determining auspicious sites, not by base arts, not by the art of interpreting bodily marks, not by astrology; not by going as a messenger, not by going on errands, not by acting as a courier; not by medical practice, not by construction work, not by giving alms in return for alms, not by giving gifts in return for gifts. This person is called one who subsists on blameless food.
Và thế nào là hạng người có vật thực không có lỗi lầm? Ở đây, có hạng người nuôi mạng sống sau khi đã nhận được, đã kiếm được, đã đạt được, đã tìm được, đã thủ đắc được một cách hợp pháp, một cách công bằng, không phải bằng sự lừa phỉnh, không phải bằng sự ba hoa, không phải bằng sự gợi ý, không phải bằng sự ép buộc, không phải bằng cách lấy lợi dưỡng để tìm kiếm lợi dưỡng, không phải bằng cách cho củi, không phải bằng cách cho tre, không phải bằng cách cho lá, không phải bằng cách cho hoa, không phải bằng cách cho quả, không phải bằng cách cho vật dụng tắm rửa, không phải bằng cách cho bột thơm, không phải bằng cách cho đất sét, không phải bằng cách cho tăm xỉa răng, không phải bằng cách cho nước rửa mặt, không phải bằng sự tâng bốc, không phải bằng lời nói ngon ngọt, không phải bằng cách ẵm bồng con nít, không phải bằng cách hầu hạ, không phải bằng khoa học về đất đai, không phải bằng tà thuật, không phải bằng tướng số, không phải bằng chiêm tinh, không phải bằng việc đi đưa tin, không phải bằng việc đi truyền tin, không phải bằng việc đi đưa tin chạy bộ, không phải bằng nghề y, không phải bằng công việc xây dựng mới, không phải bằng cách cho đi để nhận lại, không phải bằng cách cho thêm sau khi đã cho. Hạng người này được gọi là người có vật thực không có lỗi lầm.
Ete aladdhā anavajjabhojīti ete anavajjabhojī aladdhā alabhitvā anadhigantvā avinditvā appaṭilabhitvāti – ete aladdhā anavajjabhojī, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
“Not having obtained these, subsisting on what is blameless”: this means not having obtained, not having gotten, not having attained, not having found, not having received these companions who subsist on what is blameless. Thus: “Not having obtained these, subsisting on what is blameless, one should wander alone like a rhinoceros.” Therefore that Paccekasambuddha said:
“Không tìm được những người bạn như thế, hãy sống với vật thực không có lỗi lầm.” (Câu này có nghĩa là:) Không tìm được, không kiếm được, không đạt được, không gặp được, không thủ đắc được những người bạn sống với vật thực không có lỗi lầm ấy. – Như vậy là “không tìm được những người bạn như thế, hãy sống với vật thực không có lỗi lầm,” hãy đi một mình như sừng tê ngưu. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng –
‘‘Addhā pasaṃsāma sahāyasampadaṃ, seṭṭhā samā sevitabbā sahāyā;
Ete aladdhā anavajjabhojī, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“Indeed, we praise the blessing of companionship; friends who are superior or equal should be cultivated. Not obtaining these, subsisting on what is blameless, one should wander alone like a rhinoceros.”
“Chắc chắn chúng ta tán dương sự thành tựu về bạn đồng hành. Nên thân cận với những người bạn cao thượng hơn hoặc tương đương. Không tìm được những người bạn như thế, hãy sống với vật thực không có lỗi lầm, hãy đi một mình như sừng tê ngưu.”
134.
134.
134.
Disvā suvaṇṇassa pabhassarāni, kammāraputtena suniṭṭhitāni;
Saṅghaṭṭayantāni † duve bhujasmiṃ, eko care khaggavisāṇakappo.
Having seen the shining golden bangles, well-finished by a smith’s son, two clashing together on one arm, one should wander alone like a rhinoceros.
Thấy những chiếc vòng vàng óng ánh, được người con trai của thợ kim hoàn chế tác khéo léo, va chạm vào nhau trên hai cánh tay, hãy đi một mình như sừng tê ngưu.
Disvā suvaṇṇassa pabhassarānīti disvā passitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. Suvaṇṇassāti jātarūpassa. Pabhassarānīti parisuddhāni pariyodātānīti – disvā suvaṇṇassa pabhassarāni.
“Having seen the shining golden bangles”: having seen, beheld, weighed, judged, discerned, made clear. “Of gold”: of refined gold. “Shining”: pure, cleansed. Thus: “Having seen the shining golden bangles.”
“Thấy những chiếc vòng vàng óng ánh.” (Câu này có nghĩa là:) Thấy, trông thấy, cân nhắc, xem xét, làm cho rõ ràng, làm cho hiển hiện. “Vàng” có nghĩa là vàng ròng. “Óng ánh” có nghĩa là thanh tịnh, trong sạch. – Như vậy là “thấy những chiếc vòng vàng óng ánh.”
Kammāraputtena suniṭṭhitānīti kammāraputto vuccati suvaṇṇakāro. Kammāraputtena suniṭṭhitānīti kammāraputtena suniṭṭhitāni sukatāni suparikammakatānīti – kammāraputtena suniṭṭhitāni.
“Well-finished by a smith’s son”: a smith’s son is called a goldsmith. “Well-finished by a smith’s son” means well-finished, well-made, well-wrought by a smith’s son. Thus: “well-finished by a smith’s son.”
Kammāraputtena suniṭṭhitānīti: kammāraputto được gọi là người thợ vàng. Kammāraputtena suniṭṭhitānīti có nghĩa là: bởi người con trai của thợ rèn đã được làm cho hoàn hảo, đã được làm tốt, đã được gia công kỹ lưỡng – (đó là nghĩa của) kammāraputtena suniṭṭhitāni.
Saṅghaṭṭayantāni duve bhujasminti bhujo vuccati hattho. Yathā ekasmiṃ hatthe dve nūpurāni † ghaṭṭenti †; evameva sattā taṇhāvasena diṭṭhivasena niraye ghaṭṭenti, tiracchānayoniyaṃ ghaṭṭenti, pettivisaye ghaṭṭenti, manussaloke ghaṭṭenti, devaloke ghaṭṭenti, gatiyā gatiṃ upapattiyā upapattiṃ paṭisandhiyā paṭisandhiṃ bhavena bhavaṃ saṃsārena saṃsāraṃ vaṭṭena vaṭṭaṃ ghaṭṭenti saṅghaṭṭenti saṅghaṭṭentā caranti viharanti iriyanti vattenti pālenti yapenti yāpentīti – saṅghaṭṭayantāni duve bhujasmiṃ, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
“Two clashing on one arm”: `bhujo` (arm) is called the hand. Just as two bangles clash on one arm, so too beings, by the power of craving and by the power of views, clash in hell, clash in the animal realm, clash in the sphere of afflicted spirits, clash in the human world, clash in the deva world. They clash from destination to destination, from rebirth to rebirth, from rebirth-linking to rebirth-linking, from existence to existence, from saṃsāra to saṃsāra, from the round to the round. They clash, they collide; clashing, they fare on, dwell, move about, proceed, maintain themselves, carry on, and keep going. Thus: “Two clashing on one arm, one should wander alone like a rhinoceros.” Therefore that Paccekasambuddha said:
Saṅghaṭṭayantāni duve bhujasminti: bhujo được gọi là cánh tay. Giống như trên một cánh tay, hai chiếc vòng va chạm vào nhau; cũng vậy, các chúng sanh do năng lực của ái, do năng lực của tà kiến, va chạm trong địa ngục, va chạm trong loài súc sanh, va chạm trong cảnh giới ngạ quỷ, va chạm trong cõi người, va chạm trong cõi trời; va chạm từ cõi này đến cõi khác, từ sự sanh này đến sự sanh khác, từ sự tái sanh này đến sự tái sanh khác, từ kiếp sống này đến kiếp sống khác, từ sự trôi lăn này đến sự trôi lăn khác, từ vòng luân hồi này đến vòng luân hồi khác, họ va chạm, cọ xát; trong khi va chạm, họ đi, họ sống, họ duy trì oai nghi, họ xoay vần, họ bảo trì, họ tồn tại, họ duy trì sự sống – (đó là nghĩa của) saṅghaṭṭayantāni duve bhujasmiṃ. Hãy sống một mình như sừng tê ngưu. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
‘‘Disvā suvaṇṇassa pabhassarāni, kammāraputtena suniṭṭhitāni;
Saṅghaṭṭayantāni duve bhujasmiṃ, eko care khaggavisāṇakappo’’.
“Having seen the shining golden bangles, well-finished by a smith’s son, two clashing together on one arm, one should wander alone like a rhinoceros.”
“Sau khi thấy những chiếc vòng bằng vàng sáng chói, được người con của thợ rèn làm cho hoàn hảo; hai chiếc va chạm vào nhau trên cánh tay, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.”
135.
135.
135.
Evaṃ dutīyena sahā mamassa, vācābhilāpo abhisajjanā vā;
Etaṃ bhayaṃ āyatiṃ pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
Thus, with a second companion, there would be conversation or attachment for me. Foreseeing this danger in the future, one should wander alone like a rhinoceros horn.
“Như vậy, nếu ta có người bạn thứ hai, sẽ có lời nói qua lại hoặc sự dính mắc. Thấy trước sự nguy hiểm này trong tương lai, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.”
Evaṃ dutīyena sahā mamassāti taṇhādutiyo vā hoti puggaladutiyo vā. Kathaṃ taṇhādutiyo hoti? Taṇhāti rūpataṇhā…pe… dhammataṇhā. Yassesā taṇhā appahīnā, so vuccati taṇhādutiyo.
Regarding 'Thus, with a second companion, there would be for me': one has either craving as a second or a person as a second. How does one have craving as a second? Craving is craving for forms… and so on… craving for mental phenomena. One for whom this craving has not been abandoned is called 'one with craving as a second.'
Evaṃ dutīyena sahā mamassāti: có người bạn thứ hai là ái, hoặc có người bạn thứ hai là một người. Thế nào là có người bạn thứ hai là ái? Ái là ái đối với sắc... cho đến... ái đối với pháp. Người nào chưa từ bỏ được ái này, người ấy được gọi là người có ái làm bạn thứ hai.
Taṇhādutiyo puriso, dīghamaddhāna saṃsaraṃ;
Itthabhāvaññathābhāvaṃ, saṃsāraṃ nātivattatīti.
A person with craving as a companion wanders on for a long time; experiencing one state of being after another, one does not transcend saṃsāra.
“Người có ái làm bạn thứ hai, trôi lăn trong một thời gian dài; trải qua kiếp này và kiếp khác, không vượt qua được vòng luân hồi.”
Evaṃ taṇhādutiyo vā hoti.
Thus one has craving as a second.
Như vậy, là có ái làm bạn thứ hai.
Kathaṃ puggaladutiyo hoti? Idhekacco na atthahetu † na kāraṇahetu uddhato avūpasantacitto ekassa vā dutiyo hoti, dvinnaṃ vā tatiyo hoti, tiṇṇaṃ vā catuttho hoti. Tattha bahuṃ samphappalāpaṃ palapati; seyyathidaṃ – rājakathaṃ corakathaṃ mahāmattakathaṃ senākathaṃ bhayakathaṃ yuddhakathaṃ annakathaṃ pānakathaṃ vatthakathaṃ sayanakathaṃ mālākathaṃ gandhakathaṃ ñātikathaṃ yānakathaṃ gāmakathaṃ nigamakathaṃ nagarakathaṃ janapadakathaṃ itthikathaṃ † sūrakathaṃ visikhākathaṃ kumbhaṭṭhānakathaṃ pubbapetakathaṃ nānattakathaṃ lokakkhāyikaṃ samuddakkhāyikaṃ itibhavābhavakathaṃ katheti. Evaṃ puggaladutiyo hotīti – evaṃ dutīyena sahā mamassa.
How does one have a person as a second? Here, someone—not for any good purpose, not for any reason, arrogant, with an unpacified mind—becomes a second to one, a third to two, or a fourth to three. There he engages in much frivolous talk, such as: talk about kings, thieves, chief ministers, armies, dangers, battles, food, drink, clothing, beds, garlands, perfumes, relatives, vehicles, villages, market towns, cities, districts, women, heroes, streets, wells, the departed, miscellaneous matters; tales about the world, tales about the sea; and talk about existence and non-existence. Thus one has a person as a second. This is the meaning of 'Thus, with a second companion, there would be for me.'
Thế nào là có người bạn thứ hai là một người? Ở đây, có người không vì lợi ích, không vì nguyên nhân, kiêu căng, tâm không an tịnh, là người thứ hai của một người, hoặc là người thứ ba của hai người, hoặc là người thứ tư của ba người. Ở đó, người ấy nói nhiều lời vô ích; chẳng hạn như – chuyện vua chúa, chuyện trộm cướp, chuyện đại thần, chuyện quân đội, chuyện kinh sợ, chuyện chiến tranh, chuyện ăn uống, chuyện y phục, chuyện giường nằm, chuyện vòng hoa, chuyện hương thơm, chuyện bà con, chuyện xe cộ, chuyện làng mạc, chuyện thị trấn, chuyện thành phố, chuyện xứ sở, chuyện đàn bà, chuyện anh hùng, chuyện đường phố, chuyện bến nước, chuyện người đã khuất, chuyện tạp nhạp, chuyện thế gian, chuyện biển cả, chuyện thường kiến và đoạn kiến. Như vậy là có người bạn thứ hai là một người – (đó là nghĩa của) evaṃ dutīyena sahā mamassa.
Vācābhilāpo abhisajjanā vāti vācābhilāpo vuccati bāttiṃsa tiracchānakathā, seyyathidaṃ – rājakathaṃ…pe… itibhavābhavakathaṃ. Abhisajjanā vāti dve sajjanā – taṇhāsajjanā ca diṭṭhisajjanā ca…pe… ayaṃ taṇhāsajjanā…pe… ayaṃ diṭṭhisajjanāti – vācābhilāpo abhisajjanā vā.
Regarding 'conversation or attachment': 'Conversation' refers to the thirty-two kinds of worldly talk, such as: talk about kings… and so on… talk about existence and non-existence. Regarding 'or attachment,' there are two kinds of attachment—attachment due to craving and attachment due to views… this is attachment due to craving… this is attachment due to views. This is the meaning of 'conversation or attachment.'
Vācābhilāpo abhisajjanā vāti: vācābhilāpo được gọi là ba mươi hai loại hý luận, chẳng hạn như – chuyện vua chúa... cho đến... chuyện thường kiến và đoạn kiến. Abhisajjanā vā có nghĩa là hai sự dính mắc – sự dính mắc do ái và sự dính mắc do tà kiến... đây là sự dính mắc do ái... đây là sự dính mắc do tà kiến – (đó là nghĩa của) vācābhilāpo abhisajjanā vā.
Etaṃ bhayaṃ āyatiṃ pekkhamānoti. Bhayanti jātibhayaṃ jarābhayaṃ byādhibhayaṃ maraṇabhayaṃ rājabhayaṃ corabhayaṃ aggibhayaṃ udakabhayaṃ attānuvādabhayaṃ parānuvādabhayaṃ daṇḍabhayaṃ duggatibhayaṃ ūmibhayaṃ kumbhilabhayaṃ āvaṭṭabhayaṃ susumārabhayaṃ ājīvakabhayaṃ asilokabhayaṃ parisasārajjabhayaṃ madanabhayaṃ bhayānakaṃ chambhitattaṃ lomahaṃso cetaso ubbego utrāso. Etaṃ bhayaṃ āyatiṃ pekkhamānoti etaṃ bhayaṃ āyatiṃ pekkhamāno dakkhamāno olokayamāno nijjhāyamāno upaparikkhamānoti – etaṃ bhayaṃ āyatiṃ pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
‘Foreseeing this future danger’: ‘Danger’ means the danger of birth, the danger of aging, the danger of illness, the danger of death, the danger from kings, the danger from thieves, the danger from fire, the danger from water, the danger of self-reproach, the danger of others’ reproach, the danger of punishment, the danger of a bad destination, the danger of waves, the danger of crocodiles, the danger of whirlpools, the danger from fierce fish, the danger concerning livelihood, the danger of a bad reputation, the danger of diffidence in assemblies, the danger of conceit; the terrifying, stupefaction, horripilation, mental agitation, and terror. ‘Foreseeing this future danger’ means foreseeing, seeing, observing, contemplating, and investigating this future danger that arises from not abandoning affection. Thus: ‘Foreseeing this future danger, one should wander alone like a rhinoceros.’ Therefore that Paccekasambuddha said:
Etaṃ bhayaṃ āyatiṃ pekkhamānoti: Bhayaṃ (sự nguy hiểm) là sự nguy hiểm của sanh, sự nguy hiểm của già, sự nguy hiểm của bệnh, sự nguy hiểm của chết, sự nguy hiểm từ vua chúa, sự nguy hiểm từ trộm cướp, sự nguy hiểm từ lửa, sự nguy hiểm từ nước, sự nguy hiểm do tự khiển trách, sự nguy hiểm do bị người khác khiển trách, sự nguy hiểm của hình phạt, sự nguy hiểm của ác thú, sự nguy hiểm của sóng, sự nguy hiểm của cá sấu, sự nguy hiểm của xoáy nước, sự nguy hiểm của cá mập, sự nguy hiểm của sinh kế, sự nguy hiểm của tiếng xấu, sự nguy hiểm do rụt rè trước hội chúng, sự nguy hiểm của sự say sưa, sự kinh hoàng, sự sững sờ, sự dựng tóc gáy, sự dao động của tâm, sự hốt hoảng. Etaṃ bhayaṃ āyatiṃ pekkhamānoti có nghĩa là thấy trước, nhận thấy, nhìn thấy, quán xét, xem xét kỹ lưỡng sự nguy hiểm này trong tương lai – (đó là nghĩa của) etaṃ bhayaṃ āyatiṃ pekkhamāno. Hãy sống một mình như sừng tê ngưu. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
‘‘Evaṃ dutīyena sahā mamassa, vācābhilāpo abhisajjanā vā;
Etaṃ bhayaṃ āyatiṃ pekkhamāno, eko care khaggavisāṇakappo’’.
“Thus with a second there would be possessiveness, or talkativeness, or attachment. Foreseeing this future danger, one should wander alone like a rhinoceros.”
“Như vậy, nếu ta có người bạn thứ hai, sẽ có lời nói qua lại hoặc sự dính mắc. Thấy trước sự nguy hiểm này trong tương lai, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.”
136.
136.
136.
Kāmā hi citrā madhurā manoramā, virūparūpena mathenti cittaṃ;
Ādīnavaṃ kāmaguṇesu disvā, eko care khaggavisāṇakappo.
For sensual pleasures are varied, sweet, and delightful; in their various forms they churn the mind. Having seen the danger in the strands of sensual pleasure, one should wander alone like a rhinoceros.
“Quả vậy, các dục thì đa dạng, ngọt ngào, và làm say đắm lòng người, chúng khuấy đảo tâm trí bằng nhiều hình thức khác nhau. Thấy được sự nguy hại trong các dục, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.”
Kāmā hi citrā madhurā manoramāti. Kāmāti uddānato dve kāmā – vatthukāmā ca kilesakāmā ca…pe… ime vuccanti vatthukāmā…pe… ime vuccanti kilesakāmā. Citrāti nānāvaṇṇā rūpā nānāvaṇṇā saddā nānāvaṇṇā gandhā nānāvaṇṇā rasā nānāvaṇṇā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. Madhurāti vuttañhetaṃ bhagavatā † – ‘‘pañcime, bhikkhave, kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā…pe… ghānaviññeyyā gandhā… jivhāviññeyyā rasā… kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. Ime kho, bhikkhave, pañca kāmaguṇā. Yaṃ kho, bhikkhave, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ, idaṃ vuccati kāmasukhaṃ miḷhasukhaṃ † puthujjanasukhaṃ anariyasukhaṃ, na sevitabbaṃ na bhāvetabbaṃ na bahulīkātabbaṃ, ‘bhāyitabbaṃ etassa sukhassā’ti vadāmī’’ti – kāmā hi citrā madhurā manoramāti. Manoti yaṃ cittaṃ…pe… tajjā manoviññāṇadhātu. Mano ramenti thomenti tosenti pahāsentīti – kāmā hi citrā madhurā manoramā.
‘For sensual pleasures are varied, sweet, and delightful.’ ‘Sensual pleasures’: in brief, there are two kinds of sensual pleasures: sensual pleasures as objects and sensual pleasures as defilements… these are called sensual pleasures as objects… these are called sensual pleasures as defilements. ‘Varied’: forms of various kinds, sounds of various kinds, odors of various kinds, tastes of various kinds, tangible objects of various kinds that are wished for, desired, agreeable, of a pleasing form, connected with sensual desire, and enticing. ‘Sweet’: this was said by the Blessed One: ‘Bhikkhus, there are these five strands of sensual pleasure. What five? Forms cognizable by the eye that are wished for, desired, agreeable, of a pleasing form, connected with sensual desire, and enticing; sounds cognizable by the ear… odors cognizable by the nose… tastes cognizable by the tongue… tangible objects cognizable by the body that are wished for, desired, agreeable, of a pleasing form, connected with sensual desire, and enticing. These, bhikkhus, are the five strands of sensual pleasure. Now, bhikkhus, the pleasure and joy that arise in dependence on these five strands of sensual pleasure is called sensual pleasure, base pleasure, the pleasure of a worldling, ignoble pleasure. It should not be pursued, developed, or cultivated. I say that this pleasure is to be feared.’ Thus: ‘sensual pleasures are varied and sweet.’ ‘Delightful’: ‘mind’ is that which is mind… and so on… the mind-consciousness element born of that. They delight, gratify, please, and gladden the mind. Thus: ‘sensual pleasures are varied, sweet, and delightful.’
Kāmā hi citrā madhurā manoramāti: Kāmā (dục), tóm lại có hai loại dục – dục đối tượng và dục phiền não... đây được gọi là dục đối tượng... đây được gọi là dục phiền não. Citrā (đa dạng) có nghĩa là các sắc có nhiều loại khác nhau, các tiếng có nhiều loại khác nhau, các hương có nhiều loại khác nhau, các vị có nhiều loại khác nhau, các xúc chạm có nhiều loại khác nhau, khả ái, đáng yêu, đẹp lòng, có hình thức đáng ưa, liên hệ đến dục, đáng tham đắm. Madhurā (ngọt ngào): Điều này đã được Đức Thế Tôn nói: “Này các Tỳ khưu, có năm loại dục này. Năm loại nào? Các sắc được nhận biết qua mắt, khả ái, đáng yêu, đẹp lòng, có hình thức đáng ưa, liên hệ đến dục, đáng tham đắm; các tiếng được nhận biết qua tai... các hương được nhận biết qua mũi... các vị được nhận biết qua lưỡi... các xúc chạm được nhận biết qua thân, khả ái, đáng yêu, đẹp lòng, có hình thức đáng ưa, liên hệ đến dục, đáng tham đắm. Này các Tỳ khưu, đây là năm loại dục. Này các Tỳ khưu, do duyên năm loại dục này mà sanh khởi lạc và hỷ nào, đây được gọi là dục lạc, lạc thú thấp hèn, lạc thú của phàm phu, không phải lạc thú của bậc Thánh; không nên thực hành, không nên tu tập, không nên làm cho sung mãn, Ta nói rằng cần phải sợ hãi đối với lạc thú ấy.” – (đó là nghĩa của) kāmā hi citrā madhurā. Manoramā: Mano là tâm nào... cho đến... ý thức giới tương ưng. Chúng làm cho tâm vui thích, làm cho hoan hỷ, làm cho hài lòng, làm cho phấn khởi – (đó là nghĩa của) kāmā hi citrā madhurā manoramā.
Virūparūpena mathenti cittanti nānāvaṇṇehi rūpehi…pe… nānāvaṇṇehi phoṭṭhabbehi cittaṃ mathenti tosenti pahāsentīti – virūparūpena mathenti cittaṃ.
‘In their various forms they arouse the mind’: with forms of various kinds… and so on… with tangible objects of various kinds, they arouse, please, and gladden the mind. Thus: ‘in their various forms they arouse the mind.’
“Tâm bị khuấy động bởi các hình sắc khác nhau” có nghĩa là: bởi các sắc trần có nhiều loại khác nhau... (vân vân)... bởi các xúc trần có nhiều loại khác nhau, họ làm cho tâm bị khuấy động, làm cho hoan hỷ, làm cho vui mừng – (đó là ý nghĩa của) “tâm bị khuấy động bởi các hình sắc khác nhau”.
Ādīnavaṃ kāmaguṇesu disvāti. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘ko ca, bhikkhave, kāmānaṃ ādīnavo? Idha, bhikkhave, kulaputto yena sippaṭṭhānena jīvikaṃ kappeti, yadi muddāya yadi gaṇanāya yadi saṅkhānena yadi kasiyā yadi vaṇijjāya yadi gorakkhena yadi issatthena † yadi rājaporisena yadi sippaññatarena, sītassa purakkhato uṇhassa purakkhato ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassehi samphassamāno † khuppipāsāya mīyamāno; ayaṃ, bhikkhave, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
‘Having seen the danger in the strands of sensual pleasure’: This was said by the Blessed One: ‘And what, bhikkhus, is the danger in sensual pleasures? Here, bhikkhus, a clansman makes a living by some craft—whether by finger-reckoning, by counting, by computation, by farming, by trade, by cattle-herding, by archery, by royal service, or by some other craft. He is afflicted by cold, afflicted by heat, tormented by contact with gadflies, mosquitoes, wind, sun, and serpents; he is dying of hunger and thirst. This, bhikkhus, is a danger in sensual pleasures, a visible mass of suffering, with sensual pleasures as its cause, sensual pleasures as its source, sensual pleasures as its basis, for the sake of sensual pleasures alone.’
“Thấy được sự nguy hại trong các dục.” Điều này đã được đức Thế Tôn thuyết rằng: “Này các Tỳ khưu, sự nguy hại của các dục là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, có thiện nam tử mưu sinh bằng một nghề nghiệp nào đó, hoặc bằng nghề tính toán, hoặc bằng nghề kế toán, hoặc bằng nghề thống kê, hoặc bằng nghề nông, hoặc bằng nghề buôn bán, hoặc bằng nghề chăn nuôi gia súc, hoặc bằng nghề bắn cung, hoặc bằng nghề phục vụ vua chúa, hoặc bằng một nghề nào khác; bị cái lạnh hành hạ, bị cái nóng hành hạ, bị xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng, loài bò sát, chết vì đói và khát. Này các Tỳ khưu, đây là sự nguy hại của các dục, là một khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nguyên nhân, chỉ vì nguyên nhân là các dục.”
‘‘Tassa ce, bhikkhave, kulaputtassa evaṃ uṭṭhahato ghaṭato vāyamato te bhogā nābhinipphajjanti, so socati kilamati paridevati urattāḷiṃ kandati, sammohaṃ āpajjati – ‘moghaṃ vata me uṭṭhānaṃ, aphalo vata me vāyāmo’ti. Ayampi, bhikkhave, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
‘If, bhikkhus, as that clansman is thus striving, struggling, and making an effort, that wealth is not produced, he sorrows, is afflicted, laments, beats his breast and wails, and falls into delusion, thinking: “Alas, my striving is in vain! Alas, my effort is fruitless!” This too, bhikkhus, is a danger in sensual pleasures, a visible mass of suffering, with sensual pleasures as its cause, sensual pleasures as its source, sensual pleasures as its basis, for the sake of sensual pleasures alone.’
“Này các Tỳ khưu, nếu thiện nam tử ấy, trong khi nỗ lực, cố gắng, tinh tấn như vậy, mà những tài sản ấy không thành tựu, người ấy sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực khóc lóc, đi đến si mê rằng: ‘Sự nỗ lực của ta thật là vô ích, sự cố gắng của ta thật là vô kết quả’. Này các Tỳ khưu, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là một khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nguyên nhân, chỉ vì nguyên nhân là các dục.”
‘‘Tassa ce, bhikkhave, kulaputtassa evaṃ uṭṭhahato ghaṭato vāyamato te bhogā abhinipphajjanti, so tesaṃ bhogānaṃ ārakkhādhikaraṇaṃ dukkhaṃ domanassaṃ † paṭisaṃvedeti – ‘kinti me bhoge neva rājāno hareyyuṃ, na corā hareyyuṃ, na aggi ḍaheyya, na udakaṃ vaheyya, na appiyā dāyādā hareyyu’nti. Tassa evaṃ ārakkhato gopayato te bhoge rājāno vā haranti corā vā haranti aggi vā ḍahati udakaṃ vā vahati appiyā vā dāyādā haranti. So socati…pe… sammohaṃ āpajjati – ‘yampi me ahosi tampi no natthī’ti. Ayampi, bhikkhave, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
‘If, bhikkhus, as that clansman is thus striving, struggling, and making an effort, that wealth is produced, he experiences pain and distress on account of protecting that wealth, thinking: ‘May kings not take my wealth, nor thieves take it, nor fire burn it, nor water sweep it away, nor unloved heirs take it!’ As he is thus guarding and protecting it, kings take that wealth, or thieves take it, or fire burns it, or water sweeps it away, or unloved heirs take it. He sorrows… and falls into delusion, thinking: ‘What I had, that too is no more!’ This too, bhikkhus, is a danger in sensual pleasures, a visible mass of suffering, with sensual pleasures as its cause, sensual pleasures as its source, sensual pleasures as its basis, for the sake of sensual pleasures alone.’
“Này các Tỳ khưu, nếu thiện nam tử ấy, trong khi nỗ lực, cố gắng, tinh tấn như vậy, mà những tài sản ấy được thành tựu, người ấy vì nguyên nhân bảo vệ những tài sản ấy mà cảm nhận sự khổ, ưu rằng: ‘Làm sao để tài sản của ta không bị vua chúa lấy đi, không bị trộm cướp lấy đi, không bị lửa thiêu, không bị nước cuốn trôi, không bị những người thừa kế không thương mến lấy đi?’. Trong khi người ấy bảo vệ, gìn giữ như vậy, những tài sản ấy bị vua chúa lấy đi, hoặc bị trộm cướp lấy đi, hoặc bị lửa thiêu, hoặc bị nước cuốn trôi, hoặc bị những người thừa kế không thương mến lấy đi. Người ấy sầu muộn... (vân vân)... đi đến si mê rằng: ‘Cái gì ta đã có, cái đó nay cũng không còn’. Này các Tỳ khưu, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là một khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nguyên nhân, chỉ vì nguyên nhân là các dục.”
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu rājānopi rājūhi vivadanti, khattiyāpi khattiyehi vivadanti, brāhmaṇāpi brāhmaṇehi vivadanti, gahapatīpi gahapatīhi vivadanti, mātāpi puttena vivadati, puttopi mātarā vivadati, pitāpi puttena vivadati, puttopi pitarā vivadati, bhātāpi bhaginiyā vivadati, bhaginīpi bhātarā vivadati, sahāyopi sahāyena vivadati. Te tattha kalahaviggahavivādāpannā aññamaññaṃ pāṇīhipi upakkamanti leḍḍūhipi upakkamanti daṇḍehipi upakkamanti satthehipi upakkamanti. Te tattha maraṇampi nigacchanti maraṇamattampi dukkhaṃ. Ayampi, bhikkhave, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
Furthermore, O monks, with sensual pleasures as the cause, with sensual pleasures as the source, with sensual pleasures as the basis, solely because of sensual pleasures, kings quarrel with kings, nobles with nobles, brahmins with brahmins, householders with householders; a mother quarrels with her son, a son with his mother; a father quarrels with his son, a son with his father; a brother quarrels with a sister, a sister with her brother; a friend quarrels with a friend. Having fallen into quarrels, disputes, and conflicts, they attack one another with their hands, they attack one another with clods, they attack one another with sticks, they attack one another with weapons. Therein, they undergo death or suffering comparable to death. This, too, O monks, is a danger of sensual pleasures, a visible mass of suffering, with sensual pleasures as the cause, with sensual pleasures as the source, with sensual pleasures as the basis, solely because of sensual pleasures.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nguyên nhân, chỉ vì nguyên nhân là các dục mà vua chúa cũng tranh cãi với vua chúa, Sát-đế-lỵ cũng tranh cãi với Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn cũng tranh cãi với Bà-la-môn, gia chủ cũng tranh cãi với gia chủ, mẹ cũng tranh cãi với con trai, con trai cũng tranh cãi với mẹ, cha cũng tranh cãi với con trai, con trai cũng tranh cãi với cha, anh em trai cũng tranh cãi với chị em gái, chị em gái cũng tranh cãi với anh em trai, bạn bè cũng tranh cãi với bạn bè. Họ ở đó, rơi vào cãi vã, xung đột, tranh chấp, tấn công lẫn nhau bằng tay, bằng đất cục, bằng gậy gộc, bằng vũ khí. Họ ở đó đi đến chỗ chết hoặc đau khổ gần chết. Này các Tỳ khưu, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là một khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nguyên nhân, chỉ vì nguyên nhân là các dục.”
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu asicammaṃ gahetvā dhanukalāpaṃ sannayhitvā ubhatobyūḷhaṃ † saṅgāmaṃ pakkhandanti, usūsupi khippamānesu sattīsupi khippamānāsu asīsupi vijjotalantesu. Te tattha usūhipi vijjhanti sattīhipi † vijjhanti asināpi sīsaṃ chindanti. Te tattha maraṇampi nigacchanti maraṇamattampi dukkhaṃ. Ayampi, bhikkhave, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
Furthermore, O monks, with sensual pleasures as the cause, with sensual pleasures as the source, with sensual pleasures as the basis, solely because of sensual pleasures, having taken up sword and shield, having girded on bow and quiver, they charge into the battlefield arrayed on both sides, while arrows are being shot, while spears are being hurled, while swords are flashing. Therein, they pierce with arrows, they pierce with spears, and they sever a head with a sword. Therein, they undergo death or suffering comparable to death. This, too, O monks, is a danger of sensual pleasures, a visible mass of suffering, with sensual pleasures as the cause, with sensual pleasures as the source, with sensual pleasures as the basis, solely because of sensual pleasures.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nguyên nhân, chỉ vì nguyên nhân là các dục mà họ cầm lấy gươm và khiên, đeo cung và ống tên, xông vào trận chiến đã được dàn trận cả hai bên, trong khi tên được bắn ra, lao được phóng tới, gươm loé sáng. Họ ở đó bị bắn bởi tên, bị đâm bởi lao, bị chém đầu bằng gươm. Họ ở đó đi đến chỗ chết hoặc đau khổ gần chết. Này các Tỳ khưu, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là một khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nguyên nhân, chỉ vì nguyên nhân là các dục.”
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu asicammaṃ gahetvā dhanukalāpaṃ sannayhitvā addāvalepanā † upakāriyo pakkhandanti, usūsupi khippamānesu sattīsupi khippamānāsu, asīsupi vijjotalantesu. Te tattha usūhipi vijjhanti sattīhipi vijjhanti chakaṇakāyapi † osiñcanti abhivaggenapi omaddanti asināpi sīsaṃ chindanti. Te tattha maraṇampi nigacchanti maraṇamattampi dukkhaṃ. Ayampi, bhikkhave, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
Furthermore, monks, because of sensual pleasures, with sensual pleasures as their source, with sensual pleasures as their basis, and solely for the sake of sensual pleasures, they take up sword and shield, gird on bow and quiver, and charge into ramparts smeared with mud, while arrows are being shot, spears are being hurled, and swords are flashing. There, they are pierced with arrows, struck with spears, doused with boiling liquid cow dung, crushed by logs, and their heads are cut off with a sword. There, they meet death or suffering comparable to death. This, too, monks, is a drawback of sensual pleasures, a mass of suffering visible in this life, which is because of sensual pleasures, with sensual pleasures as its source, with sensual pleasures as its basis, and solely for the sake of sensual pleasures.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nguyên nhân, chỉ vì nguyên nhân là các dục mà họ cầm lấy gươm và khiên, đeo cung và ống tên, xông vào các pháo đài được trát vữa, trong khi tên được bắn ra, lao được phóng tới, gươm loé sáng. Họ ở đó bị bắn bởi tên, bị đâm bởi lao, bị dội bằng phân bò sôi, bị đè bẹp bởi vật nặng, bị chém đầu bằng gươm. Họ ở đó đi đến chỗ chết hoặc đau khổ gần chết. Này các Tỳ khưu, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là một khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nguyên nhân, chỉ vì nguyên nhân là các dục.”
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu sandhimpi chindanti nillopampi haranti ekāgārikampi karonti paripanthepi tiṭṭhanti paradārampi gacchanti. Tamenaṃ rājāno gahetvā vividhā kammakāraṇā kārenti – kasāhipi tāḷenti, vettehipi tāḷenti, aḍḍhadaṇḍakehipi tāḷenti, hatthampi chindanti…pe… asināpi sīsaṃ chindanti. Te tattha maraṇampi nigacchanti maraṇamattampi dukkhaṃ. Ayampi, bhikkhave, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
Furthermore, monks, because of sensual pleasures, with sensual pleasures as their source, with sensual pleasures as their basis, and solely for the sake of sensual pleasures, they break into houses, plunder, commit burglary, stand on the highway, and commit adultery. Then kings, having seized such a one, inflict various kinds of punishments: they are flogged with whips, beaten with thorny canes, and struck with split bamboo sticks; their hands are cut off... and their heads are cut off with a sword. There, they meet death or suffering comparable to death. This, too, monks, is a drawback of sensual pleasures, a mass of suffering visible in this life, which is because of sensual pleasures, with sensual pleasures as its source, with sensual pleasures as its basis, and solely for the sake of sensual pleasures.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nguyên nhân, chỉ vì nguyên nhân là các dục mà họ khoét vách, cướp bóc, cướp một nhà, đứng chặn đường, ngoại tình với vợ người khác. Vua chúa bắt người ấy và áp dụng nhiều hình phạt khác nhau: đánh bằng roi, đánh bằng roi mây, đánh bằng gậy tre chẻ đôi, chặt tay... (vân vân)... chém đầu bằng gươm. Họ ở đó đi đến chỗ chết hoặc đau khổ gần chết. Này các Tỳ khưu, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là một khối khổ hiện tại, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm nguyên nhân, chỉ vì nguyên nhân là các dục.”
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu kāyena duccaritaṃ caranti vācāya duccaritaṃ caranti manasā duccaritaṃ caranti. Te kāyena duccaritaṃ caritvā vācāya duccaritaṃ caritvā manasā duccaritaṃ caritvā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjanti. Ayampi, bhikkhave, kāmānaṃ ādīnavo samparāyiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu’’.
Furthermore, monks, because of sensual pleasures, with sensual pleasures as their source, with sensual pleasures as their basis, and solely for the sake of sensual pleasures, they practice misconduct by body, speech, and mind. Having practiced misconduct by body, speech, and mind, at the breaking up of the body, after death, they are reborn in a state of deprivation, a bad destination, a place of ruin, in hell. This, too, monks, is a drawback of sensual pleasures, a mass of suffering pertaining to the future life, which is because of sensual pleasures, with sensual pleasures as its source, with sensual pleasures as its basis, and solely for the sake of sensual pleasures.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, do nhân là dục, do nguồn gốc là dục, do nền tảng là dục, chỉ vì lý do là các dục mà họ thực hành ác hạnh về thân, thực hành ác hạnh về lời nói, thực hành ác hạnh về ý. Sau khi đã thực hành ác hạnh về thân, thực hành ác hạnh về lời nói, thực hành ác hạnh về ý, sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Tỳ khưu, đây cũng là sự nguy hại của các dục, là khối khổ ở đời sau, do nhân là dục, do nguồn gốc là dục, do nền tảng là dục, chỉ vì lý do là các dục.
Ādīnavaṃ kāmaguṇesu disvāti kāmaguṇesu ādīnavaṃ disvā passitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvāti – ādīnavaṃ kāmaguṇesu disvā, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
As to the phrase 'Having seen the drawback in sensual pleasures': it means having seen, perceived, weighed, investigated, developed, and made manifest the drawback in sensual pleasures. 'Having seen the drawback in sensual pleasures, one should wander alone like a rhinoceros horn.' Therefore, that Paccekasambuddha said:
Về câu ‘thấy được sự nguy hại ở trong các dục’ có nghĩa là: sau khi đã thấy, đã nhận thấy, đã cân nhắc, đã xem xét, đã làm cho phát triển, đã làm cho rõ ràng sự nguy hại ở trong các dục – (nên) thấy được sự nguy hại ở trong các dục, hãy sống một mình như sừng tê ngưu. Do đó, vị Độc Giác Phật ấy đã nói rằng:
‘‘Kāmā hi citrā madhurā manoramā, virūparūpena mathenti cittaṃ;
Ādīnavaṃ kāmaguṇesu disvā, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“Sensual pleasures are varied, sweet, and delightful; in diverse forms they stir the mind. Having seen the drawback in sensual pleasures, one should wander alone like a rhinoceros horn.”
‘Các dục quả thật đa dạng, ngọt ngào, và làm vui thích tâm ý, chúng khuấy động tâm trí bằng những hình thức khác nhau. Thấy được sự nguy hại trong các dục, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.’
137.
137.
137.
Ītī ca gaṇḍo ca upaddavo ca, rogo ca sallañca bhayañca metaṃ;
Etaṃ bhayaṃ kāmaguṇesu disvā, eko care khaggavisāṇakappo.
Calamity, boil, affliction, disease, dart, and this fear—having seen this fear in sensual pleasures, one should wander alone like a rhinoceros horn.
Tai ương, mụn nhọt, và tai họa, bệnh tật, mũi tên, và sự đáng sợ này; thấy được sự đáng sợ này trong các dục, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.
Ītī ca gaṇḍo ca upaddavo ca, rogo ca sallañca bhayañca metanti vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘bhayanti, bhikkhave, kāmānametaṃ adhivacanaṃ. Dukkhanti, bhikkhave, kāmānametaṃ adhivacanaṃ. Rogoti, bhikkhave, kāmānametaṃ adhivacanaṃ. Gaṇḍoti, bhikkhave, kāmānametaṃ adhivacanaṃ. Sallanti, bhikkhave, kāmānametaṃ adhivacanaṃ. Saṅgoti, bhikkhave, kāmānametaṃ adhivacanaṃ. Paṅkoti, bhikkhave, kāmānametaṃ adhivacanaṃ. Gabbhoti, bhikkhave, kāmānametaṃ adhivacanaṃ. Kasmā ca, bhikkhave, bhayanti kāmānametaṃ adhivacanaṃ? Yasmā ca kāmarāgarattāyaṃ, bhikkhave, chandarāgavinibaddho † diṭṭhadhammikāpi bhayā na parimuccati, samparāyikāpi bhayā na parimuccati, tasmā bhayanti kāmānametaṃ adhivacanaṃ. Kasmā ca, bhikkhave, dukkhanti…pe… rogoti… gaṇḍoti… sallanti… saṅgoti… paṅkoti… gabbhoti kāmānametaṃ adhivacanaṃ? Yasmā ca kāmarāgarattāyaṃ, bhikkhave, chandarāgavinibaddho diṭṭhadhammikāpi gabbhā na parimuccati, samparāyikāpi gabbhā na parimuccati, tasmā gabbhoti kāmānametaṃ adhivacana’’nti.
As to 'Calamity, boil, affliction, disease, dart, and this fear'—this was said by the Blessed One: “'Fear,' monks, is a designation for sensual pleasures. 'Suffering,' monks, is a designation for sensual pleasures. 'Disease,' monks, is a designation for sensual pleasures. 'Boil,' monks, is a designation for sensual pleasures. 'Dart,' monks, is a designation for sensual pleasures. 'Attachment,' monks, is a designation for sensual pleasures. 'Mire,' monks, is a designation for sensual pleasures. 'Harshness,' monks, is a designation for sensual pleasures. And why, monks, is 'fear' a designation for sensual pleasures? Because, monks, one who is impassioned with sensual lust, bound by desire and lust, is not freed from fears in this very life, nor from fears pertaining to the future. Therefore, 'fear' is a designation for sensual pleasures. And why, monks, is 'suffering'... 'disease'... 'boil'... 'dart'... 'attachment'... 'mire'... 'harshness' a designation for sensual pleasures? Because, monks, one who is impassioned with sensual lust, bound by desire and lust, is not freed from the harshness in this very life, nor from the harshness pertaining to the future. Therefore, 'harshness' is a designation for sensual pleasures.”
Về câu ‘Tai ương, mụn nhọt, và tai họa, bệnh tật, mũi tên, và sự đáng sợ này,’ điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các Tỳ khưu, ‘sự đáng sợ’ là tên gọi đồng nghĩa của các dục. Này các Tỳ khưu, ‘khổ đau’ là tên gọi đồng nghĩa của các dục. Này các Tỳ khưu, ‘bệnh tật’ là tên gọi đồng nghĩa của các dục. Này các Tỳ khưu, ‘mụn nhọt’ là tên gọi đồng nghĩa của các dục. Này các Tỳ khưu, ‘mũi tên’ là tên gọi đồng nghĩa của các dục. Này các Tỳ khưu, ‘sự dính mắc’ là tên gọi đồng nghĩa của các dục. Này các Tỳ khưu, ‘bùn lầy’ là tên gọi đồng nghĩa của các dục. Này các Tỳ khưu, ‘thai tạng’ là tên gọi đồng nghĩa của các dục. Và này các Tỳ khưu, vì sao ‘sự đáng sợ’ là tên gọi đồng nghĩa của các dục? Này các Tỳ khưu, bởi vì người tham đắm dục vọng, bị trói buộc bởi tham ái và dục vọng, không thoát khỏi những điều đáng sợ trong hiện tại, cũng không thoát khỏi những điều đáng sợ trong tương lai, do đó ‘sự đáng sợ’ là tên gọi đồng nghĩa của các dục. Và này các Tỳ khưu, vì sao ‘khổ đau’… này các Tỳ khưu… ‘bệnh tật’… ‘mụn nhọt’… ‘mũi tên’… ‘sự dính mắc’… ‘bùn lầy’… ‘thai tạng’ là tên gọi đồng nghĩa của các dục? Này các Tỳ khưu, bởi vì người tham đắm dục vọng, bị trói buộc bởi tham ái và dục vọng, không thoát khỏi những sự thô bạo trong hiện tại, cũng không thoát khỏi những sự thô bạo trong tương lai, do đó ‘thai tạng’ là tên gọi đồng nghĩa của các dục.’
Bhayaṃ dukkhañca rogo ca, gaṇḍo sallañca saṅgo ca;
Paṅko gabbho ca ubhayaṃ, ete kāmā pavuccanti;
Yattha satto puthujjano.
Fear and suffering and disease, a boil and a dart and attachment; mire and the womb, both—these are called sensual pleasures, wherein the ordinary person is entangled.
Sự đáng sợ, khổ đau, và bệnh tật, mụn nhọt, mũi tên, và sự dính mắc; bùn lầy và thai tạng, cả hai, những thứ này được gọi là các dục, nơi mà kẻ phàm phu bị dính mắc.
Otiṇṇo sātarūpena, puna gabbhāya gacchati;
Yato ca bhikkhu ātāpī, sampajaññaṃ na riccati †.
Overcome by craving of a pleasant nature, he goes again to the womb. And when a monk is ardent and clearly comprehending, he is not attached to sensual pleasures.
Bị chìm đắm bởi hình thức dễ chịu, người ấy lại đi vào thai tạng; khi nào vị Tỳ khưu tinh cần, không từ bỏ tỉnh giác.
So imaṃ palipathaṃ duggaṃ, atikkamma tathāvidho;
Pajaṃ jātijarūpetaṃ, phandamānaṃ avekkhatīti.
Such a monk, having overcome this suffering of obstacles called sensual pleasure, beholds beings endowed with birth and old age, trembling.
Vị ấy, người như vậy, sau khi vượt qua con đường chướng ngại khó đi này, nhìn thấy chúng sanh bị sanh và già chi phối, đang run rẩy.
Ītī ca gaṇḍo ca upaddavo ca, rogo ca sallañca bhayañca metaṃ.
Calamity and a boil and an affliction, disease and a dart and fear—this is for me.
Tai ương, mụn nhọt, và tai họa, bệnh tật, mũi tên, và sự đáng sợ này.
Etaṃ bhayaṃ kāmaguṇesu disvāti etaṃ bhayaṃ kāmaguṇesu disvā passitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvāti – etaṃ bhayaṃ kāmaguṇesu disvā, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
Having seen this fear in sensual pleasures: having seen, perceived with eye-consciousness, weighed, investigated, developed, and made manifest this fear in sensual pleasures—one should wander alone like a rhinoceros horn. Therefore, that Paccekasambuddha said:
Về câu ‘thấy được sự đáng sợ này trong các dục’ có nghĩa là: sau khi đã thấy, đã nhận thấy, đã cân nhắc, đã xem xét, đã làm cho phát triển, đã làm cho rõ ràng sự đáng sợ này trong các dục – (nên) thấy được sự đáng sợ này trong các dục, hãy sống một mình như sừng tê ngưu. Do đó, vị Độc Giác Phật ấy đã nói rằng:
‘‘Ītī ca gaṇḍo ca upaddavo ca, rogo ca sallañca bhayañca metaṃ;
Etaṃ bhayaṃ kāmaguṇesu disvā, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“Calamity and a boil and an affliction, disease and a dart and this fear for me; having seen this fear in sensual pleasures, one should wander alone like a rhinoceros horn.”
‘Tai ương, mụn nhọt, và tai họa, bệnh tật, mũi tên, và sự đáng sợ này; thấy được sự đáng sợ này trong các dục, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.’
138.
138.
138.
Sītañca uṇhañca khudaṃ pipāsaṃ, vātātape ḍaṃsasarīsape † ca;
Sabbānipetāni abhisambhavitvā, eko care khaggavisāṇakappo.
Cold and heat, hunger and thirst, wind and sun, gadflies and creeping things; having overcome all these, one should wander alone like a rhinoceros horn.
Cái lạnh, cái nóng, đói, khát, gió, nắng, ruồi, muỗi, và các loài bò sát; sau khi đã chinh phục tất cả những điều này, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.
Sītañca uṇhañca khudaṃ pipāsanti. Sītanti dvīhi kāraṇehi sītaṃ hoti – abbhantaradhātuppakopavasena vā sītaṃ hoti bahiddhā utuvasena vā sītaṃ hoti. Uṇhanti dvīhi kāraṇehi uṇhaṃ hoti – abbhantaradhātuppakopavasena vā uṇhaṃ hoti bahiddhā utuvasena vā uṇhaṃ hoti. Khudā † vuccati chātako. Pipāsā vuccati udakapipāsāti – sītañca uṇhañca khudaṃ pipāsaṃ.
Cold and heat, hunger and thirst. Cold: cold occurs for two reasons—either due to the disturbance of the internal elements or due to external seasonal conditions. Heat: heat occurs for two reasons—either due to the disturbance of the internal elements or due to external seasonal conditions. Hunger is called the state of being hungry. Thirst is called thirst for water—cold and heat, hunger and thirst.
Về câu ‘cái lạnh, cái nóng, đói, khát.’ Về ‘cái lạnh,’ cái lạnh phát sanh do hai nguyên nhân: cái lạnh phát sanh do sự rối loạn của các yếu tố bên trong, hoặc cái lạnh phát sanh do thời tiết bên ngoài. Về ‘cái nóng,’ cái nóng phát sanh do hai nguyên nhân: cái nóng phát sanh do sự rối loạn của các yếu tố bên trong, hoặc cái nóng phát sanh do thời tiết bên ngoài. ‘Đói’ được gọi là sự đói khát. ‘Khát’ được gọi là sự khát nước – (nên nói) cái lạnh, cái nóng, đói, khát.
Vātātape ḍaṃsasarīsape cāti. Vātāti puratthimā vātā pacchimā vātā uttarā vātā dakkhiṇā vātā sarajā vātā arajā vātā sītā vātā uṇhā vātā parittā vātā adhimattā vātā verambhavātā pakkhavātā supaṇṇavātā tālapaṇṇavātā † vidhūpanavātā. Ātapo vuccati sūriyasantāpo. Ḍaṃsā vuccanti piṅgalamakkhikā. Sarīsapā vuccanti ahīti – vātātape ḍaṃsasarīsape ca.
Wind and sun's heat, gadflies and creeping things. Wind: eastern winds, western winds, northern winds, southern winds, dusty winds, dustless winds, cold winds, hot winds, light winds, strong winds, Verambha winds, wing-winds, Supaṇṇa-winds, palm-leaf-winds, fanning winds. Sun's heat is called the sun's scorching. Gadflies are called yellowish flies. Creeping things are called snakes—wind and sun's heat, gadflies and creeping things.
Về câu ‘gió, nắng, ruồi, muỗi, và các loài bò sát.’ Về ‘gió,’ có gió từ phương đông, gió từ phương tây, gió từ phương bắc, gió từ phương nam, gió có bụi, gió không bụi, gió lạnh, gió nóng, gió nhẹ, gió mạnh, gió trên cao, gió từ cánh, gió từ chim supaṇṇa, gió từ lá cọ, gió từ quạt. ‘Nắng’ được gọi là sức nóng của mặt trời. ‘Ruồi trâu’ được gọi là ruồi vàng. ‘Các loài bò sát’ được gọi là rắn – (nên nói) gió, nắng, ruồi, muỗi, và các loài bò sát.
Sabbānipetāni abhisambhavitvāti abhibhavitvā ajjhottharitvā pariyādiyitvā madditvāti – sabbānipetāni abhisambhavitvā, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
Regarding 'Having overcome all these': it means having subdued, having overwhelmed, having brought to an end, and having crushed. Having overcome all these, one should wander alone like a rhinoceros horn. Therefore, that Paccekasambuddha said:
Về câu ‘sau khi đã chinh phục tất cả những điều này’ có nghĩa là: sau khi đã chế ngự, đã áp đảo, đã làm cho cạn kiệt, đã nghiền nát – (nên nói) sau khi đã chinh phục tất cả những điều này, hãy sống một mình như sừng tê ngưu. Do đó, vị Độc Giác Phật ấy đã nói rằng:
‘‘Sītañca uṇhañca khudaṃ pipāsaṃ, vātātape ḍaṃsasarīsape ca;
Sabbānipetāni abhisambhavitvā, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“Cold and heat, hunger and thirst, wind and sun, gadflies and creeping things; having overcome all these, one should wander alone like a rhinoceros horn.”
‘Cái lạnh, cái nóng, đói, khát, gió, nắng, ruồi, muỗi, và các loài bò sát; sau khi đã chinh phục tất cả những điều này, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.’
139.
139.
139.
Nāgova yūthāni vivajjayitvā, sañjātakhandho padumī uḷāro;
Yathābhirantaṃ vihare † araññe, eko care khaggavisāṇakappo.
Just as a great elephant—well-built, majestic, and mighty—having abandoned its herd, dwells in the forest as it pleases, so one should wander alone like a rhinoceros horn.
Như con voi chúa, thân hình phát triển, to lớn, và (màu sắc) như hoa sen, sau khi từ bỏ bầy đàn, sống trong rừng theo ý thích; (cũng vậy) hãy sống một mình như sừng tê ngưu.
Nāgova yūthāni vivajjayitvāti nāgo vuccati hatthināgo. Paccekasambuddhopi nāgo. Kiṃkāraṇā paccekasambuddho nāgo? Āguṃ na karotīti nāgo; na gacchatīti nāgo; na āgacchatīti nāgo. Kathaṃ so paccekasambuddho āguṃ na karotīti nāgo? Āgu vuccati pāpakā akusalā dhammā saṃkilesikā ponobhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṃ jātijarāmaraṇiyā.
Regarding 'Like a great elephant having abandoned its herd': a nāga is called a great elephant. A Paccekasambuddha is also a nāga. For what reason is a Paccekasambuddha a nāga? Because he does no evil (āguṃ na karoti), he is a nāga; because he does not go (na gacchati), he is a nāga; because he does not return (na āgacchati), he is a nāga. How is it that the Paccekasambuddha does no evil, and is therefore a nāga? 'Evil' (āgu) refers to wicked, unwholesome states that are defiling, lead to renewed existence, are fraught with peril, have painful results, and lead to future birth, aging, and death.
“Nāgova yūthāni vivajjayitvāti” (Như voi chúa tránh xa đàn): Voi chúa được gọi là nāga. Vị Phật Độc Giác cũng là nāga. Vì sao vị Phật Độc Giác là nāga? Không làm điều lỗi lầm (āgu), nên là nāga; không đi đến (thiên kiến), nên là nāga; không quay trở lại (phiền não), nên là nāga. Vị Phật Độc Giác ấy không làm điều lỗi lầm nên là nāga, như thế nào? Điều lỗi lầm (āgu) được gọi là các pháp ác, bất thiện, làm ô nhiễm, đưa đến tái sanh, gây đau khổ, có quả là khổ, là nhân của sanh, già, chết trong tương lai.
Āguṃ na karoti kiñci loke, sabbasaṃyoge visajja bandhanāni;
Sabbattha na sajjati vimutto, nāgo tādi pavuccate tathattā.
“He does no evil whatsoever in the world, having relinquished all yokes and bonds; nowhere is he attached, being liberated. Such a one is called a nāga because of that true state.”
Không làm bất cứ điều lỗi lầm nào trong đời, từ bỏ mọi sự trói buộc, ràng buộc; đã giải thoát, không dính mắc vào bất cứ đâu, bậc như vậy, do bản chất chân thật ấy, được gọi là nāga.
Evaṃ so paccekasambuddho āguṃ na karotīti nāgo.
In this way, that Paccekasambuddha does no evil; therefore, he is a nāga.
Như vậy, vị Phật Độc Giác ấy không làm điều lỗi lầm, nên là nāga.
Kathaṃ so paccekasambuddho na gacchatīti nāgo? So paccekasambuddho na chandāgatiṃ gacchati, na dosāgatiṃ gacchati, na mohāgatiṃ gacchati, na bhayāgatiṃ gacchati, na rāgavasena gacchati, na dosavasena gacchati, na mohavasena gacchati, na mānavasena gacchati, na diṭṭhivasena gacchati, na uddhaccavasena gacchati, na vicikicchāvasena gacchati, na anusayavasena gacchati, na vaggehi kappehi yāyati nīyati † vuyhati saṃharīyati. Evaṃ so paccekasambuddho na gacchatīti nāgo.
How is it that the Paccekasambuddha does not go, and is therefore a nāga? That Paccekasambuddha does not follow a wrong course through desire, does not follow a wrong course through hatred, does not follow a wrong course through delusion, does not follow a wrong course through fear. He does not go by the power of lust, does not go by the power of hatred, does not go by the power of delusion, does not go by the power of conceit, does not go by the power of views, does not go by the power of restlessness, does not go by the power of doubt, does not go by the power of underlying tendencies. He is not impelled, led, carried away, or swept along by factions or speculations. In this way, that Paccekasambuddha does not go; therefore, he is a nāga.
Vị Phật Độc Giác ấy không đi đến (thiên kiến) nên là nāga, như thế nào? Vị Phật Độc Giác ấy không đi đến thiên kiến do tham muốn, không đi đến thiên kiến do sân hận, không đi đến thiên kiến do si mê, không đi đến thiên kiến do sợ hãi; vị ấy không đi theo thế lực của tham ái, không đi theo thế lực của sân hận, không đi theo thế lực của si mê, không đi theo thế lực của ngã mạn, không đi theo thế lực của tà kiến, không đi theo thế lực của trạo cử, không đi theo thế lực của hoài nghi, không đi theo thế lực của tùy miên; vị ấy không bị lôi kéo, không bị dẫn dắt, không bị cuốn trôi, không bị nắm giữ bởi các pháp có bè phái, có ý đồ. Như vậy, vị Phật Độc Giác ấy không đi đến (thiên kiến), nên là nāga.
Kathaṃ so paccekasambuddho na āgacchatīti nāgo? Sotāpattimaggena ye kilesā pahīnā te kilese na puneti na pacceti na paccāgacchati, sakadāgāmimaggena…pe… anāgāmimaggena…pe… arahattamaggena ye kilesā pahīnā te kilese na puneti na pacceti na paccāgacchati. Evaṃ so paccekasambuddho na āgacchatīti nāgo.
How is that Paccekasambuddha a nāga because he does not come back (na āgacchati)? To those defilements that have been abandoned by the path of stream-entry, he does not return, he does not approach, he does not come back. To those defilements that have been abandoned by the path of once-returning... by the path of non-returning... by the path of Arahantship, he does not return, he does not approach, he does not come back. Thus, that Paccekasambuddha is a nāga because he does not come back.
Vị Phật Độc Giác ấy không quay trở lại (phiền não) nên là nāga, như thế nào? Những phiền não nào đã được đoạn trừ bằng Tu-đà-hoàn đạo, vị ấy không đi đến lại, không quay lại, không trở lại với những phiền não ấy; ...bằng Tư-đà-hàm đạo...; ...bằng A-na-hàm đạo...; những phiền não nào đã được đoạn trừ bằng A-la-hán đạo, vị ấy không đi đến lại, không quay lại, không trở lại với những phiền não ấy. Như vậy, vị Phật Độc Giác ấy không quay trở lại (phiền não), nên là nāga.
Nāgova yūthāni vivajjayitvāti yathā so hatthināgo yūthāni vivajjetvā parivajjetvā abhinivajjetvā ekova araññavanamajjhogāhetvā † carati viharati iriyati vatteti pāleti yapeti yāpeti, paccekasambuddhopi gaṇaṃ vivajjetvā parivajjetvā abhivajjetvā eko † araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevati appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppāni. So eko gacchati eko tiṭṭhati eko nisīdati eko seyyaṃ kappeti eko gāmaṃ piṇḍāya pavisati eko paṭikkamati eko raho nisīdati eko caṅkamaṃ adhiṭṭhāti eko carati viharati iriyati vatteti pāleti yapeti yāpetīti – nāgova yūthāni vivajjayitvā.
As for 'like a nāga, having avoided the herds': Just as that bull elephant, having avoided, shunned, and utterly avoided herds, enters the forest wilderness alone—moving about, dwelling, comporting himself, behaving, maintaining, and sustaining himself—so too the Paccekasambuddha, having avoided, shunned, and utterly avoided groups, resorts to remote lodgings in the forest wilderness that are quiet, with little noise, free from the drafts of people, suitable for privacy, and fit for seclusion. He goes alone, stands alone, sits alone, lies down alone, enters the village for alms-food alone, returns alone, sits in solitude alone, and undertakes walking meditation alone; he moves about, dwells, comports himself, behaves, maintains, and sustains himself alone. This is the meaning of 'like a nāga, having avoided the herds'.
Về câu “Như voi chúa tránh xa đàn”: Giống như con voi chúa ấy, sau khi tránh xa, hoàn toàn tránh xa, vĩnh viễn tránh xa đàn, một mình đi sâu vào rừng rậm, đi lại, trú ngụ, sinh hoạt, hành xử, bảo tồn, duy trì, sống; vị Phật Độc Giác cũng vậy, sau khi tránh xa, hoàn toàn tránh xa, vĩnh viễn tránh xa hội chúng, một mình thường lui tới các trú xứ nơi rừng rậm, xa xôi, hẻo lánh, ít tiếng động, ít tiếng ồn ào, vắng bóng người, thích hợp cho việc ẩn dật, thích hợp cho việc độc cư thiền định. Vị ấy một mình đi, một mình đứng, một mình ngồi, một mình nằm, một mình vào làng khất thực, một mình trở về, một mình ngồi nơi thanh vắng, một mình kinh hành; một mình đi lại, trú ngụ, sinh hoạt, hành xử, bảo tồn, duy trì, sống – (đó là ý nghĩa của) “như voi chúa tránh xa đàn”.
Sañjātakhandho padumī uḷāroti yathā so hatthināgo sañjātakkhandho sattaratano vā hoti aṭṭharatano vā, paccekasambuddhopi sañjātakkhandho asekkhena sīlakkhandhena asekkhena samādhikkhandhena asekkhena paññākkhandhena asekkhena vimuttikkhandhena asekkhena vimuttiñāṇadassanakkhandhena. Yathā so hatthināgo padumī, paccekasambuddhopi sattahi bojjhaṅgapupphehi padumī, satisambojjhaṅgapupphena dhammavicayasambojjhaṅgapupphena vīriyasambojjhaṅgapupphena pītisambojjhaṅgapupphena, pītisambojjhaṅgapupphena passaddhisambojjhaṅgapupphena samādhisambojjhaṅgapupphena upekkhāsambojjhaṅgapupphena. Yathā so hatthināgo uḷāro thāmena balena javena sūrena, paccekasambuddhopi uḷāro sīlena samādhinā paññāya vimuttiyā vimuttiñāṇadassanenāti – sañjātakhandho padumī uḷāro.
With a well-developed body, adorned with lotuses, and magnificent: Just as that noble elephant has a well-developed body, being seven or eight cubits tall, so too the Paccekasambuddha has a well-developed body—through the consummate aggregate of virtue, the consummate aggregate of concentration, the consummate aggregate of wisdom, the consummate aggregate of liberation, and the consummate aggregate of the knowledge and vision of liberation. Just as that noble elephant is adorned with lotuses (padumī), so too the Paccekasambuddha is adorned with lotuses (padumī) with the seven enlightenment-factor flowers: the enlightenment-factor flower of mindfulness, the enlightenment-factor flower of investigation of phenomena, the enlightenment-factor flower of energy, the enlightenment-factor flower of joy, the enlightenment-factor flower of tranquility, the enlightenment-factor flower of concentration, and the enlightenment-factor flower of equanimity. Just as that noble elephant is magnificent through strength, power, speed, and courage, so too the Paccekasambuddha is magnificent through virtue, concentration, wisdom, liberation, and the knowledge and vision of liberation—thus, he has a well-developed body, is adorned with lotuses (padumī), and is magnificent.
Về câu “Thân mình phát triển, như hoa sen, cao quý”: Giống như con voi chúa ấy có thân mình phát triển tốt, cao bảy hoặc tám ratana; vị Phật Độc Giác cũng có thân mình phát triển tốt với giới uẩn vô học, định uẩn vô học, tuệ uẩn vô học, giải thoát uẩn vô học, và giải thoát tri kiến uẩn vô học. Giống như con voi chúa ấy có thân như hoa sen; vị Phật Độc Giác cũng có thân như hoa sen với bảy đóa hoa giác chi: hoa niệm giác chi, hoa trạch pháp giác chi, hoa tinh tấn giác chi, hoa hỷ giác chi, hoa khinh an giác chi, hoa định giác chi, và hoa xả giác chi. Giống như con voi chúa ấy cao quý về sức mạnh, năng lực, tốc độ, sự dũng mãnh; vị Phật Độc Giác cũng cao quý về giới, định, tuệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến – (đó là ý nghĩa của) “thân mình phát triển, như hoa sen, cao quý”.
Yathābhirantaṃ vihare araññeti yathā so hatthināgo yathābhirantaṃ araññe viharati, paccekasambuddhopi yathābhirantaṃ araññe viharati. Paṭhamenapi jhānena yathābhirantaṃ araññe viharati, dutiyenapi jhānena…pe… tatiyenapi jhānena… catutthenapi jhānena yathābhirantaṃ araññe viharati; mettāyapi cetovimuttiyā yathābhirantaṃ araññe viharati, karuṇāyapi cetovimuttiyā… muditāyapi cetovimuttiyā… upekkhāyapi cetovimuttiyā yathābhirantaṃ araññe viharati; ākāsānañcāyatanasamāpattiyāpi yathābhirantaṃ araññe viharati, viññāṇañcāyatanasamāpattiyāpi… ākiñcaññāyatanasamāpattiyāpi… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyāpi… nirodhasamāpattiyāpi… phalasamāpattiyāpi yathābhirantaṃ araññe viharatīti – yathābhirantaṃ vihare araññe, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
'He should dwell in the forest as he likes': Just as that great elephant dwells in the forest as he likes, so too the Paccekasambuddha dwells in the forest as he likes. He dwells as he likes in the forest by means of the first jhāna, by means of the second jhāna… by means of the third jhāna… by means of the fourth jhāna. He dwells as he likes in the forest by means of the liberation of mind through loving-kindness, by means of the liberation of mind through compassion… by means of the liberation of mind through sympathetic joy… by means of the liberation of mind through equanimity. He dwells as he likes in the forest by means of the attainment of the base of infinite space, by means of the attainment of the base of infinite consciousness… by means of the attainment of the base of nothingness… by means of the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception… by means of the attainment of cessation… and by means of the attainment of fruition. Thus: ‘He should dwell in the forest as he likes; one should wander alone like a rhinoceros horn.’ Therefore, that Paccekasambuddha said:
Về câu “Sống trong rừng tùy theo sở thích”: Giống như con voi chúa ấy sống trong rừng tùy theo sở thích, vị Phật Độc Giác cũng sống trong rừng tùy theo sở thích. Vị ấy sống trong rừng tùy theo sở thích với sơ thiền, ...với nhị thiền..., ...với tam thiền..., ...với tứ thiền; vị ấy sống trong rừng tùy theo sở thích với tâm giải thoát từ, ...với tâm giải thoát bi..., ...với tâm giải thoát hỷ..., ...với tâm giải thoát xả; vị ấy sống trong rừng tùy theo sở thích với Không vô biên xứ định, ...với Thức vô biên xứ định..., ...với Vô sở hữu xứ định..., ...với Phi tưởng phi phi tưởng xứ định..., ...với Diệt tận định..., ...với Quả định – (đó là ý nghĩa của) “sống trong rừng tùy theo sở thích”, “hãy sống một mình như sừng tê giác”. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng –
‘‘Nāgova yūthāni vivajjayitvā, sañjātakhandho padumī uḷāro;
Yathābhirantaṃ vihare araññe, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
'Like a noble elephant abandoning the herd, with developed shoulders, majestic, magnificent—as he likes, let him dwell in the wilderness, alone like a rhinoceros horn.'
“Như voi chúa tránh xa bầy đàn, thân mình phát triển, như hoa sen, cao quý; sống trong rừng tùy theo sở thích, hãy sống một mình như sừng tê giác.”
140.
140.
140.
Aṭṭhānataṃ saṅgaṇikāratassa, yaṃ phassaye † sāmayikaṃ † vimuttiṃ;
Ādiccabandhussa vaco nisamma, eko care khaggavisāṇakappo.
For one delighting in association, it is impossible to realize temporary liberation. Heeding the words of the Kinsman of the Sun, one should wander alone like a rhinoceros horn.
Đối với người ưa thích hội chúng, việc chứng đắc sự giải thoát tạm thời là điều không thể có; sau khi lắng nghe lời dạy của bậc Thân Quyến Mặt Trời, hãy sống một mình như sừng tê giác.
Aṭṭhānataṃ saṅgaṇikāratassa, yaṃ phassaye sāmayikaṃ vimuttinti vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘yāvatānanda †, bhikkhu saṅgaṇikārāmo saṅgaṇikarato saṅgaṇikārāmataṃ anuyutto, gaṇārāmo gaṇarato gaṇasammudito (gaṇārāmataṃ anuyutto) †, yaṃ taṃ nekkhammasukhaṃ pavivekasukhaṃ upasamasukhaṃ sambodhisukhaṃ, tassa sukhassa nikāmalābhī bhavissati akicchalābhī akasiralābhīti – netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Yo ca kho so, ānanda, bhikkhu eko gaṇasmā vūpakaṭṭho viharati, tassetaṃ bhikkhuno pāṭikaṅkhaṃ. Yaṃ taṃ nekkhammasukhaṃ pavivekasukhaṃ upasamasukhaṃ sambodhisukhaṃ, tassa sukhassa nikāmalābhī bhavissati akicchalābhī akasiralābhīti – ṭhānametaṃ vijjati. Yāvatānanda, bhikkhu saṅgaṇikārāmo saṅgaṇikarato saṅgaṇikārāmataṃ anuyutto, gaṇārāmo gaṇarato gaṇasammudito (gaṇārāmataṃ anuyutto,) sāmāyikaṃ † vā kantaṃ cetovimuttiṃ upasampajja viharissati, asāmāyikaṃ vā akuppanti – netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Yo ca kho so, ānanda, bhikkhu eko gaṇasmā vūpakaṭṭho viharati, tassetaṃ bhikkhuno pāṭikaṅkhaṃ sāmāyikaṃ vā kantaṃ cetovimuttiṃ upasampajja viharissati, asāmāyikaṃ vā akuppanti, ṭhānametaṃ vijjatī’’ti – aṭṭhānataṃ saṅgaṇikāratassa, yaṃ phassaye sāmayikaṃ vimuttiṃ.
It is impossible for one who delights in company to experience temporary liberation. Truly, this was spoken by the Blessed One: “Ānanda, for as long as a monk delights in company, finds pleasure in company, is devoted to delighting in company—delighting in groups, finding pleasure in groups, rejoicing in groups—it is impossible for him to obtain at will, without difficulty, without effort, the bliss of renunciation, the bliss of seclusion, the bliss of peace, the bliss of awakening. But, Ānanda, when a monk dwells alone, withdrawn from a group, this is to be expected of him: that he will obtain at will, without difficulty, without effort, the bliss of renunciation, the bliss of seclusion, the bliss of peace, the bliss of awakening—this is possible. Ānanda, for as long as a monk delights in company, finds pleasure in company, is devoted to delighting in company—delighting in groups, finding pleasure in groups, rejoicing in groups—it is impossible for him to attain and abide in either a temporary, agreeable liberation of mind or an unshakeable one. But, Ānanda, when a monk dwells alone, withdrawn from a group, this is to be expected of him: that he will attain and abide in either a temporary, agreeable liberation of mind or an unshakeable one—this is possible.” Thus, it is impossible for one who delights in company to experience temporary liberation.
Đối với người ưa thích hội chúng, việc chứng đắc tâm giải thoát hữu thời là điều không thể có. Điều này đã được đức Thế Tôn nói: ‘Này Ānanda, trong khi vị tỳ khưu còn ưa thích hội chúng, vui thích hội chúng, chuyên tâm vào việc ưa thích hội chúng; ưa thích đoàn thể, vui thích đoàn thể, hoan hỷ trong đoàn thể, thì lạc xuất ly, lạc độc cư, lạc tịch tịnh, lạc giác ngộ, vị ấy sẽ có được lạc ấy theo ý muốn, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc – trường hợp ấy không xảy ra. Còn này Ānanda, vị tỳ khưu nào sống một mình, xa lìa đoàn thể, đối với vị tỳ khưu ấy, điều này có thể được mong đợi: Lạc xuất ly, lạc độc cư, lạc tịch tịnh, lạc giác ngộ, vị ấy sẽ có được lạc ấy theo ý muốn, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc – trường hợp ấy có thể xảy ra. Này Ānanda, trong khi vị tỳ khưu còn ưa thích hội chúng, vui thích hội chúng, chuyên tâm vào việc ưa thích hội chúng; ưa thích đoàn thể, vui thích đoàn thể, hoan hỷ trong đoàn thể, vị ấy sẽ chứng đạt và an trú trong tâm giải thoát hữu thời khả ái, hoặc tâm giải thoát vô thời bất động – trường hợp ấy không xảy ra. Còn này Ānanda, vị tỳ khưu nào sống một mình, xa lìa đoàn thể, đối với vị tỳ khưu ấy, điều này có thể được mong đợi: vị ấy sẽ chứng đạt và an trú trong tâm giải thoát hữu thời khả ái, hoặc tâm giải thoát vô thời bất động, trường hợp ấy có thể xảy ra.’ – Đối với người ưa thích hội chúng, việc chứng đắc tâm giải thoát hữu thời là điều không thể có.
Ādiccabandhussa vaco nisammāti ādicco vuccati sūriyo. So gotamo gottena. Paccekasambuddhopi gotamo gottena. So paccekasambuddho sūriyassa gottañātako gottabandhu, tasmā paccekasambuddho ādiccabandhu. Ādiccabandhussa vaco nisammāti ādiccabandhussa vacanaṃ byappathaṃ desanaṃ anusāsanaṃ anusiṭṭhaṃ sutvā suṇitvā uggahetvā upadhārayitvā upalakkhayitvāti – ādiccabandhussa vaco nisamma, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
Having heeded the words of the Kinsman of the Sun: Ādicca is called the sun. He is Gotama by clan. The Paccekasambuddha is also Gotama by clan. That Paccekasambuddha is a clan-relative, a clan-kinsman of the sun; therefore, the Paccekasambuddha is called the Kinsman of the Sun. 'Having heeded the words of the Kinsman of the Sun' means having heard, listened to, learned, borne in mind, and noted the word, utterance, teaching, instruction, and counsel of the Kinsman of the Sun—thus, having heeded the words of the Kinsman of the Sun, one should wander alone like a rhinoceros horn. Therefore, that Paccekasambuddha said:
Về câu ‘Lắng nghe lời của bậc Thân Thuộc Mặt Trời’: Mặt trời được gọi là Ādicca. Vị ấy thuộc dòng họ Gotama. Vị Phật Độc Giác cũng thuộc dòng họ Gotama. Vị Phật Độc Giác ấy là người bà con, là thân thuộc cùng dòng họ với mặt trời, do đó vị Phật Độc Giác là Ādiccabandhu (Thân Thuộc Mặt Trời). Về câu ‘Lắng nghe lời của bậc Thân Thuộc Mặt Trời’ có nghĩa là: sau khi đã nghe, lắng tai nghe, học thuộc, ghi nhớ, nhận thức lời nói, lời trình bày, lời thuyết giảng, lời giáo huấn, lời chỉ dạy của bậc Thân Thuộc Mặt Trời – Lắng nghe lời của bậc Thân Thuộc Mặt Trời, hãy sống một mình như sừng tê giác. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói:
‘‘Aṭṭhānataṃ saṅgaṇikāratassa, yaṃ phassaye sāmayikaṃ vimuttiṃ;
Ādiccabandhussa vaco nisamma, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
It is impossible for one who delights in company to attain temporary liberation; having heard this word of the Kinsman of the Sun, one should wander alone like a rhinoceros horn.
‘Đối với người ưa thích hội chúng, việc chứng đắc tâm giải thoát hữu thời là điều không thể có; Lắng nghe lời của bậc Thân Thuộc Mặt Trời, hãy sống một mình như sừng tê giác.’
Dutiyo vaggo.
End of the Second Chapter.
Phẩm thứ hai.
Tatiyavaggo
The Third Chapter.
Phẩm Thứ Ba
141.
141.
141.
Diṭṭhīvisūkāni upātivatto, patto niyāmaṃ paṭiladdhamaggo;
Uppannañāṇomhi anaññaneyyo, eko care khaggavisāṇakappo.
Having overcome the perversions of views, having reached the fixed course and obtained the path; knowledge has arisen in me, and I am not to be led by another. One should wander alone like a rhinoceros horn.
Vượt qua các tà kiến, đạt đến sự quyết định, đã đắc được đạo; Trí tuệ đã sanh khởi nơi ta, không cần ai khác chỉ dạy, hãy sống một mình như sừng tê giác.
Diṭṭhivisūkāni upātivattoti diṭṭhivisūkāni vuccanti vīsativatthukā sakkāyadiṭṭhī. Idha assutavā puthujjano ariyānaṃ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto sappurisānaṃ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto rūpaṃ attato samanupassati rūpavantaṃ vā attānaṃ attani vā rūpaṃ rūpasmiṃ vā attānaṃ, vedanaṃ…pe… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ attato samanupassati viññāṇavantaṃ vā attānaṃ attani vā viññāṇaṃ viññāṇasmiṃ vā attānaṃ. Yā evarūpā diṭṭhi diṭṭhigataṃ diṭṭhigahanaṃ diṭṭhikantāro diṭṭhivisūkāyikaṃ diṭṭhivipphanditaṃ diṭṭhisaṃyojanaṃ gāho paṭiggāho abhiniveso parāmāso kummaggo micchāpatho micchattaṃ titthāyatanaṃ vipariyesaggāho viparītaggāho vipallāsaggāho micchāgāho, ayāthāvakasmiṃ yāthāvakanti gāho, yāvatā dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni – imāni diṭṭhivisūkāni. Diṭṭhivisūkāni upātivattoti diṭṭhivisūkāni upātivatto atikkanto samatikkanto vītivattoti – diṭṭhīvisūkāni upātivatto.
Regarding 'Having overcome the spikes of views': 'spikes of views' refers to the twenty-based identity view. Here, an uninstructed worldling, who does not see the noble ones, is not skilled in the noble Dhamma, and is not disciplined in the noble Dhamma; who does not see true persons, is not skilled in the Dhamma of true persons, and is not disciplined in the Dhamma of true persons, regards form as self, or the self as possessing form, or form as in the self, or the self as in form. He regards feeling… perception… volitional formations… consciousness as self, or the self as possessing consciousness, or consciousness as in the self, or the self as in consciousness. Whatever view of such a kind—a viewpoint, a thicket of views, a wilderness of views, a spike-like view, a vacillation of views, a fetter of views, a grasping, an adherence, an insistence, a misapprehension, a wrong path, a wrong way, wrongness, a sectarian tenet, a perverse grasp, an inverted grasp, a distorted grasp, a wrong grasp, a grasp of what is not the case as being the case—insofar as there are the sixty-two kinds of views, these are the spikes of views. 'Having overcome the spikes of views' means: he has overcome, passed beyond, completely passed beyond, gone beyond the spikes of views. This is the meaning of 'having overcome the spikes of views'.
Về câu ‘Vượt qua các tà kiến’: Các tà kiến được gọi là thân kiến có hai mươi trường hợp. Ở đây, kẻ phàm phu ít nghe, không thấy các bậc Thánh, không thông thạo Thánh pháp, không được rèn luyện trong Thánh pháp; không thấy các bậc chân nhân, không thông thạo pháp của bậc chân nhân, không được rèn luyện trong pháp của bậc chân nhân, quán sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc; thọ… tưởng… các hành… thức, quán thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức. Bất cứ kiến nào như vậy, tà kiến, rừng rậm kiến, hoang địa kiến, gai nhọn kiến, sự dao động của kiến, kiết sử kiến, sự nắm giữ, sự chấp giữ, sự cố chấp, sự bám víu, con đường xấu, con đường sai lầm, sự sai lầm, bến đỗ của ngoại đạo, sự nắm giữ sai lạc, sự nắm giữ ngược lại, sự nắm giữ điên đảo, sự nắm giữ sai lầm, sự nắm giữ điều không có thật là có thật, cho đến sáu mươi hai loại tà kiến – những điều này là các tà kiến. ‘Vượt qua các tà kiến’ có nghĩa là đã vượt qua, đã đi qua, đã hoàn toàn đi qua, đã đặc biệt đi qua các tà kiến – đó là ý nghĩa của ‘Vượt qua các tà kiến’.
Patto niyāmaṃ paṭiladdhamaggoti niyāmā vuccanti cattāro maggā; ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ – sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi. Catūhi ariyamaggehi samannāgato niyāmaṃ patto sampatto adhigato phassito sacchikatoti – patto niyāmaṃ. Paṭiladdhamaggoti laddhamaggo paṭiladdhamaggo adhigatamaggo phassitamaggo sacchikatamaggoti – patto niyāmaṃ paṭiladdhamaggo.
Regarding 'Having reached the fixed course, having obtained the path': The 'fixed course' refers to the four noble paths. The 'path' refers to the noble eightfold path, that is: right view, right intention, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right concentration. Endowed with the four noble paths, one has reached the fixed course, arrived at it, attained it, touched it, and realized it; thus, 'having reached the fixed course.' 'Having obtained the path' means: the path has been gained, the path has been obtained, the path has been attained, the path has been touched, and the path has been realized. Thus, 'having reached the fixed course, having obtained the path.'
Về câu ‘Đạt đến sự quyết định, đã đắc được đạo’: Bốn đạo được gọi là sự quyết định; Thánh đạo Tám ngành, tức là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Người đã thành tựu bốn Thánh đạo, đã đạt đến, đã hoàn toàn đạt đến, đã chứng đắc, đã tiếp xúc, đã thực chứng sự quyết định – đó là ý nghĩa của ‘đạt đến sự quyết định’. ‘Đã đắc được đạo’ có nghĩa là đạo đã được đắc, đạo đã được tái đắc, đạo đã được chứng đắc, đạo đã được tiếp xúc, đạo đã được thực chứng – đó là ý nghĩa của ‘đạt đến sự quyết định, đã đắc được đạo’.
Uppannañāṇomhi anaññaneyyoti tassa paccekasambuddhassa ñāṇaṃ uppannaṃ samuppannaṃ nibbattaṃ abhinibbattaṃ pātubhūtaṃ. ‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti ñāṇaṃ uppannaṃ samuppannaṃ nibbattaṃ abhinibbattaṃ pātubhūtaṃ, ‘‘sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti…pe… ‘‘sabbe dhammā anattā’’ti… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti ñāṇaṃ uppannaṃ samuppannaṃ nibbattaṃ abhinibbattaṃ pātubhūtanti – uppannañāṇomhi. Anaññaneyyoti so paccekasambuddho na paraneyyo
“Knowledge has arisen in me; I am not to be led by another”: For that paccekabuddha, knowledge has arisen, well arisen, been generated, been fully generated, become manifest. The knowledge “All formations are impermanent” has arisen… become manifest. The knowledge “All formations are suffering”… The knowledge “All dhammas are not-self”… The knowledge “Whatever has the nature of arising, all that has the nature of ceasing” has arisen, well arisen, been generated, been fully generated, become manifest. Thus: “knowledge has arisen in me.” “Not to be led by another” means that paccekabuddha is not to be led by another.
Về câu ‘Trí tuệ đã sanh khởi nơi ta, không cần ai khác chỉ dạy’: Trí tuệ của vị Phật Độc Giác ấy đã sanh khởi, đã hoàn toàn sanh khởi, đã phát sanh, đã hoàn toàn phát sanh, đã hiển lộ. Trí tuệ rằng ‘Tất cả các hành là vô thường’ đã sanh khởi, đã hoàn toàn sanh khởi, đã phát sanh, đã hoàn toàn phát sanh, đã hiển lộ; ‘Tất cả các hành là khổ’… ‘Tất cả các pháp là vô ngã’… Trí tuệ rằng ‘Bất cứ pháp nào có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có diệt tận’ đã sanh khởi, đã hoàn toàn sanh khởi, đã phát sanh, đã hoàn toàn phát sanh, đã hiển lộ – đó là ý nghĩa của ‘Trí tuệ đã sanh khởi nơi ta’. ‘Không cần ai khác chỉ dạy’ có nghĩa là vị Phật Độc Giác ấy không thể được người khác dẫn dắt.
Na parappattiyo na parappaccayo na parapaṭibaddhagū, yathābhūtaṃ † jānāti passati asammūḷho sampajāno paṭissato. ‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti na paraneyyo na parappattiyo na parappaccayo na parapaṭibaddhagū, yathābhūtaṃ jānāti passati asammūḷho sampajāno paṭissato. ‘‘Sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti…pe… ‘‘sabbe dhammā anattā’’ti…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti na paraneyyo na parappattiyo na parappaccayo na parapaṭibaddhagū, yathābhūtaṃ jānāti passati asammūḷho sampajāno paṭissatoti – uppannañāṇomhi anaññaneyyo, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
He is not convinced by another, is not dependent on another, does not have his progress tied to another; he knows and sees as it really is, undeluded, with clear comprehension, and mindful. He is not to be led by another, not convinced by another, not dependent on another, does not have his progress tied to another; he knows and sees as it really is, undeluded, with clear comprehension, and mindful that “All formations are impermanent.” …that “All formations are suffering.” …that “All dhammas are not-self.” …that “Whatever has the nature of arising, all that has the nature of ceasing,” he is not to be led by another, not convinced by another, not dependent on another, does not have his progress tied to another; he knows and sees as it really is, undeluded, with clear comprehension, and mindful. Thus: “knowledge has arisen in me; I am not to be led by another, one should wander alone like a rhinoceros horn.” Therefore that paccekabuddha said:
Không phải là người đạt được do người khác, không phải là người có duyên từ người khác, không phải là người đi đến do sự ràng buộc với người khác, vị ấy biết, thấy như thật, không si mê, có tỉnh giác, có chánh niệm. Rằng: ‘Tất cả các pháp hữu vi là vô thường,’ vị ấy không cần được người khác dẫn dắt, không phải là người đạt được do người khác, không phải là người có duyên từ người khác, không phải là người đi đến do sự ràng buộc với người khác, vị ấy biết, thấy như thật, không si mê, có tỉnh giác, có chánh niệm. Rằng: ‘Tất cả các pháp hữu vi là khổ,’ ... tương tự ... Rằng: ‘Tất cả các pháp là vô ngã,’ ... tương tự ... Rằng: ‘Bất cứ pháp nào có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có diệt tận,’ vị ấy không cần được người khác dẫn dắt, không phải là người đạt được do người khác, không phải là người có duyên từ người khác, không phải là người đi đến do sự ràng buộc với người khác, vị ấy biết, thấy như thật, không si mê, có tỉnh giác, có chánh niệm – (nghĩa là) ‘Trí tuệ đã sanh khởi nơi ta, ta không cần được người khác dẫn dắt,’ hãy sống một mình như sừng tê giác. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói:
‘‘Diṭṭhīvisūkāni upātivatto, patto niyāmaṃ paṭiladdhamaggo;
Uppannañāṇomhi anaññaneyyo, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“Having overcome the distortions of views, having reached the fixed course and obtained the path; knowledge has arisen in me, one not to be led by another, one should wander alone like a rhinoceros horn.”
‘Đã vượt qua các tà kiến, đã đạt đến sự chắc chắn, đã chứng đắc đạo; Trí tuệ đã sanh khởi nơi ta, ta không cần được người khác dẫn dắt, hãy sống một mình như sừng tê giác.’
142.
142.
142.
Nillolupo nikkuho nippipāso, nimmakkho niddhantakasāvamoho;
Nirāsaso † sabbaloke bhavitvā, eko care khaggavisāṇakappo.
Without greed, without deceit, without thirst, without disparagement, having washed away stains and delusion; having become free from longing in the whole world, one should wander alone like a rhinoceros horn.
Không tham lam, không xảo trá, không khao khát, không gièm pha, đã gột sạch cấu uế và si mê; đã trở thành người không còn ái dục trong tất cả thế gian, hãy sống một mình như sừng tê giác.
Nillolupo nikkuho nippipāsoti loluppaṃ vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Sā loluppā taṇhā tassa paccekasambuddhassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā. Tasmā paccekasambuddho nillolupo.
“Without greed, without deceit, without thirst”: Craving is called greed. Whatever is lust, intense lust… up to… covetousness, greed, the unwholesome root. That greedy craving has been abandoned by that Paccekabuddha, cut off at the root, made like a palm-tree stump, brought to non-existence, and is of a nature not to arise in the future. Therefore, the Paccekabuddha is without greed.
Về câu ‘Không tham lam, không xảo trá, không khao khát,’ sự tham lam được gọi là ái. Bất cứ tham ái, nhiễm ái nào... (tương tự)... sự tham lam, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. Ái tham lam ấy của vị Phật Độc Giác ấy đã được đoạn trừ, đã được nhổ tận gốc, đã được làm như gốc cây thốt nốt, đã được làm cho không còn tồn tại, có tính chất không sanh khởi trong tương lai. Do đó, vị Phật Độc Giác là người không tham lam.
Nikkuhoti tīṇi kuhanavatthūni – paccayapaṭisevanasaṅkhātaṃ kuhanavatthu, iriyāpathasaṅkhātaṃ kuhanavatthu, sāmantajappanasaṅkhātaṃ kuhanavatthu.
“Without deceit”: There are three grounds for deceit: the ground for deceit concerning the use of requisites, the ground for deceit concerning deportment, and the ground for deceit concerning allusive talk.
Về ‘không xảo trá,’ có ba cơ sở của sự xảo trá – cơ sở của sự xảo trá được gọi là sự thọ dụng các vật dụng, cơ sở của sự xảo trá được gọi là oai nghi, cơ sở của sự xảo trá được gọi là sự nói gần.
Katamaṃ paccayapaṭisevanasaṅkhātaṃ kuhanavatthu? Idha gahapatikā bhikkhuṃ † nimantenti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārehi, so pāpiccho icchāpakato atthiko cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṃ bhiyyokamyataṃ upādāya cīvaraṃ paccakkhāti, piṇḍapātaṃ paccakkhāti, senāsanaṃ paccakkhāti, gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ paccakkhāti. So evamāha – ‘‘kiṃ samaṇassa mahagghena cīvarena! Etaṃ sāruppaṃ yaṃ samaṇo susānā vā saṅkārakūṭā vā pāpaṇikā vā nantakāni uccinitvā saṅghāṭikaṃ karitvā dhāreyya. Kiṃ samaṇassa mahagghena piṇḍapātena! Etaṃ sāruppaṃ yaṃ samaṇo uñchācariyāya piṇḍiyālopena jīvikaṃ kappeyya. Kiṃ samaṇassa mahagghena senāsanena! Etaṃ sāruppaṃ yaṃ samaṇo rukkhamūliko vā assa sosāniko vā abbhokāsiko vā. Kiṃ samaṇassa mahagghena gilānapaccayabhesajjaparikkhārena! Etaṃ sāruppaṃ yaṃ samaṇo pūtimuttena vā haritakīkhaṇḍena vā osadhaṃ kareyyā’’ti. Tadupādāya lūkhaṃ cīvaraṃ dhāreti lūkhaṃ piṇḍapātaṃ paribhuñjati lūkhaṃ senāsanaṃ paṭisevati lūkhaṃ gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ paṭisevati. Tamenaṃ gahapatikā evaṃ jānanti – ‘‘ayaṃ samaṇo appiccho santuṭṭho pavivitto asaṃsaṭṭho āraddhavīriyo dhutavādo’’ti. Bhiyyo bhiyyo nimantenti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārehi. So evamāha – ‘‘tiṇṇaṃ sammukhībhāvā saddho kulaputto bahuṃ puññaṃ pasavati, saddhāya sammukhībhāvā saddho kulaputto bahuṃ puññaṃ pasavati, deyyadhammassa sammukhībhāvā saddho kulaputto bahuṃ puññaṃ pasavati, dakkhiṇeyyānaṃ sammukhībhāvā saddho kulaputto bahuṃ puññaṃ pasavati. Tumhākañcevāyaṃ saddhā atthi, deyyadhammo ca saṃvijjati, ahañca paṭiggāhako. Sacehaṃ na paṭiggahessāmi, evaṃ tumhe puññena paribāhirā bhavissatha †. Na mayhaṃ iminā attho. Api ca, tumhākaṃyeva anukampāya paṭiggaṇhāmī’’ti. Tadupādāya bahumpi cīvaraṃ paṭiggaṇhāti, bahumpi piṇḍapātaṃ paṭiggaṇhāti, bahumpi senāsanaṃ paṭiggaṇhāti, bahumpi gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ paṭiggaṇhāti. Yā evarūpā bhākuṭikā bhākuṭiyaṃ kuhanā kuhāyanā kuhitattaṃ – idaṃ paccayapaṭisevanasaṅkhātaṃ kuhanavatthu.
What is the ground for deceit called the use of requisites? Here, householders invite a bhikkhu with robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick. Being of evil wishes, overcome by desire, and wanting an abundance of robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites, on account of his desire for more, he refuses the robe, he refuses the almsfood, he refuses the lodging, and he refuses the medicinal requisites. He says thus: ‘What use is a costly robe for a recluse? It is proper that a recluse, having gathered rags from a charnel ground, a rubbish heap, or a shop, and having made it into a patchwork robe, should wear it. What use is costly almsfood for a recluse? It is proper that a recluse should make his living by gleaning and with morsels of almsfood. What use is costly lodging for a recluse? It is proper that a recluse should be a tree-root dweller, a charnel-ground dweller, or an open-air dweller. What use are costly medicinal requisites for a recluse? It is proper that a recluse should make medicine with fermented urine or a piece of myrobalan.’ On that account, he wears a coarse robe, eats coarse almsfood, uses a coarse lodging, and uses coarse medicinal requisites. The householders know him thus: ‘This recluse has few wishes, is content, secluded, unsociable, energetic, and an exponent of ascetic practices.’ They invite him again and again with robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites. He says thus: ‘By the presence of three things a faithful clansman begets much merit: by the presence of faith, a faithful clansman begets much merit; by the presence of a gift, a faithful clansman begets much merit; by the presence of worthy recipients, a faithful clansman begets much merit. You have this faith, and the gift is available, and I am the recipient. If I do not accept, you will thus be excluded from merit. I have no need for this, but I accept out of compassion for you.’ On that account, he accepts many robes, he accepts much almsfood, he accepts much lodging, and he accepts many medicinal requisites. Whatever of such a nature is scowling, the state of being a scowler, deceit, the manner of a deceiver, the state of being a deceiver—this is the ground for deceit called the use of requisites.
Thế nào là cơ sở của sự xảo trá được gọi là sự thọ dụng các vật dụng? Ở đây, các gia chủ cúng dường vị tỳ khưu y phục, vật thực, chỗ ở, và thuốc men trị bệnh. Vị ấy có ác dục, bị ác dục chi phối, mong muốn y phục, vật thực, chỗ ở, và thuốc men trị bệnh, vì muốn được nhiều hơn nên từ chối y phục, từ chối vật thực, từ chối chỗ ở, từ chối thuốc men trị bệnh. Vị ấy nói như vầy: ‘Sa-môn cần gì y phục đắt tiền! Điều này mới thích hợp: khi vị sa-môn nhặt những miếng vải rách từ nghĩa địa, từ đống rác, hay từ cửa tiệm, rồi may thành y tăng-già-lê và mặc nó. Sa-môn cần gì vật thực đắt tiền! Điều này mới thích hợp: khi vị sa-môn sống bằng cách đi khất thực từng miếng. Sa-môn cần gì chỗ ở đắt tiền! Điều này mới thích hợp: khi vị sa-môn sống dưới gốc cây, hoặc ở nghĩa địa, hoặc ngoài trời. Sa-môn cần gì thuốc men trị bệnh đắt tiền! Điều này mới thích hợp: khi vị sa-môn làm thuốc bằng nước tiểu mục hoặc một miếng quả ha-lê-lặc.’ Do đó, vị ấy mặc y thô xấu, ăn vật thực thô xấu, sử dụng chỗ ở thô xấu, sử dụng thuốc men trị bệnh thô xấu. Các gia chủ biết về vị ấy như vầy: ‘Vị sa-môn này thiểu dục, biết đủ, sống viễn ly, không giao du, tinh tấn, thường nói về hạnh đầu-đà.’ Họ lại càng cúng dường nhiều hơn y phục, vật thực, chỗ ở, và thuốc men trị bệnh. Vị ấy nói như vầy: ‘Do sự hiện diện của ba điều, người con trai của gia đình có đức tin tạo ra nhiều phước báu. Do sự hiện diện của đức tin, người con trai của gia đình có đức tin tạo ra nhiều phước báu. Do sự hiện diện của vật thí, người con trai của gia đình có đức tin tạo ra nhiều phước báu. Do sự hiện diện của người thọ thí, người con trai của gia đình có đức tin tạo ra nhiều phước báu. Chính các vị có đức tin này, và vật thí cũng có sẵn, còn ta là người nhận. Nếu ta không nhận, thì các vị sẽ bị mất phước. Ta không cần thứ này, nhưng vì lòng thương tưởng các vị, ta nhận lấy.’ Do đó, vị ấy nhận nhiều y phục, nhận nhiều vật thực, nhận nhiều chỗ ở, nhận nhiều thuốc men trị bệnh. Bất cứ sự cau mày, sự xảo trá, cách thức xảo trá, bản chất xảo trá nào như vậy – đây là cơ sở của sự xảo trá được gọi là sự thọ dụng các vật dụng.
Katamaṃ iriyāpathasaṅkhātaṃ kuhanavatthu? Idhekacco pāpiccho icchāpakato sambhāvanādhippāyo ‘‘evaṃ maṃ jano sambhāvessatī’’ti gamanaṃ saṇṭhapeti ṭhānaṃ saṇṭhapeti nisajjaṃ † saṇṭhapeti sayanaṃ saṇṭhapeti, paṇidhāya gacchati paṇidhāya tiṭṭhati paṇidhāya nisīdati paṇidhāya seyyaṃ kappeti samāhito viya gacchati samāhito viya tiṭṭhati samāhito viya nisīdati samāhito viya seyyaṃ kappeti, āpāthakajjhāyīva † hoti. Yā evarūpā iriyāpathassa āṭhapanā ṭhapanā saṇṭhapanā bhākuṭikā bhākuṭiyaṃ kuhanā kuhāyanā kuhitattaṃ † – idaṃ iriyāpathasaṅkhātaṃ kuhanavatthu.
What is the ground for deceit called 'deportment'? Here, a certain person, having evil wishes, being overcome by evil wishes, and with the intention of being esteemed, thinks, ‘In this way people will esteem me.’ He composes his walking, composes his standing, composes his sitting, and composes his lying down. He walks with deliberation, stands with deliberation, sits with deliberation, and lies down with deliberation. He walks as if concentrated, stands as if concentrated, sits as if concentrated, and lies down as if concentrated. He is one who feigns absorption in meditation for those who approach. Whatever such arranging, placing, and composing of deportment—the scowling, the state of scowling, deceit, scheming, and the state of being a deceiver—this is the ground for deceit called 'deportment'.
Thế nào là cơ sở của sự xảo trá được gọi là oai nghi? Ở đây, có người có ác dục, bị ác dục chi phối, có ý muốn được tôn kính, (nghĩ rằng): ‘Như vậy, người ta sẽ tôn kính ta,’ nên sắp đặt việc đi, sắp đặt việc đứng, sắp đặt việc ngồi, sắp đặt việc nằm. Vị ấy đi với sự chú tâm, đứng với sự chú tâm, ngồi với sự chú tâm, nằm với sự chú tâm. Vị ấy đi như người có định, đứng như người có định, ngồi như người có định, nằm như người có định, và ra vẻ như đang nhập thiền trước mặt người khác. Bất cứ sự sắp đặt, dàn dựng, bố trí oai nghi, sự cau mày, sự xảo trá, cách thức xảo trá, bản chất xảo trá nào như vậy – đây là cơ sở của sự xảo trá được gọi là oai nghi.
Katamaṃ sāmantajappanasaṅkhātaṃ kuhanavatthu? Idhekacco pāpiccho icchāpakato sambhāvanādhippāyo ‘‘evaṃ maṃ jano sambhāvessatī’’ti ariyadhamme sannissitavācaṃ bhāsati. ‘‘Yo evarūpaṃ cīvaraṃ dhāreti so samaṇo mahesakkho’’ti bhaṇati; yo evarūpaṃ pattaṃ dhāreti…pe… lohathālakaṃ dhāreti… dhammakaraṇaṃ dhāreti… parissāvanaṃ dhāreti… kuñcikaṃ dhāreti… upāhanaṃ dhāreti… kāyabandhanaṃ dhāreti… āyogaṃ † dhāreti so samaṇo mahesakkho’’ti bhaṇati; ‘‘yassa evarūpā upajjhāyo so samaṇo mahesakkho’’ti bhaṇati; yassa evarūpo ācariyo …pe… evarūpā samānupajjhāyakā… samānācariyakā… mittā… sandiṭṭhā… sambhattā… sahāyā so samaṇo mahesakkhoti bhaṇati; yo evarūpe vihāre vasati… aḍḍhayoge vasati… pāsāde vasati… hammiye vasati… guhāyaṃ vasati… leṇe vasati… kuṭiyaṃ vasati… kūṭāgāre vasati… aṭṭe vasati… māḷe vasati… uddaṇḍe † vasati… upaṭṭhānasālāyaṃ vasati… maṇḍape vasati… rukkhamūle vasati so samaṇo mahesakkho’’ti bhaṇati.
What is the ground for deceit called 'allusive speech'? Here, a certain person, having evil wishes, being overcome by evil wishes, and with the intention of being esteemed, thinks, 'In this way people will esteem me,' and speaks words connected with the noble teaching. He says: 'A monk who wears such a robe is a monk of great power.' He says: 'A monk who carries such a bowl … a water strainer … a key … sandals … a belt … or a shoulder strap is a monk of great power.' He says: 'A monk whose preceptor is such is a monk of great power.' He says: 'A monk whose teacher … whose fellow preceptors … whose fellow teachers … whose friends … or whose acquaintances are such is a monk of great power.' He says: 'A monk who dwells in such a monastery … in a half-gabled building … in a long-house … in a storied building … in a cave … in a rock shelter … in a hut … in a pinnacled building … in a watchtower … in a hall … at a stand for water or firewood … in an attendance hall … in a pavilion … or at the foot of a tree is a monk of great power.'
Thế nào là sự lừa dối được gọi là sự nói bóng gió? Ở đây, có người có ước muốn xấu xa, bị ước muốn chế ngự, có ý định được tôn kính, (nghĩ rằng): 'Như thế này, người ta sẽ tôn kính ta,' nên đã nói lời nói liên quan đến các pháp của bậc Thánh. (Vị ấy) nói: 'Vị sa-môn nào mang y như thế này là vị có đại thần lực'; (vị ấy) nói: 'Vị nào mang bát như thế này... mang đồ lọc nước... mang chìa khóa... mang giày... mang dây lưng... mang dải vải... vị sa-môn ấy có đại thần lực'; (vị ấy) nói: 'Vị sa-môn nào có thầy tế độ như thế này là vị có đại thần lực'; (vị ấy) nói: 'Vị nào có thầy giáo thọ như thế này... có cùng thầy tế độ... có cùng thầy giáo thọ... có bạn bè... có người quen biết... có người thân tín... có người đồng hành... vị sa-môn ấy có đại thần lực'; (vị ấy) nói: 'Vị nào sống trong ngôi tịnh xá như thế này... sống trong ngôi nhà một mái... sống trong lâu đài... sống trong lầu son... sống trong hang động... sống trong sơn động... sống trong cốc... sống trong nhà có nóc nhọn... sống trong tháp canh... sống trong nhà sàn... sống trong nhà kho... sống trong giảng đường... sống trong nhà lều... sống dưới gốc cây... vị sa-môn ấy có đại thần lực.'
Atha vā, korajikakorajiko bhākuṭikabhākuṭiko kuhakakuhako lapakalapako mukhasambhāviko ‘‘ayaṃ samaṇo imāsaṃ evarūpānaṃ santānaṃ vihārasamāpattīnaṃ lābhī’’ti tādisaṃ gambhīraṃ gūḷhaṃ nipuṇaṃ paṭicchannaṃ lokuttaraṃ suññatāpaṭisaññuttaṃ kathaṃ katheti. Yā evarūpā bhākuṭikā bhākuṭiyaṃ kuhanā kuhāyanā kuhitattaṃ, idaṃ sāmantajappanasaṅkhātaṃ kuhanavatthu. Tassa paccekasambuddhassa imāni tīṇi kuhanavatthūni pahīnāni samucchinnāni vūpasantāni paṭippassaddhāni abhabbuppattikāni ñāṇagginā daḍḍhāni. Tasmā so paccekasambuddho nikkuho.
Or else, being one who habitually scowls, one who habitually frowns, one who is deceitful, one who prattles, one who flatters, he speaks thus about a discourse that is profound, hidden, subtle, concealed, supramundane, and connected with the path, fruition, and Nibbāna, saying: 'This recluse is an obtainer of such tranquil meditative attainments.' Whatever such frowning, the state of frowning, deception, the act of deceiving, the state of being a deceiver—this is the basis for deception called 'speaking near to' [attainments]. For that Paccekasambuddha, these three bases for deception have been abandoned, cut off at the root, stilled, pacified, made incapable of arising again, and burned by the fire of knowledge. Therefore, that Paccekasambuddha is without deception.
Hoặc là, (vị ấy) là người hay cau có, hay nhăn mặt, hay lừa dối, hay nói khoác, hay tự khen mình, (với ý nghĩ): 'Vị sa-môn này là người đắc được các thiền chứng an tịnh như thế này,' nên đã nói lời nói như thế, sâu sắc, kín đáo, tế nhị, che giấu, siêu thế, tương ưng với tánh không. Sự cau có, trạng thái cau có, sự lừa dối, hành vi lừa dối, bản chất lừa dối như thế này, đây là sự lừa dối được gọi là sự nói bóng gió. Đối với vị Phật Độc Giác ấy, ba sự lừa dối này đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho an tịnh, đã được làm cho lắng dịu, không có khả năng sanh khởi lại, đã được đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy là người không lừa dối.
Nippipāsoti pipāsā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Sā pipāsā taṇhā tassa paccekasambuddhassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā. Tasmā paccekasambuddho nippipāsoti – nillolupo nikkuho nippipāso.
'Without thirst': thirst is a term for craving. That which is lust, strong lust... covetousness, greed, an unwholesome root. For that Paccekasambuddha, that thirst, that craving, has been abandoned, has its root cut off, has been made like a palm stump, has been brought to non-existence, and is of a nature not to arise in the future. Therefore, the Paccekasambuddha is without thirst—ungrasping, without deception, without thirst.
Về câu 'không còn khao khát': Sự khao khát được gọi là ái. Sự tham ái, sự tham đắm mãnh liệt... sự tham lam, lòng tham, là gốc rễ của bất thiện. Sự khao khát, tức là ái ấy, đối với vị Phật Độc Giác ấy, đã được đoạn trừ, đã được nhổ tận gốc, đã được làm cho như cây thốt nốt bị chặt ngọn, đã được làm cho không còn hiện hữu, có trạng thái không sanh khởi lại trong tương lai. Do đó, vị Phật Độc Giác là người không còn khao khát – (nghĩa là) không tham lam, không lừa dối, không khao khát.
Nimmakkho niddhantakasāvamohoti. Makkhoti yo makkho makkhāyanā † makkhāyitattaṃ niṭṭhuriyaṃ niṭṭhuriyakammaṃ. Kasāvoti rāgo kasāvo, doso kasāvo, moho kasāvo, kodho…pe… upanāho… makkho… paḷāso… sabbākusalābhisaṅkhārā kasāvā. Mohoti dukkhe aññāṇaṃ, dukkhasamudaye aññāṇaṃ, dukkhanirodhe aññāṇaṃ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya aññāṇaṃ, pubbante aññāṇaṃ, aparante aññāṇaṃ, pubbantāparante aññāṇaṃ, idappaccayatāpaṭiccasamuppannesu dhammesu aññāṇaṃ. Yaṃ evarūpaṃ aññāṇaṃ adassanaṃ anabhisamayo ananubodho appaṭivedho asaṃgāhanā apariyogāhanā asamapekkhanā apaccavekkhaṇā apaccakkhakammaṃ dummejjhaṃ bālyaṃ asampajaññaṃ moho pamoho sammoho avijjā avijjogho avijjāyogo avijjānusayo avijjāpariyuṭṭhānaṃ avijjālaṅgī moho akusalamūlaṃ. Tassa paccekasambuddhassa makkho ca kasāvo ca moho ca vantā saṃvantā niddhantā pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭippassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhāti. So paccekasambuddho nimmakkho niddhantakasāvamoho.
“Without disparagement, with stains and delusion washed away.” “Disparagement” is that which is disparagement, the act of disparaging, the state of being a disparager, harshness, harsh action. “Stains” are: lust is a stain, hatred is a stain, delusion is a stain, anger… resentment… disparagement… insolence… all unwholesome formations are stains. “Delusion” is ignorance concerning suffering, ignorance concerning the origin of suffering, ignorance concerning the cessation of suffering, ignorance concerning the path leading to the cessation of suffering; ignorance concerning the past, ignorance concerning the future, ignorance concerning the past and the future; ignorance concerning specifically conditioned phenomena that have arisen dependently. Whatever such ignorance, not seeing, non-comprehension, non-awakening, non-penetration, not grasping, not fathoming, not considering, not reflecting, the state of not seeing for oneself, stupidity, foolishness, lack of clear comprehension, delusion, bewilderment, confusion, ignorance, the flood of ignorance, the yoke of ignorance, the underlying tendency of ignorance, the obsession of ignorance, the bolt of ignorance, delusion, an unwholesome root. For that Paccekasambuddha, disparagement, stains, and delusion have been vomited, completely vomited, washed away, abandoned, cut off at the root, stilled, pacified, made incapable of arising again, burned up by the fire of knowledge. Thus, that Paccekasambuddha is without disparagement, with stains and delusion washed away.
Về câu 'không vong ơn, đã gột sạch cấu uế và si mê'. Về 'vong ơn': sự vong ơn, hành vi vong ơn, bản chất vong ơn, sự tàn nhẫn, hành động tàn nhẫn. Về 'cấu uế': tham là cấu uế, sân là cấu uế, si là cấu uế, phẫn nộ... oán hận... vong ơn... khinh miệt... tất cả các hành bất thiện là cấu uế. Về 'si mê': sự không biết về khổ, sự không biết về tập khởi của khổ, sự không biết về sự diệt khổ, sự không biết về con đường đưa đến sự diệt khổ, sự không biết về quá khứ, sự không biết về vị lai, sự không biết về quá khứ và vị lai, sự không biết về các pháp duyên sanh theo nguyên lý 'cái này có, cái kia có'. Sự không biết như thế này, sự không thấy, sự không thấu triệt, sự không giác ngộ, sự không chứng ngộ, sự không nắm bắt, sự không thẩm thấu, sự không quán xét, sự không xem xét lại, sự không trực nhận, trí tuệ yếu kém, sự ngu dốt, sự không tỉnh giác, sự si mê, sự mê muội, sự hoàn toàn mê muội, vô minh, bộc lưu vô minh, ách phược vô minh, tùy miên vô minh, triền cái vô minh, then chốt vô minh, si mê, là gốc rễ của bất thiện. Đối với vị Phật Độc Giác ấy, sự vong ơn, cấu uế và si mê đã được từ bỏ, đã được từ bỏ hoàn toàn, đã được gột sạch, đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho an tịnh, đã được làm cho lắng dịu, không có khả năng sanh khởi lại, đã được đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ. Vị Phật Độc Giác ấy là người không vong ơn, đã gột sạch cấu uế và si mê.
Nirāsaso sabbaloke bhavitvāti āsā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Sabbaloketi sabbaapāyaloke sabbamanussaloke sabbadevaloke sabbakhandhaloke sabbadhātuloke sabbaāyatanaloke. Nirāsaso sabbaloke bhavitvāti sabbaloke nirāsaso bhavitvā nittaṇho bhavitvā nippipāso bhavitvāti – nirāsaso sabbaloke bhavitvā, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
“Having become without longing in all the world”: “longing” is a term for craving—that is, lust, strong lust… covetousness, greed, an unwholesome root. “All the world” means the entire world of woe, the entire human world, the entire divine world, the entire world of the aggregates, the entire world of the elements, the entire world of the sense bases. “Having become without longing in all the world” means having become without longing in all the world, having become without craving, having become without thirst. Thus—“having become without longing in all the world, one should wander alone like a rhinoceros.” Therefore that Paccekasambuddha said:
Về câu 'trở thành người không hy vọng trong tất cả thế gian': Hy vọng được gọi là ái. Sự tham ái, sự tham đắm mãnh liệt... sự tham lam, lòng tham, là gốc rễ của bất thiện. Về 'tất cả thế gian': trong tất cả cõi khổ, trong tất cả cõi người, trong tất cả cõi trời, trong tất cả thế gian uẩn, trong tất cả thế gian giới, trong tất cả thế gian xứ. Về câu 'trở thành người không hy vọng trong tất cả thế gian': (nghĩa là) trở thành người không hy vọng, trở thành người không ái, trở thành người không khao khát trong tất cả thế gian – trở thành người không hy vọng trong tất cả thế gian, hãy sống một mình như sừng tê giác. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói:
‘‘Nillolupo nikkuho nippipāso, nimmakkho niddhantakasāvamoho;
Nirāsaso sabbaloke bhavitvā, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“Without greed, without deception, without thirst, without disparagement, with stains and delusion washed away; having become without longing for all the world, one should wander alone like a rhinoceros.”
"Không tham lam, không lừa dối, không khao khát, không vong ơn, đã gột sạch cấu uế và si mê; trở thành người không hy vọng trong tất cả thế gian, hãy sống một mình như sừng tê giác."
143.
143.
143.
Pāpaṃ sahāyaṃ parivajjayetha, anatthadassiṃ visame niviṭṭhaṃ;
Sayaṃ na seve pasutaṃ pamattaṃ, eko care khaggavisāṇakappo.
One should avoid an evil companion, one who sees what is unprofitable, established in what is wrong; one should not oneself associate with one who is devoted and heedless—one should wander alone like a rhinoceros.
Nên tránh xa người bạn xấu, người chỉ thấy điều bất lợi, người đã an trú trong sự bất bình đẳng (tà kiến); tự mình không nên kết giao với người chuyên tâm (vào tà kiến), người phóng dật, hãy sống một mình như sừng tê giác.
Pāpaṃ sahāyaṃ parivajjayethāti. Pāpasahāyo vuccati yo so sahāyo dasavatthukāya micchādiṭṭhiyā samannāgato – natthi dinnaṃ, natthi yiṭṭhaṃ, natthi hutaṃ, natthi sukatadukkaṭānaṃ kammānaṃ phalaṃ vipāko, natthi ayaṃ loko, natthi paro loko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṃ parañca lokaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedentīti. Ayaṃ pāpasahāyo. Pāpaṃ sahāyaṃ parivajjayethāti. Pāpaṃ sahāyaṃ vajjeyya parivajjeyyāti – pāpaṃ sahāyaṃ parivajjayetha.
“One should avoid an evil companion.” An “evil companion” is said to be a companion who possesses the tenfold wrong view: “There is nothing given, nothing sacrificed, nothing offered; there is no fruit or result of good and bad actions; there is no this world, no other world; there is no mother, no father; there are no spontaneously arisen beings; there are in the world no recluses and brahmins who have gone the right way and are practicing the right way, who, having realized this world and the other world for themselves by direct knowledge, make it known.” This is an evil companion. “One should avoid an evil companion” means one should avoid, one should completely shun an evil companion. Thus, “one should avoid an evil companion.”
Về câu 'nên tránh xa người bạn xấu'. Người bạn xấu được gọi là người bạn nào thành tựu tà kiến có mười sự vật – không có (quả của) sự bố thí, không có (quả của) sự cúng dường lớn, không có (quả của) sự cúng dường nhỏ, không có quả, không có dị thục của các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có chúng sanh hóa sanh, không có ở đời các vị sa-môn, bà-la-môn đã đi đến con đường đúng đắn, đã thực hành đúng đắn, những vị đã tự mình chứng ngộ với thắng trí về đời này và đời sau rồi tuyên thuyết. Đây là người bạn xấu. Về câu 'nên tránh xa người bạn xấu': (nghĩa là) nên tránh, nên tránh xa người bạn xấu – nên tránh xa người bạn xấu.
Anatthadassiṃ visame niviṭṭhanti anatthadassī vuccati yo so sahāyo dasavatthukāya micchādiṭṭhiyā samannāgato – natthi dinnaṃ, natthi yiṭṭhaṃ…pe… ye imañca lokaṃ parañca lokaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedentīti. Visame niviṭṭhanti visame kāyakamme niviṭṭhaṃ, visame vacīkamme niviṭṭhaṃ, visame manokamme niviṭṭhaṃ, visame pāṇātipāte niviṭṭhaṃ, visame adinnādāne niviṭṭhaṃ, visame kāmesumicchācāre niviṭṭhaṃ, visame musāvāde niviṭṭhaṃ, visamāya pisuṇāya vācāya † niviṭṭhaṃ, visamāya pharusāya vācāya † niviṭṭhaṃ, visame samphappalāpe niviṭṭhaṃ, visamāya abhijjhāya niviṭṭhaṃ, visame byāpāde niviṭṭhaṃ, visamāya micchādiṭṭhiyā niviṭṭhaṃ, visamesu saṅkhāresu niviṭṭhaṃ visamesu pañcasu kāmaguṇesu niviṭṭhaṃ, visamesu pañcasu nīvaraṇesu niviṭṭhaṃ viniviṭṭhaṃ sattaṃ allīnaṃ upagataṃ ajjhositaṃ adhimuttanti – anatthadassiṃ visame niviṭṭhaṃ.
“One who sees what is unprofitable, established in what is wrong”: “One who sees what is unprofitable” refers to a companion who possesses the tenfold wrong view: “There is nothing given, nothing sacrificed… who, having realized this world and the other world for themselves by direct knowledge, make it known.” “Established in what is wrong” means established in wrong bodily action, established in wrong verbal action, established in wrong mental action; established in killing living beings, established in taking what is not given, established in sexual misconduct, established in false speech, established in divisive speech, established in harsh speech, established in idle chatter; established in covetousness, established in ill will, established in wrong view; established in wrong volitional formations, established in the five wrong strands of sensual pleasure, established in the five wrong hindrances—firmly established, clinging, stuck, entered upon, obsessed with, resolved upon. This is “one who sees what is unprofitable, established in what is wrong.”
“Người thấy điều bất lợi, đã an trú trong sự bất bình đẳng”: Người bạn đồng hành nào được trang bị tà kiến có mười sự vật được gọi là người thấy điều bất lợi – (cho rằng) không có (quả của) vật được cho, không có (quả của) sự cúng dường tế lễ... v.v... những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào sau khi tự mình thắng tri, chứng ngộ rồi tuyên thuyết về thế giới này và thế giới khác là không có. “Đã an trú trong sự bất bình đẳng” (nghĩa là): đã an trú trong thân nghiệp bất bình đẳng, đã an trú trong khẩu nghiệp bất bình đẳng, đã an trú trong ý nghiệp bất bình đẳng, đã an trú trong sự sát sanh bất bình đẳng, đã an trú trong sự trộm cắp bất bình đẳng, đã an trú trong sự tà hạnh trong các dục bất bình đẳng, đã an trú trong sự nói dối bất bình đẳng, đã an trú trong lời nói hai lưỡi bất bình đẳng, đã an trú trong lời nói thô ác bất bình đẳng, đã an trú trong lời nói vô ích bất bình đẳng, đã an trú trong sự tham lam bất bình đẳng, đã an trú trong sự sân hận bất bình đẳng, đã an trú trong tà kiến bất bình đẳng, đã an trú trong các hành bất bình đẳng, đã an trú trong năm dục trưởng dưỡng bất bình đẳng, đã an trú trong năm triền cái bất bình đẳng, đã an trú một cách đặc biệt, đã dính mắc, đã bám víu, đã tiếp cận, đã chìm đắm, đã quyết đoán. – (Đây là ý nghĩa của) “người thấy điều bất lợi, đã an trú trong sự bất bình đẳng”.
Sayaṃ na seve pasutaṃ pamattanti. Pasutanti yopi kāme esati gavesati pariyesati taccarito tabbahulo taggaruko tannino tappoṇo tappabbhāro tadadhimutto tadadhipateyyo, sopi kāmappasuto. Yopi taṇhāvasena rūpe pariyesati, sadde…pe… gandhe… rase… phoṭṭhabbe pariyesati taccarito tabbahulo taggaruko tanninno tappoṇo tappabbhāro tadadhimutto tadadhipateyyo, sopi kāmappasuto. Yopi taṇhāvasena rūpe paṭilabhati, sadde…pe… gandhe… rase… phoṭṭhabbe paṭilabhati taccarito tabbahulo taggaruko tanninno tappoṇo tappabbhāro tadadhimutto tadadhipateyyo, sopi kāmappasuto. Yopi taṇhāvasena rūpe paribhuñjati, sadde…pe… gandhe… rase… phoṭṭhabbe paribhuñjati taccarito tabbahulo taggaruko tanninno tappoṇo tappabbhāro tadadhimutto tadadhipateyyo, sopi kāmappasuto. Yathā kalahakārako kalahappasuto, kammakārako kammappasuto, gocare caranto gocarappasuto, jhāyī jhānappasuto; evameva yo kāme esati gavesati pariyesati taccarito tabbahulo taggaruko tanninno tappoṇo tappabbhāro tadadhimutto tadadhipateyyo, sopi kāmappasuto. Yopi taṇhāvasena rūpe pariyesati…pe… yopi taṇhāvasena rūpe paṭilabhati…pe… yopi taṇhāvasena rūpe paribhuñjati, sadde…pe… gandhe… rase… phoṭṭhabbe paribhuñjati taccarito tabbahulo taggaruko tanninno tappoṇo tappabbhāro tadadhimutto tadadhipateyyo, sopi kāmappasuto. Pamattanti. Pamādo vattabbo kāyaduccarite vā vacīduccarite vā manoduccarite vā pañcasu kāmaguṇesu vā cittassa vosaggo vosaggānuppadānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ bhāvanāya asakkaccakiriyatā asātaccakiriyatā anaṭṭhitakiriyatā olīnavuttitā nikkhittacchandatā nikkhittadhuratā anāsevanā abhāvanā abahulīkammaṃ anadhiṭṭhānaṃ ananuyogo, yo evarūpo pamādo pamajjanā pamajjitattaṃ – ayaṃ vuccati pamādo.
“One should not oneself associate with the attached and heedless.” “Attached”: one who desires, seeks, and searches for sensual pleasures—being one whose conduct accords with them, who is much given to them, is devoted to them, is inclined toward them, slopes toward them, is bent on them, is intent on them, and is under their dominion—such a one is attached to sensual pleasures. One who, by the power of craving, seeks forms, sounds… smells… tastes… tactile objects… is attached to sensual pleasures. One who, by the power of craving, obtains forms… is attached to sensual pleasures. One who, by the power of craving, enjoys forms… is attached to sensual pleasures. Just as a quarrel-maker is attached to quarrels, a worker to work, one wandering in a pasture to the pasture, a meditator to meditation; just so, one who desires, seeks, and searches for sensual pleasures… is attached to sensual pleasures. One who, by the power of craving, seeks forms… obtains forms… enjoys forms, sounds… smells… tastes… tactile objects… is attached to sensual pleasures. “Heedless”: Heedlessness is said to be negligence in bodily misconduct, verbal misconduct, or mental misconduct, or the mind's release and giving itself over to the five strands of sensual pleasure. In the development of wholesome qualities, it is not acting with respect, not acting with persistence, sluggishness of conduct, having laid down one's aspiration, having thrown off the yoke; it is non-cultivation, non-development, not making it a frequent practice, non-determination, and non-application. Whatever is such heedlessness, being heedless, the state of being heedless—this is called heedlessness.
“Tự mình không nên phục vụ người chuyên tâm, người phóng dật”: “Người chuyên tâm”: Người nào tìm kiếm, truy tìm, lùng sục các dục, có hành vi như thế, có nhiều điều ấy, xem trọng điều ấy, hướng về điều ấy, thiên về điều ấy, nghiêng về điều ấy, quyết đoán điều ấy, lấy điều ấy làm chủ; người ấy cũng là người chuyên tâm vào dục. Người nào do năng lực của ái dục mà lùng sục các sắc... âm thanh... hương... vị... xúc; có hành vi như thế, có nhiều điều ấy, xem trọng điều ấy, hướng về điều ấy, thiên về điều ấy, nghiêng về điều ấy, quyết đoán điều ấy, lấy điều ấy làm chủ; người ấy cũng là người chuyên tâm vào dục. Người nào do năng lực của ái dục mà thành tựu các sắc... âm thanh... hương... vị... xúc; có hành vi như thế, có nhiều điều ấy, xem trọng điều ấy, hướng về điều ấy, thiên về điều ấy, nghiêng về điều ấy, quyết đoán điều ấy, lấy điều ấy làm chủ; người ấy cũng là người chuyên tâm vào dục. Người nào do năng lực của ái dục mà hưởng thụ các sắc... âm thanh... hương... vị... xúc; có hành vi như thế, có nhiều điều ấy, xem trọng điều ấy, hướng về điều ấy, thiên về điều ấy, nghiêng về điều ấy, quyết đoán điều ấy, lấy điều ấy làm chủ; người ấy cũng là người chuyên tâm vào dục. Giống như người gây gổ chuyên tâm vào việc gây gổ, người làm việc chuyên tâm vào công việc, người đi trong cảnh giới chuyên tâm vào cảnh giới, người thiền định chuyên tâm vào thiền định; cũng vậy, người nào tìm kiếm, truy tìm, lùng sục các dục, có hành vi như thế, có nhiều điều ấy, xem trọng điều ấy, hướng về điều ấy, thiên về điều ấy, nghiêng về điều ấy, quyết đoán điều ấy, lấy điều ấy làm chủ; người ấy cũng là người chuyên tâm vào dục. Người nào do năng lực của ái dục mà lùng sục các sắc... v.v... người nào do năng lực của ái dục mà thành tựu các sắc... v.v... người nào do năng lực của ái dục mà hưởng thụ các sắc... âm thanh... hương... vị... xúc; có hành vi như thế, có nhiều điều ấy, xem trọng điều ấy, hướng về điều ấy, thiên về điều ấy, nghiêng về điều ấy, quyết đoán điều ấy, lấy điều ấy làm chủ; người ấy cũng là người chuyên tâm vào dục. “Người phóng dật”: Sự phóng dật được nói đến là sự buông thả, sự buông lung của tâm trong thân ác hành, hoặc trong khẩu ác hành, hoặc trong ý ác hành, hoặc trong năm dục trưởng dưỡng; là sự không thực hành một cách tôn trọng, không thực hành một cách kiên trì, không thực hành một cách vững chắc, có khuynh hướng buông xuôi, có ý muốn từ bỏ, có gánh nặng từ bỏ, không thực hành, không tu tập, không làm cho nhiều, không kiên định, không chuyên chú trong việc tu tập các pháp thiện. Bất cứ sự phóng dật, sự lơ là, tình trạng lơ là nào có hình thức như vậy – đây được gọi là sự phóng dật.
Sayaṃ na seve pasutaṃ pamattanti pasutaṃ na seveyya pamattañca sayaṃ na seveyya sāmaṃ na seveyya na niseveyya na saṃseveyya na parisaṃseveyya na ācareyya na samācareyya na samādāya vatteyyāti – sayaṃ na seve pasutaṃ pamattaṃ, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
“‘One should not oneself associate with one who is diligent in sensual pleasures and heedless’ means: one should not associate with one who is diligent in sensual pleasures, and one should not oneself associate with one who is heedless. One should not personally associate with, not especially associate with, not well associate with, not repeatedly associate with; one should not practice, not practice well, not, having undertaken it, practice it. Thus: ‘One should not oneself associate with one who is diligent in sensual pleasures and heedless; one should wander alone like a rhinoceros horn.’ Therefore, that Paccekasambuddha said:”
“Tự mình không nên phục vụ người chuyên tâm, người phóng dật” (nghĩa là): không nên phục vụ người chuyên tâm và người phóng dật, tự mình không nên phục vụ, bản thân không nên phục vụ, không nên phục vụ một cách đặc biệt, không nên phục vụ một cách tốt đẹp, không nên phục vụ một cách lặp đi lặp lại, không nên thực hành, không nên thực hành một cách tốt đẹp, không nên thọ trì và hành động. – (Đây là ý nghĩa của) “tự mình không nên phục vụ người chuyên tâm, người phóng dật, hãy đi một mình như tê giác.” Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng –
‘‘Pāpaṃ sahāyaṃ parivajjayetha, anatthadassiṃ visame niviṭṭhaṃ;
Sayaṃ na seve pasutaṃ pamattaṃ, eko care khaggavisāṇakappo.
“One should shun an evil companion, one who sees what is unbeneficial, established in what is wrong. One should not oneself associate with one who is diligent in sensual pleasures and heedless. One should wander alone like a rhinoceros horn.”
“Nên tránh xa người bạn đồng hành xấu ác, người thấy điều bất lợi, đã an trú trong sự bất bình đẳng; Tự mình không nên phục vụ người chuyên tâm, người phóng dật, hãy đi một mình như tê giác.”
144.
144.
144.
Bahussutaṃ dhammadharaṃ bhajetha, mittaṃ uḷāraṃ paṭibhānavantaṃ;
Aññāya atthāni vineyya kaṅkhaṃ, eko care khaggavisāṇakappo.
“One should associate with a friend who is learned, a bearer of the Dhamma, one who is magnificent and endowed with ready wit. Having known the benefits and dispelled doubt, one should wander alone like a rhinoceros horn.”
“Nên thân cận người bạn đa văn, hộ trì Giáo pháp, bậc cao thượng, có trí tuệ biện tài; Sau khi đã biết các ý nghĩa, loại trừ sự nghi ngờ, hãy đi một mình như tê giác.”
Bahussutaṃ dhammadharaṃ bhajethāti bahussuto hoti mitto sutadharo sutasannicayo. Ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthaṃ sabyañjanaṃ † kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ abhivadanti, tathārūpāssa dhammā bahussutā honti dhātā † vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā. Dhammadharanti dhammaṃ dhārentaṃ † – suttaṃ geyyaṃ veyyākaraṇaṃ gāthaṃ udānaṃ itivuttakaṃ jātakaṃ abbhutadhammaṃ vedallaṃ. Bahussutaṃ dhammadharaṃ bhajethāti bahussutañca dhammadharañca mittaṃ bhajeyya saṃbhajeyya seveyya niseveyya saṃseveyya paṭiseveyyāti – bahussutaṃ dhammadharaṃ bhajetha.
“‘One should associate with one who is learned, a bearer of the Dhamma’: A learned friend is a bearer of what has been heard, an accumulator of what has been heard. Those teachings that are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, with meaning and with phrasing, which proclaim the noble practice, utterly complete and pure—such teachings have been much heard by them, retained, familiarized by speech, repeatedly examined with the mind, and well penetrated by wisdom. ‘A bearer of the Dhamma’: one who bears the Dhamma—discourses, mixed prose and verse, explanations, verses, inspired utterances, ‘as-it-was-said’ discourses, birth stories, amazing-and-marvelous-events discourses, and question-and-answer discourses. ‘One should associate with one who is learned, a bearer of the Dhamma’: one should associate with, well associate with, attend upon, especially attend upon, well attend upon, and repeatedly attend upon a friend who is learned and a bearer of the Dhamma. Thus: ‘One should associate with one who is learned, a bearer of the Dhamma.’”
“Nên thân cận người đa văn, hộ trì Giáo pháp”: Người bạn là người đa văn, người ghi nhớ điều đã nghe, người tích lũy điều đã nghe. Những pháp nào là toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú, tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch; những pháp có hình thức như vậy đã được vị ấy nghe nhiều, đã được ghi nhớ, đã được thực hành thuần thục bằng lời nói, đã được quán xét bằng ý, đã được khéo thông đạt bằng trí tuệ. “Người hộ trì Giáo pháp” (là người) hộ trì Giáo pháp – Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ ngôn, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, và Phương quảng. “Nên thân cận người đa văn, hộ trì Giáo pháp” (nghĩa là): nên thân cận, nên thân cận một cách tốt đẹp, nên phục vụ, nên phục vụ một cách đặc biệt, nên phục vụ một cách tốt đẹp, nên phục vụ một cách lặp đi lặp lại người bạn vừa đa văn vừa hộ trì Giáo pháp. – (Đây là ý nghĩa của) “nên thân cận người đa văn, hộ trì Giáo pháp”.
Mittaṃ uḷāraṃ paṭibhānavantanti uḷāro hoti mitto sīlena samādhinā paññāya vimuttiyā vimuttiñāṇadassena. Paṭibhānavantanti tayo paṭibhānavanto – pariyattipaṭibhānavā, paripucchāpaṭibhānavā, adhigamapaṭibhānavā. Katamo pariyattipaṭibhānavā? Idhekaccassa buddhavacanaṃ pariyāputaṃ † hoti suttaṃ geyyaṃ veyyākaraṇaṃ gāthā udānaṃ itivuttakaṃ jātakaṃ abbhutadhammaṃ vedallaṃ. Tassa pariyattiṃ nissāya paṭibhāti – ayaṃ pariyattipaṭibhānavā.
“A noble friend, endowed with ready wit”: A friend is noble through virtue, concentration, wisdom, liberation, and the knowledge and vision of liberation. “Endowed with ready wit”: There are three persons endowed with ready wit: one with ready wit in learning, one with ready wit in questioning, and one with ready wit in attainment. What is one with ready wit in learning? Here, someone has thoroughly learned the Buddha's word—the discourses, mixed prose and verse, explanations, verses, inspired utterances, ‘as-it-was-said’ discourses, birth stories, amazing-and-marvelous-events discourses, and question-and-answer discourses. Based on this learning, understanding arises in them—this is one with ready wit in learning.
“Người bạn cao thượng và có biện tài” có nghĩa là: Người bạn trở nên cao thượng do giới, do định, do tuệ, do giải thoát, do giải thoát tri kiến. “Có biện tài” có nghĩa là có ba hạng người có biện tài: người có biện tài về pháp học, người có biện tài về sự chất vấn, người có biện tài về sự chứng đắc. Thế nào là người có biện tài về pháp học? Ở đây, có người đã học thuộc lòng lời Phật dạy: kinh, ứng tụng, ký thuyết, kệ ngôn, cảm hứng ngữ, như thị ngữ, bổn sanh, vị tằng hữu pháp, phương quảng. Vị ấy nhờ vào pháp học mà có biện tài khởi lên. Đây là người có biện tài về pháp học.
Katamo paripucchāpaṭibhānavā? Idhekacco paripucchitopi hoti atthe ca ñāye ca lakkhaṇe ca kāraṇe ca ṭhānāṭṭhāne ca. Tassa paripucchaṃ nissāya paṭibhāti – ayaṃ paripucchāpaṭibhānavā.
What is one with ready wit in questioning? Here, someone is skilled in repeatedly questioning about meaning, method, characteristics, causes, and the possible and the impossible. Based on this questioning, understanding arises in them—this is one with ready wit in questioning.
Thế nào là người có biện tài về sự chất vấn? Ở đây, có người thường hay chất vấn về ý nghĩa, về lý lẽ, về đặc tướng, về nguyên nhân, và về xứ và phi xứ. Vị ấy nhờ vào sự chất vấn mà có biện tài khởi lên. Đây là người có biện tài về sự chất vấn.
Katamo adhigamapaṭibhānavā? Idhekaccassa adhigatā honti cattāro satipaṭṭhānā cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo cattāro ariyamaggā cattāri sāmaññaphalāni catasso paṭisambhidāyo cha abhiññāyo †. Tassa attho ñāto dhammo ñāto nirutti ñātā. Atthe ñāte attho paṭibhāti, dhamme ñāte dhammo paṭibhāti, niruttiyā ñātāya nirutti paṭibhāti. Imesu tīsu ñāṇaṃ paṭibhānapaṭisambhidā. So paccekasambuddho imāya paṭibhānapaṭisambhidāya upeto samupeto upāgato samupāgato upapanno samupapanno samannāgato. Tasmā paccekasambuddho paṭibhānavā. Yassa pariyatti natthi paripucchā natthi adhigamo natthi, kiṃ tassa paṭibhāyissatīti – mittaṃ uḷāraṃ paṭibhānavantaṃ.
What is one with ready wit in attainment? Here, someone has attained the four establishments of mindfulness, the four right strivings, the four bases for psychic power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, the noble eightfold path, the four noble paths, the four fruits of the ascetic life, the four analytical knowledges, and the six higher knowledges. For them, the meaning is known, the Dhamma is known, and the language is known. When the meaning is known, the meaning becomes clear; when the Dhamma is known, the Dhamma becomes clear; when the language is known, the language becomes clear. Knowledge in regard to these three is the analytical knowledge of ready wit. That Paccekasambuddha is endowed with, fully endowed with, possessed of, fully possessed of, furnished with, fully furnished with, supplied with this analytical knowledge of ready wit. Therefore the Paccekasambuddha is endowed with ready wit. For one who has no learning, no questioning, no attainment—what understanding will arise for them? Thus: “a noble friend, endowed with ready wit.”
Thế nào là người có biện tài về sự chứng đắc? Ở đây, có người đã chứng đắc bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo tám ngành, bốn Thánh đạo, bốn quả Sa-môn, bốn vô ngại giải, sáu thắng trí. Vị ấy đã biết rõ ý nghĩa, đã biết rõ pháp, đã biết rõ từ ngữ. Khi ý nghĩa được biết rõ, biện tài về ý nghĩa khởi lên; khi pháp được biết rõ, biện tài về pháp khởi lên; khi từ ngữ được biết rõ, biện tài về từ ngữ khởi lên. Trí tuệ ở trong ba điều này là Biện tài Vô ngại giải. Vị Độc Giác Phật ấy đã đạt đến, đã thành tựu, đã tiếp cận, đã hoàn toàn tiếp cận, đã sanh khởi, đã hoàn toàn sanh khởi, đã đầy đủ Biện tài Vô ngại giải này. Do đó, vị Độc Giác Phật là người có biện tài. Người nào không có pháp học, không có sự chất vấn, không có sự chứng đắc, thì biện tài sẽ khởi lên cho vị ấy như thế nào? – (Đây là ý nghĩa của) “người bạn cao thượng và có biện tài”.
Aññāya atthāni vineyya kaṅkhanti attatthaṃ aññāya paratthaṃ aññāya ubhayatthaṃ aññāya diṭṭhadhammikatthaṃ aññāya samparāyikatthaṃ aññāya paramatthaṃ aññāya abhiññāya jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā kaṅkhaṃ vineyya paṭivineyya pajaheyya vinodeyya byantīkareyya anabhāvaṃ gameyyāti – aññāya atthāni vineyya kaṅkhaṃ, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
“Having understood the meanings and dispelled doubt”: having understood one's own welfare, the welfare of others, and the welfare of both; having understood the welfare in the present life, the welfare in the future life, and the ultimate welfare; having directly known, known, weighed, judged, clarified, and made plain; and having dispelled, removed, abandoned, driven out, done away with, and annihilated doubt—thus: “Having understood the meanings and dispelled doubt, one should wander alone like a rhinoceros.” Therefore that Paccekasambuddha said:
“Sau khi biết rõ các lợi ích, hãy dẹp tan nghi ngờ” có nghĩa là: sau khi biết rõ lợi ích cho bản thân, sau khi biết rõ lợi ích cho người khác, sau khi biết rõ lợi ích cho cả hai, sau khi biết rõ lợi ích trong hiện tại, sau khi biết rõ lợi ích trong tương lai, sau khi biết rõ lợi ích tối thượng, sau khi đã thắng tri, đã biết, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho rõ ràng, đã làm cho hiển lộ, nên dẹp tan, nên loại trừ, nên từ bỏ, nên xua tan, nên chấm dứt, nên đưa đến sự không còn tồn tại của sự nghi ngờ. – (Đây là ý nghĩa của) “Sau khi biết rõ các lợi ích, hãy dẹp tan nghi ngờ, hãy sống một mình như sừng tê giác.” Do đó, vị Độc Giác Phật ấy đã nói rằng:
‘‘Bahussutaṃ dhammadharaṃ bhajetha, mittaṃ uḷāraṃ paṭibhānavantaṃ;
Aññāya atthāni vineyya kaṅkhaṃ, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“One should associate with a friend who is learned, a bearer of the Dhamma, one who is noble and endowed with ready wit. Having understood the meanings and dispelled doubt, one should wander alone like a rhinoceros.”
“Hãy thân cận người bạn đa văn, trì pháp, cao thượng, và có biện tài; sau khi biết rõ các lợi ích, dẹp tan nghi ngờ, hãy sống một mình như sừng tê giác.”
145.
145.
145.
Khiḍḍaṃ ratiṃ † kāmasukhañca loke, analaṅkaritvā anapekkhamāno;
Vibhūsaṭṭhānā † virato saccavādī, eko care khaggavisāṇakappo.
“Not prizing and not longing for play, delight, and sensual pleasure in the world; abstaining from occasions for adornment, a speaker of truth, one should wander alone like a rhinoceros.”
Không trang điểm, không luyến tiếc trò vui, sự thích thú, và lạc thú của dục ở trên đời; từ bỏ việc trang sức, nói lời chân thật, hãy sống một mình như sừng tê giác.
Khiḍḍaṃ ratiṃ kāmasukhañca loketi. Khiḍḍāti dve khiḍḍā – kāyikā khiḍḍā ca vācasikā khiḍḍā ca…pe… ayaṃ kāyikā khiḍḍā…pe… ayaṃ vācasikā khiḍḍā. Ratīti anukkaṇṭhitādhivacanametaṃ – ratīti. Kāmasukhanti vuttañhetaṃ bhagavatā † – ‘‘pañcime, bhikkhave, kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā…pe… ghānaviññeyyā gandhā… jivhāviññeyyā rasā… kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. Ime kho, bhikkhave, pañca kāmaguṇā. Yaṃ kho, bhikkhave, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ, idaṃ vuccati kāmasukhaṃ’’. Loketi manussaloketi – khiḍḍaṃ ratiṃ kāmasukhañca loke.
“Play, delight, and sensual pleasure in the world”: “Play”: there are two kinds of play: bodily play and verbal play… this is bodily play… this is verbal play. “Delight”: this is a term for being without longing. “Sensual pleasure”: this has been said by the Blessed One: “Bhikkhus, there are these five cords of sensual pleasure. What five? Forms cognizable by the eye that are wished for, desired, agreeable, likable, connected with sensual desire, and enticing; sounds cognizable by the ear… smells cognizable by the nose… tastes cognizable by the tongue… tactile objects cognizable by the body that are wished for, desired, agreeable, likable, connected with sensual desire, and enticing. These, bhikkhus, are the five cords of sensual pleasure. The pleasure and joy that arise in dependence on these five cords of sensual pleasure: this is called sensual pleasure.” “In the world” means in the human world. Thus: “play, delight, and sensual pleasure in the world.”
(Về câu) “trò vui, sự thích thú, và lạc thú của dục ở trên đời”. “Trò vui” có nghĩa là có hai loại trò vui: trò vui thuộc về thân và trò vui thuộc về lời nói... (v.v.)... đây là trò vui thuộc về thân... (v.v.)... đây là trò vui thuộc về lời nói. “Sự thích thú” là từ đồng nghĩa với sự không chán ghét. “Lạc thú của dục” có nghĩa là điều này đã được đức Thế Tôn nói: “Này các Tỳ khưu, có năm loại dục trưởng dưỡng này. Năm loại nào? Các sắc pháp được nhận biết qua mắt, khả ái, khả hỷ, khả ý, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, quyến rũ; các âm thanh được nhận biết qua tai... (v.v.)... các mùi hương được nhận biết qua mũi... các vị được nhận biết qua lưỡi... các vật xúc chạm được nhận biết qua thân, khả ái, khả hỷ, khả ý, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, quyến rũ. Này các Tỳ khưu, đây là năm loại dục trưởng dưỡng. Này các Tỳ khưu, do duyên năm loại dục trưởng dưỡng này mà lạc và hỷ sanh khởi, đây được gọi là lạc thú của dục.” “Ở trên đời” có nghĩa là ở trong thế giới loài người. – (Đây là ý nghĩa của) “trò vui, sự thích thú, và lạc thú của dục ở trên đời”.
Analaṅkaritvā anapekkhamānoti khiḍḍañca ratiñca kāmasukhañca loke analaṅkaritvā anapekkho hutvā pajahitvā vinodetvā byantīkaritvā anabhāvaṃ gametvāti – analaṅkaritvā anapekkhamāno.
“Not prizing and not longing for”: not prizing and being unconcerned with play, delight, and sensual pleasure in the world; having abandoned, driven out, done away with, and brought them to non-existence—thus, “not prizing and not longing for.”
“Không trang điểm, không luyến tiếc” có nghĩa là: không trang điểm, không luyến tiếc trò vui, sự thích thú, và lạc thú của dục ở trên đời, đã từ bỏ, đã xua tan, đã chấm dứt, đã đưa đến sự không còn tồn tại. – (Đây là ý nghĩa của) “không trang điểm, không luyến tiếc”.
Vibhūsaṭṭhānā virato saccavādīti. Vibhūsāti dve vibhūsā – atthi agārikavibhūsā † atthi anāgārikavibhūsā. Katamā agārikavibhūsā? Kesā ca massū ca mālāgandhañca vilepanañca ābharaṇañca pilandhanañca vatthañca pārupanañca † veṭhanañca ucchādanaṃ parimaddanaṃ nhāpanaṃ sambāhanaṃ ādāsaṃ añjanaṃ mālāgandhavilepanaṃ mukhacuṇṇaṃ mukhalepanaṃ hatthabandhaṃ sikhābandhaṃ daṇḍaṃ nāḷikaṃ khaggaṃ chattaṃ citrupāhanaṃ uṇhīsaṃ maṇiṃ vāḷabījaniṃ odātāni vatthāni dīghadasāni iti vā – ayaṃ agārikavibhūsā.
Regarding 'He abstains from occasions for adornment and is a speaker of truth': Herein, adornment is twofold: there is the adornment of a householder and there is the adornment of one who has gone forth. What is the adornment of a householder? Hair and beard, garlands and scents, unguents, ornaments and decorations, clothes and cloaks, head-wraps, anointing, massaging, bathing, rubbing, a mirror, eye-ointment, garlands, scents, and unguents, face-powder, face-ointment, bracelets, hair-crests, a staff, a tube, a sword, a parasol, ornamented sandals, a turban, a gem, a yak-tail whisk, and white garments with long fringes, and so on. This is the adornment of a householder.
(Về câu) “Từ bỏ việc trang sức, nói lời chân thật”. “Trang sức” có nghĩa là có hai loại trang sức: có sự trang sức của người tại gia, có sự trang sức của người xuất gia. Thế nào là sự trang sức của người tại gia? Tóc và râu, vòng hoa và hương thơm, thuốc thoa, đồ trang sức, đồ đeo, y phục và áo choàng, khăn quấn đầu, việc xoa bóp, việc mát-xa, việc tắm rửa, việc đấm bóp, gương soi, thuốc kẻ mắt, vòng hoa-hương thơm-thuốc thoa, phấn thoa mặt, thuốc bôi mặt, vòng tay, dải buộc tóc, gậy, ống đựng thuốc, gươm, lọng, giày dép được trang trí, khăn xếp, ngọc, quạt lông đuôi chồn, y phục màu trắng có tua dài, hoặc những thứ tương tự. Đây là sự trang sức của người tại gia.
Katamā anāgārikavibhūsā? Cīvaramaṇḍanā pattamaṇḍanā senāsanamaṇḍanā imassa vā pūtikāyassa bāhirānaṃ vā parikkhārānaṃ maṇḍanā vibhūsanā keḷanā parikeḷanā gaddhikatā gaddhikattaṃ † capalatā † cāpalyaṃ – ayaṃ anāgārikavibhūsā.
What is the adornment of one who has gone forth? The decorating of the robe, the decorating of the bowl, the decorating of the lodging; the decorating and embellishing of this foul body or of the external requisites; play, sport, greed, greediness, fickleness, and frivolity. This is the adornment of one who has gone forth.
Thế nào là sự trang sức của người xuất gia? Việc trang điểm y, việc trang điểm bát, việc trang điểm chỗ ở, hoặc việc trang điểm, tô điểm, vui đùa, nô giỡn, tham lam, tình trạng tham lam, sự phù phiếm, tính phù phiếm đối với thân thể hôi thối này hoặc đối với các vật dụng bên ngoài. Đây là sự trang sức của người xuất gia.
Saccavādīti so paccekasambuddho saccavādī saccasandho theto paccayiko avisaṃvādako lokassa, vibhūsaṭṭhānā ārato virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto, vimariyādikatena cetasā viharatīti – vibhūsaṭṭhānā virato saccavādī, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
Regarding 'a speaker of truth': That Paccekasambuddha is a speaker of truth, true to his word, reliable, trustworthy, not a deceiver of the world. From occasions for adornment, he is aloof, abstains, and refrains; he has departed, is detached, released, and dissociated from them. He dwells with a mind that has transcended limits. Thus: 'He abstains from occasions for adornment and is a speaker of truth; one should wander alone like a rhinoceros.' Therefore that Paccekasambuddha said:
“Nói lời chân thật” có nghĩa là: Vị Độc Giác Phật ấy là người nói lời chân thật, kết hợp lời chân thật, vững chắc, đáng tin cậy, không lừa dối thế gian; vị ấy tránh xa, từ bỏ, hoàn toàn từ bỏ, thoát ra, lìa bỏ, giải thoát, không bị ràng buộc khỏi việc trang sức; vị ấy sống với tâm không bị giới hạn. – (Đây là ý nghĩa của) “Từ bỏ việc trang sức, nói lời chân thật, hãy sống một mình như sừng tê giác.” Do đó, vị Độc Giác Phật ấy đã nói rằng:
‘‘Khiḍḍaṃ ratiṃ kāmasukhañca loke, analaṅkaritvā anapekkhamāno;
Vibhūsaṭṭhānā virato saccavādī, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“Not adorning oneself and being unconcerned with play, delight, and sensual pleasure in the world, abstaining from occasions for adornment, a speaker of truth—one should wander alone like a rhinoceros.”
“Không trang điểm, không luyến tiếc trò vui, sự thích thú, và lạc thú của dục ở trên đời; từ bỏ việc trang sức, nói lời chân thật, hãy sống một mình như sừng tê giác.”
146.
146.
146.
Puttañca dāraṃ pitarañca mātaraṃ, dhanāni dhaññāni ca bandhavāni;
Hitvāna kāmāni yathodhikāni, eko care khaggavisāṇakappo.
Having abandoned son and wife, father and mother, wealth, grain, and relatives—these defined objects of sensual pleasure—one should wander alone like a rhinoceros.
Từ bỏ con trai và vợ, cha và mẹ, tài sản và ngũ cốc và quyến thuộc; từ bỏ các dục theo từng loại, hãy đi một mình như sừng tê ngưu.
Puttañca dāraṃ pitarañca mātaranti. Puttāti cattāro puttā – atrajo putto, khettajo † putto, dinnako putto, antevāsiko putto. Dārā vuccanti bhariyāyo. Pitāti yo so janako. Mātāti yā sā janikāti – puttañca dāraṃ pitarañca mātaraṃ.
Regarding 'A son and wife, a father and mother': As to 'son', there are four kinds of sons: a son born of one's own body, a son of the field, a son given, and a resident pupil. 'Dārā' means wives. As to 'father', it is he who is the progenitor. As to 'mother', it is she who is the progenitress. Thus: 'a son and wife, a father and mother'.
Về câu: ‘Con trai và vợ, cha và mẹ.’ Về ‘con trai,’ có bốn loại con trai: con trai do mình sinh ra (atrajo putto), con trai riêng của vợ (khettajo putto), con trai được nhận nuôi (dinnako putto), và người đệ tử (antevāsiko putto). Các bà vợ được gọi là ‘dārā.’ Về ‘cha,’ đó là người đàn ông sinh thành. Về ‘mẹ,’ đó là người phụ nữ sinh thành. – (Đây là nghĩa của) ‘con trai và vợ, cha và mẹ.’
Dhanāni dhaññāni ca bandhavānīti dhanāni vuccanti hiraññaṃ suvaṇṇaṃ muttā maṇi veḷuriyo saṅkho silā pavāḷaṃ rajataṃ jātarūpaṃ lohitaṅgo † masāragallaṃ. Dhaññāni vuccanti pubbaṇṇaṃ aparaṇṇaṃ. Pubbaṇṇaṃ nāma sāli vīhi yavo godhumo kaṅgu varako kudrūsako †. Aparaṇṇaṃ nāma sūpeyyaṃ. Bandhavānīti cattāro bandhavā – ñātibandhavāpi bandhu, gottabandhavāpi bandhu, mittabandhavāpi bandhu, sippabandhavāpi bandhūti – dhanāni dhaññāni ca bandhavāni.
"Wealth and grain, and relatives": Wealth means bullion, gold, pearls, gems, beryl, conch shells, crystal, coral, silver, wrought gold, rubies, and cat's-eye gems. Grain means early crops and later crops. Early crops are rice, paddy, barley, wheat, millet, panic grass, and kudrūsa grain. Later crops are pulses. Relatives are of four kinds: relatives by kinship, relatives by clan, relatives by friendship, and relatives by craft. Thus: "wealth and grain, and relatives."
Về câu: ‘Tài sản, ngũ cốc, và quyến thuộc.’ ‘Tài sản’ được gọi là: vàng chưa chế tác (hiraññaṃ), vàng đã chế tác (suvaṇṇaṃ), ngọc trai, ngọc báu, ngọc lưu ly, ốc xà cừ, đá quý, san hô, bạc, vàng (jātarūpaṃ), hồng ngọc, ngọc bích. ‘Ngũ cốc’ được gọi là: ngũ cốc chính (pubbaṇṇaṃ) và ngũ cốc phụ (aparaṇṇaṃ). Ngũ cốc chính là: lúa tẻ (sāli), lúa nếp (vīhi), lúa mạch (yavo), lúa mì (godhumo), kê (kaṅgu), lúa miến (varako), lúa hoang (kudrūsako). Ngũ cốc phụ là các loại đậu (sūpeyyaṃ). Về ‘quyến thuộc,’ có bốn loại quyến thuộc: quyến thuộc do thân tộc, quyến thuộc do dòng họ, quyến thuộc do bằng hữu, và quyến thuộc do nghề nghiệp. – (Đây là nghĩa của) ‘tài sản, ngũ cốc, và quyến thuộc.’
Hitvāna kāmāni yathodhikānīti. Kāmāti uddānato dve kāmā – vatthukāmā ca kilesakāmā ca…pe… ime vuccanti vatthukāmā…pe… ime vuccanti kilesakāmā. Hitvāna kāmānīti vatthukāme parijānitvā, kilesakāme pahāya pajahitvā vinodetvā byantīkaritvā anabhāvaṃ gametvā. Hitvāna kāmāni yathodhikānīti sotāpattimaggena ye kilesā pahīnā, te kilese na puneti na pacceti na paccāgacchati; sakadāgāmimaggena ye kilesā pahīnā…pe… anāgāmimaggena ye kilesā pahīnā… arahattamaggena ye kilesā pahīnā, te kilese na puneti na pacceti na paccāgacchatīti – hitvāna kāmāni yathodhikāni, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
"Having abandoned sensual pleasures in their entirety": In brief, sensual pleasures are twofold: sensual pleasures as objects and sensual pleasures as defilements.... These are called sensual pleasures as objects.... These are called sensual pleasures as defilements. "Having abandoned sensual pleasures" means that having abandoned sensual pleasures as objects, one forsakes, dispels, eradicates, and brings to non-existence the sensual pleasures as defilements. "Having abandoned sensual pleasures in their entirety" means that those defilements that are abandoned by the path of stream-entry, one does not go back to them, does not return to them, does not revert to them; those defilements that are abandoned by the path of the once-returner... by the path of the non-returner... by the path of arahantship, one does not go back to them, does not return to them, does not revert to them. Thus: "having abandoned sensual pleasures in their entirety, one should wander alone like a rhinoceros." Therefore that Paccekasambuddha said:
Về câu: ‘Từ bỏ các dục theo từng loại.’ Về ‘dục,’ tóm lại có hai loại dục: dục đối tượng (vatthukāmā) và dục phiền não (kilesakāmā)... ...những thứ này được gọi là dục đối tượng... ...những thứ này được gọi là dục phiền não. ‘Từ bỏ các dục’ có nghĩa là liễu tri các dục đối tượng, và đoạn trừ, từ bỏ, loại bỏ, chấm dứt, làm cho không còn hiện hữu các dục phiền não. ‘Từ bỏ các dục theo từng loại’ có nghĩa là: những phiền não nào đã được đoạn trừ bởi Tu-đà-hoàn đạo, những phiền não ấy không trở lại, không quay lại, không đi đến lại; những phiền não nào đã được đoạn trừ bởi Tư-đà-hàm đạo... những phiền não nào đã được đoạn trừ bởi A-na-hàm đạo... những phiền não nào đã được đoạn trừ bởi A-la-hán đạo, những phiền não ấy không trở lại, không quay lại, không đi đến lại. – (Đây là nghĩa của) ‘từ bỏ các dục theo từng loại, hãy đi một mình như sừng tê ngưu.’ Do đó, vị Độc Giác Phật ấy đã nói –
‘‘Puttañca dāraṃ pitarañca mātaraṃ, dhanāni dhaññāni ca bandhavāni;
Hitvāna kāmāni yathodhikāni, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
"A son and wife, a father and mother, wealth and grain, and relatives, having abandoned sensual pleasures in their entirety, one should wander alone like a rhinoceros."
‘Từ bỏ con trai và vợ, cha và mẹ, tài sản và ngũ cốc và quyến thuộc; từ bỏ các dục theo từng loại, hãy đi một mình như sừng tê ngưu.’
147.
147.
147.
Saṅgo eso parittamettha sokhyaṃ, appassādo dukkhamettha bhiyyo;
Gaḷo eso iti ñatvā matimā †, eko care khaggavisāṇakappo.
"This is an attachment, with meager happiness here, little satisfaction, and suffering in excess; knowing this is a fish-hook, the wise one, having abandoned all sensual pleasures, should wander alone like a rhinoceros."
Đây là sự dính mắc, ở đây an lạc là ít ỏi, vị ngọt ít, khổ đau lại nhiều hơn; biết rằng đây là cái ung nhọt, người có trí hãy đi một mình như sừng tê ngưu.
Saṅgo eso parittamettha sokhyanti saṅgoti vā baḷisanti vā āmisanti vā laggananti vā palibodhoti vā, pañcannetaṃ kāmaguṇānaṃ adhivacanaṃ. Parittamettha sokhyanti vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘pañcime, bhikkhave, kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā…pe… kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. Ime kho, bhikkhave, pañca kāmaguṇā. Yaṃ kho, bhikkhave, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ, idaṃ vuccati kāmasukhaṃ. Appakaṃ etaṃ sukhaṃ, parittakaṃ etaṃ sukhaṃ, thokakaṃ etaṃ sukhaṃ, omakaṃ etaṃ sukhaṃ, lāmakaṃ etaṃ sukhaṃ, chatukkaṃ etaṃ sukha’’nti – saṅgo eso parittamettha sokhyaṃ.
“This is an attachment, with meager solace here”: Attachment, or a fish-hook, or bait, or a bond, or an obstruction—this is a designation for the five cords of sensual pleasure. “With meager solace here”: This has been said by the Blessed One: “Bhikkhus, there are these five cords of sensual pleasure. What five? Forms cognizable by the eye that are wished for, desired, agreeable, and likeable, connected with sensual desire, and provocative of lust.... Tangibles cognizable by the body that are wished for, desired, agreeable, and likeable, connected with sensual desire, and provocative of lust. These, bhikkhus, are the five cords of sensual pleasure. Bhikkhus, the pleasure and joy that arise in dependence on these five cords of sensual pleasure: this is called sensual pleasure. This pleasure is slight, this pleasure is meager, this pleasure is trifling, this pleasure is inferior, this pleasure is base, this pleasure is wretched.” Thus: “This is an attachment, with meager solace here.”
Về câu: ‘Đây là sự dính mắc, ở đây an lạc là ít ỏi.’ ‘Saṅgo’ (sự dính mắc), hay ‘baḷisaṃ’ (móc câu), hay ‘āmisaṃ’ (mồi), hay ‘lagganaṃ’ (sự bám víu), hay ‘palibodho’ (sự chướng ngại), đây là tên gọi của năm dục trưởng. Về ‘ở đây an lạc là ít ỏi,’ điều này đã được Đức Thế Tôn nói: ‘Này các Tỳ khưu, có năm dục trưởng này. Thế nào là năm? Các sắc được nhận biết bởi nhãn thức, đáng mong cầu, đáng ưa thích, đáng hài lòng, có hình tướng đáng yêu, liên hệ đến dục, làm phát sanh tham ái... ...các xúc được nhận biết bởi thân thức, đáng mong cầu, đáng ưa thích, đáng hài lòng, có hình tướng đáng yêu, liên hệ đến dục, làm phát sanh tham ái. Này các Tỳ khưu, đây là năm dục trưởng. Này các Tỳ khưu, do duyên năm dục trưởng này, lạc và hỷ nào sanh khởi, đây được gọi là dục lạc. Lạc này là ít ỏi, lạc này là nhỏ nhoi, lạc này là nhỏ bé, lạc này là thấp kém, lạc này là hèn hạ, lạc này là đau khổ.’ – (Đây là nghĩa của) ‘đây là sự dính mắc, ở đây an lạc là ít ỏi.’
Appassādo dukkhamettha bhiyyoti appassādā kāmā vuttā bhagavatā † bahudukkhā bahupāyāsā †; ādīnavo ettha bhiyyo. Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā, maṃsapesūpamā kāmā vuttā bhagavatā, tiṇukkūpamā kāmā vuttā bhagavatā, aṅgārakāsūpamā kāmā vuttā bhagavatā, supinakūpamā kāmā vuttā bhagavatā, yācitakūpamā kāmā vuttā bhagavatā, rukkhaphalūpamā kāmā vuttā bhagavatā, asisūnūpamā kāmā vuttā bhagavatā, sattisūlūpamā kāmā vuttā bhagavatā, sappasirūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyoti – appassādo dukkhamettha bhiyyo.
“Little satisfaction, and suffering in excess”: Sensual pleasures have been declared by the Blessed One to have little satisfaction, to be full of suffering and distress; the danger in them is greater. Sensual pleasures have been declared by the Blessed One to be like a skeleton, like a piece of meat, like a grass torch, like a pit of hot coals, like a dream, like borrowed goods, like the fruit of a tree, like a butcher's knife and block, like a spear and stake, like a snake's head—full of suffering and distress; the danger in them is greater. Thus: “Little satisfaction, and suffering in excess.”
Về câu: ‘Vị ngọt ít, khổ đau lại nhiều hơn.’ Các dục được Đức Thế Tôn nói là có vị ngọt ít, nhiều khổ đau, nhiều phiền não; ở đây sự nguy hại lại nhiều hơn. Các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như khúc xương, các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như miếng thịt, các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như bó đuốc cỏ, các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như hố than hồng, các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như giấc mộng, các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như đồ vay mượn, các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như cây có quả, các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như cái thớt, các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như ngọn giáo và cọc nhọn, các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như đầu rắn, có nhiều khổ đau, nhiều phiền não, ở đây sự nguy hại lại nhiều hơn. – (Đây là nghĩa của) ‘vị ngọt ít, khổ đau lại nhiều hơn.’
Gaḷo eso iti ñatvā matimāti gaḷoti vā baḷisanti vā āmisanti vā laggananti vā bandhananti vā palibodhoti vā, pañcannetaṃ kāmaguṇānaṃ adhivacanaṃ. Itīti padasandhi padasaṃsaggo padapāripūrī akkharasamavāyo byañjanasiliṭṭhatā padānupubbatāpetaṃ itīti. Matimāti paṇḍito paññavā buddhimā ñāṇī vibhāvī medhāvī. Gaḷo eso iti ñatvā matimāti matimā gaḷoti ñatvā baḷisanti ñatvā āmisaṃ ti ñatvā laggananti ñatvā bandhananti ñatvā palibodhoti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvāti – gaḷo eso iti ñatvā matimā, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
"Knowing this is a fish-hook, the wise one": A fish-hook, or a hook, or bait, or an attachment, or a bond, or an obstruction—this is a designation for the five cords of sensual pleasure. "Thus" is a conjunction of words, a mixing of words, a completion of a line, a harmony of syllables, a smoothness of consonants, a sequence of words. "The wise one" means one who is sagacious, endowed with wisdom, a person of understanding, possessing knowledge, discerning, and intelligent. "Knowing this is a fish-hook, the wise one" means: the wise one, knowing it as a fish-hook, knowing it as a hook, knowing it as bait, knowing it as an attachment, knowing it as a bond, knowing it as an obstruction—having known, weighed, investigated, made clear, and made manifest. Thus: "knowing this is a fish-hook, the wise one, one should wander alone like a rhinoceros horn." Therefore that Paccekasambuddha said:
Về câu: ‘Biết rằng đây là cái ung nhọt, người có trí.’ ‘Gaḷo’ (ung nhọt), hay ‘baḷisaṃ’ (móc câu), hay ‘āmisaṃ’ (mồi), hay ‘lagganaṃ’ (sự bám víu), hay ‘bandhanaṃ’ (sự trói buộc), hay ‘palibodho’ (sự chướng ngại), đây là tên gọi của năm dục trưởng. Về ‘iti,’ đây là sự nối từ, sự trộn từ, sự làm đầy từ, sự hòa hợp âm tiết, sự trôi chảy của phụ âm, sự tuần tự của từ. Về ‘matimā’ (người có trí), là bậc hiền trí, người có trí tuệ, người có giác tuệ, người có tri kiến, người có tuệ phân tích, người có tuệ nhanh nhạy. Về ‘biết rằng đây là cái ung nhọt, người có trí,’ có nghĩa là: người có trí, biết rằng (dục) này là cái ung nhọt, biết rằng là cái móc câu, biết rằng là mồi, biết rằng là sự dính mắc, biết rằng là sự trói buộc, biết rằng là sự chướng ngại; đã biết, đã nhận biết, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho sáng tỏ, đã làm cho rõ ràng. – (Đây là nghĩa của) ‘biết rằng đây là cái ung nhọt, người có trí, hãy đi một mình như sừng tê ngưu.’ Do đó, vị Độc Giác Phật ấy đã nói –
‘‘Saṅgo eso parittamettha sokhyaṃ, appassādo dukkhamettha bhiyyo;
Gaḷo eso iti ñatvā matimā, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
"This is an attachment, with meager happiness here, little satisfaction, and suffering in excess; knowing this is a fish-hook, the wise one should wander alone like a rhinoceros horn."
‘Đây là sự dính mắc, ở đây an lạc là ít ỏi, vị ngọt ít, khổ đau lại nhiều hơn; biết rằng đây là cái ung nhọt, người có trí, hãy đi một mình như sừng tê ngưu.’
148.
148.
148.
Sandālayitvāna saṃyojanāni, jālaṃva bhetvā salilambucārī;
Aggīva daḍḍhaṃ anivattamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
Having rent the fetters asunder, like a fish in the water that has broken a net; like a fire not returning to a burnt-out spot, one should wander alone like a rhinoceros horn.
Phá tan các kiết sử, như con cá trong nước phá lưới; như ngọn lửa không quay lại nơi đã cháy, không quay trở lại (dục), hãy đi một mình như sừng tê ngưu.
Sandālayitvāna saṃyojanānīti dasa saṃyojanāni – kāmarāgasaṃyojanaṃ, paṭighasaṃyojanaṃ, mānasaṃyojanaṃ, diṭṭhisaṃyojanaṃ, vicikicchāsaṃyojanaṃ, sīlabbataparāmāsasaṃyojanaṃ, bhavarāgasaṃyojanaṃ, issāsaṃyojanaṃ, macchariyasaṃyojanaṃ, avijjāsaṃyojanaṃ. Sandālayitvāna saṃyojanānīti dasa saṃyojanāni dālayitvā sandālayitvā pajahitvā vinodetvā byantīkaritvā anabhāvaṃ gametvāti – sandālayitvāna saṃyojanāni.
"Having rent the fetters asunder": There are ten fetters: the fetter of sensual lust, the fetter of ill will, the fetter of conceit, the fetter of views, the fetter of doubt, the fetter of attachment to rules and observances, the fetter of lust for existence, the fetter of jealousy, the fetter of avarice, and the fetter of ignorance. "Having rent the fetters asunder" means having destroyed, utterly destroyed, abandoned, dispelled, made an end of, and brought to non-existence these ten fetters. Thus: "Having rent the fetters asunder."
“Sandālayitvāna saṃyojanānīti” (sau khi đã phá vỡ các kiết sử) có nghĩa là: Có mười kiết sử – kiết sử tham ái dục, kiết sử sân hận, kiết sử ngã mạn, kiết sử tà kiến, kiết sử hoài nghi, kiết sử giới cấm thủ, kiết sử tham ái hữu, kiết sử tật đố, kiết sử bỏn xẻn, kiết sử vô minh. “Sandālayitvāna saṃyojanānīti” (sau khi đã phá vỡ các kiết sử) có nghĩa là sau khi đã phá vỡ (dālayitvā), sau khi đã phá vỡ hoàn toàn (sandālayitvā), sau khi đã từ bỏ (pajahitvā), sau khi đã loại trừ (vinodetvā), sau khi đã làm cho chấm dứt (byantīkaritvā), sau khi đã làm cho không còn hiện hữu (anabhāvaṃ gametvā) mười loại kiết sử. – Như vậy là ý nghĩa của “sandālayitvāna saṃyojanāni”.
Jālaṃva bhetvā salilambucārīti jālaṃ vuccati suttajālaṃ. Salilaṃ vuccati udakaṃ. Ambucārī vuccati maccho. Yathā maccho jālaṃ bhinditvā pabhinditvā dālayitvā padālayitvā sampadālayitvā carati viharati iriyati vatteti pāleti yapeti yāpeti, evameva dve jālā – taṇhājālañca diṭṭhijālañca…pe… idaṃ taṇhājālaṃ…pe… idaṃ diṭṭhijālaṃ. Tassa paccekasambuddhassa taṇhājālaṃ pahīnaṃ, diṭṭhijālaṃ paṭinissaṭṭhaṃ. Taṇhājālassa pahīnattā diṭṭhijālassa paṭinissaṭṭhattā so paccekasambuddho rūpe na sajjati sadde na sajjati gandhe na sajjati…pe… diṭṭhasutamutaviññātabbesu dhammesu na sajjati na gaṇhāti na bajjhati na palibajjhati, nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – jālaṃva bhetvā salilambucārī.
Regarding 'Like a water-dweller having broken a net in the water': 'A net' is called a net of thread. 'Water' is called 'salila'. 'A water-dweller' is called a fish. Just as a fish, having broken, broken apart, rent, rent apart, and completely rent apart the net, moves about, dwells, comports itself, carries on, maintains itself, and lives on; even so, there are two nets: the net of craving and the net of views... This is the net of craving... This is the net of views. For that Paccekasambuddha, the net of craving has been abandoned, the net of views has been relinquished. Because the net of craving has been abandoned and the net of views has been relinquished, that Paccekasambuddha is not attached to forms, not attached to sounds, not attached to odors... he is not attached to, does not grasp, is not bound by, is not ensnared by things seen, heard, sensed, and cognized. He has departed, is detached, released, and dissociated, and dwells with a mind that is without boundaries. This is the meaning of 'like a water-dweller having broken a net in the water'.
“Jālaṃva bhetvā salilambucārīti” (như loài thủy tộc phá lưới) có nghĩa là: “Jālaṃ” (lưới) được gọi là lưới bằng chỉ. “Salilaṃ” (nước) được gọi là nước. “Ambucārī” (loài thủy tộc) được gọi là con cá. Giống như con cá sau khi phá (bhinditvā), phá tan (pabhinditvā), xé rách (dālayitvā), xé rách tan tành (padālayitvā), xé rách hoàn toàn (sampadālayitvā) tấm lưới rồi di chuyển, sống, đi lại, tồn tại, duy trì, bảo tồn, tiếp tục sống; tương tự như thế, có hai loại lưới – lưới ái và lưới tà kiến... (v.v.)... đây là lưới ái... (v.v.)... đây là lưới tà kiến. Đối với vị Phật Độc Giác ấy, lưới ái đã được đoạn tận, lưới tà kiến đã được từ bỏ. Do đã đoạn tận lưới ái, do đã từ bỏ lưới tà kiến, vị Phật Độc Giác ấy không bị dính mắc vào sắc, không bị dính mắc vào tiếng, không bị dính mắc vào hương... (v.v.)... không bị dính mắc, không nắm giữ, không bị trói buộc, không bị ràng buộc vào các pháp được thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức; vị ấy đã thoát ra, đã từ bỏ, đã giải thoát, đã không còn liên hệ, sống với tâm không còn giới hạn. – Như vậy là ý nghĩa của “jālaṃva bhetvā salilambucārī”.
Aggīva daḍḍhaṃ anivattamānoti yathā aggi tiṇakaṭṭhupādānaṃ dahanto gacchati anivattanto, evameva tassa paccekasambuddhassa sotāpattimaggena ye kilesā pahīnā te kilese na puneti na pacceti na paccāgacchati, sakadāgāmimaggena…pe… anāgāmimaggena… arahattamaggena ye kilesā pahīnā te kilese na puneti na pacceti na paccāgacchatīti – aggīva daḍḍhaṃ anivattamāno, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
Regarding 'Like a fire not turning back to what is burnt': Just as a fire, burning its fuel of grass and wood, goes forward without turning back, even so, that Paccekasambuddha does not return to, go back to, or come back to those defilements abandoned by the path of stream-entry. So too with the path of once-returning… the path of non-returning… and the path of arahantship: he does not return to, go back to, or come back to those defilements that have been abandoned. This is the meaning of 'like a fire not turning back to what is burnt'. One should wander alone like a rhinoceros horn. Therefore that Paccekasambuddha said:
“Aggīva daḍḍhaṃ anivattamānoti” (như lửa cháy không quay lại nơi đã cháy) có nghĩa là: Giống như ngọn lửa khi cháy nhiên liệu là cỏ và củi thì đi tới mà không quay trở lại, tương tự như thế, đối với vị Phật Độc Giác ấy, những phiền não nào đã được đoạn trừ bởi Tu-đà-hoàn đạo thì vị ấy không quay lại, không trở lại, không đi lui về các phiền não ấy; (tương tự) với Tư-đà-hàm đạo... (v.v.)... với A-na-hàm đạo... với A-la-hán đạo, những phiền não nào đã được đoạn trừ thì vị ấy không quay lại, không trở lại, không đi lui về các phiền não ấy. – Như vậy là ý nghĩa của “aggīva daḍḍhaṃ anivattamāno”, hãy sống một mình như sừng tê ngưu. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói:
‘‘Sandālayitvāna saṃyojanāni, jālaṃva bhetvā salilambucārī;
Aggīva daḍḍhaṃ anivattamāno, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“Having rent the fetters asunder, like a fish in the water breaking a net; like a fire not turning back to what it has burnt, one should wander alone like a rhinoceros horn.”
“Sau khi đã phá vỡ các kiết sử, như loài thủy tộc phá tung lưới; như lửa cháy không quay lại nơi đã cháy, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.”
149.
149.
149.
Okkhittacakkhu na ca pādalolo, guttindriyo rakkhitamānasāno;
Anavassuto apariḍayhamāno †, eko care khaggavisāṇakappo.
With eyes downcast and not foot-loose, with guarded senses, with protected mind; not subject to influxes, unscorched, one should wander alone like a rhinoceros horn.
“Với mắt nhìn xuống, không đi đứng lăng xăng, các căn được phòng hộ, tâm ý được bảo vệ; không bị lậu hoặc chi phối, không bị (sân hận) thiêu đốt, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.”
Okkhittacakkhu na ca pādaloloti kathaṃ khittacakkhu hoti? Idhekacco bhikkhu † cakkhulolo cakkhuloliyena samannāgato hoti. Adiṭṭhaṃ dakkhitabbaṃ diṭṭhaṃ samatikkamitabbanti – ārāmena ārāmaṃ uyyānena uyyānaṃ gāmena gāmaṃ nigamena nigamaṃ nagarena nagaraṃ raṭṭhena raṭṭhaṃ janapadena janapadaṃ dīghacārikaṃ anavaṭṭhitacārikaṃ † anuyutto hoti rūpadassanāya. Evaṃ khittacakkhu hoti.
How does one have scattered eyes? Here, a certain bhikkhu is possessed of restless eyes. Thinking, ‘What has not been seen should be seen; what has been seen should be passed beyond,’ he is devoted to long and unsettled wandering for the sake of seeing forms, going from park to park, from grove to grove, from village to village, from town to town, from city to city, from country to country, and from province to province. In this way, one has scattered eyes.
“Okkhittacakkhu na ca pādaloloti” (với mắt nhìn xuống, không đi đứng lăng xăng). Thế nào là “khittacakkhu” (mắt phóng dật)? Ở đây, có vị tỳ khưu có tính lăng xăng nơi mắt, có sự lăng xăng của mắt. Vị ấy chuyên tâm vào việc nhìn ngắm các sắc, với ý nghĩ rằng: “Cái chưa thấy thì nên thấy, cái đã thấy thì nên xem xét kỹ,” rồi đi từ tu viện này đến tu viện khác, từ khu vườn này đến khu vườn khác, từ làng này đến làng khác, từ thị trấn này đến thị trấn khác, từ thành phố này đến thành phố khác, từ xứ này đến xứ khác, từ vùng này đến vùng khác, đi lang thang xa, đi lang thang không ổn định. Như vậy là “khittacakkhu” (mắt phóng dật).
Atha vā, bhikkhu antaragharaṃ paviṭṭho vīthiṃ paṭipanno asaṃvuto gacchati. Hatthiṃ olokento assaṃ olokento rathaṃ olokento pattiṃ olokento kumārake olokento kumārikāyo olokento itthiyo olokento purise olokento antarāpaṇaṃ olokento gharamukhāni olokento uddhaṃ olokento adho olokento disāvidisaṃ vipekkhamāno † gacchati. Evampi khittacakkhu hoti.
Or, a bhikkhu, having entered a village and proceeding along a street, goes unrestrained. He goes along looking at elephants, looking at horses, looking at chariots, looking at foot-soldiers, looking at boys, looking at girls, looking at women, looking at men, looking into shops, looking at the fronts of houses, looking up, looking down, and gazing about in various directions. In this way, too, one has scattered eyes.
Hoặc nữa, vị tỳ khưu đi vào trong làng, đi trên đường phố mà không có sự thu thúc, đi trong khi nhìn ngắm voi, nhìn ngắm ngựa, nhìn ngắm xe, nhìn ngắm bộ binh, nhìn ngắm các bé trai, nhìn ngắm các bé gái, nhìn ngắm phụ nữ, nhìn ngắm đàn ông, nhìn ngắm hàng quán, nhìn ngắm cửa nhà, nhìn lên, nhìn xuống, nhìn ngang nhìn dọc. Như vậy cũng là “khittacakkhu” (mắt phóng dật).
Atha vā, bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā nimittaggāhī hoti anubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṃ cakkhundriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya na paṭipajjati, na rakkhati cakkhundriyaṃ, cakkhundriye na saṃvaraṃ āpajjati. Evampi khittacakkhu hoti.
Or, a bhikkhu, having seen a form with the eye, is one who grasps the signs and grasps the features. Insofar as he dwells with the eye faculty unrestrained, evil, unwholesome states of covetousness and displeasure would flow in. He does not practice for its restraint, he does not guard the eye faculty, he does not achieve restraint over the eye faculty. In this way, too, one has scattered eyes.
Hoặc nữa, vị tỳ khưu sau khi thấy sắc bằng mắt, liền nắm giữ tướng chung (nimittaggāhī), nắm giữ tướng riêng (anubyañjanaggāhī). Do vì nguyên nhân không phòng hộ nhãn căn này, trong khi vị ấy sống không phòng hộ, các pháp bất thiện ác độc là tham ái và ưu sầu có thể xâm chiếm. Vị ấy không thực hành sự phòng hộ nhãn căn, không bảo vệ nhãn căn, không đạt đến sự phòng hộ trong nhãn căn. Như vậy cũng là “khittacakkhu” (mắt phóng dật).
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṃ visūkadassanaṃ anuyuttā viharanti, seyyathidaṃ – naccaṃ gītaṃ vāditaṃ pekkhaṃ akkhānaṃ pāṇissaraṃ vetāḷaṃ kumbhathūṇaṃ sobhanakaṃ † caṇḍālaṃ vaṃsaṃ dhovanaṃ hatthiyuddhaṃ assayuddhaṃ mahiṃsayuddhaṃ † usabhayuddhaṃ ajayuddhaṃ meṇḍayuddhaṃ kukkuṭayuddhaṃ vaṭṭakayuddhaṃ daṇḍayuddhaṃ muṭṭhiyuddhaṃ nibbuddhaṃ uyyodhikaṃ balaggaṃ senābyūhaṃ anīkadassanaṃ iti vā. Iti evarūpaṃ visūkadassanaṃ anuyutto hoti. Evampi khittacakkhu hoti.
Furthermore, some venerable recluses and brahmins, having eaten food given in faith, dwell engaged in watching such shows that are a thorn in the dispensation, that is to say: dancing, singing, instrumental music, theatrical shows, reciting epics, playing cymbals, playing percussion with bowls, playing the pot-drum, graceful performances, feats with palm leaves, snake charming, bone-washing rituals, elephant fights, horse fights, buffalo fights, bull fights, goat fights, ram fights, cock fights, quail fights, stick-fighting, boxing, wrestling, sham fights, troop musters, battle formations, and watching parades of elephantry and cavalry. Thus, one is engaged in watching such shows that are a thorn. In this way, too, one has a scattered eye.
Hoặc nữa, giống như một số sa-môn, bà-la-môn sau khi dùng các vật thực do tín thí cúng dường, lại sống chuyên tâm vào các loại trình diễn không thích hợp như sau: nhảy múa, ca hát, âm nhạc, xem kịch, kể chuyện, vỗ tay, múa rối, đánh trống, biểu diễn nghệ thuật, trò chơi của người hạ tiện, trò chơi ống tre, trò rửa xương, đấu voi, đấu ngựa, đấu trâu, đấu bò, đấu dê, đấu cừu, đấu gà, đấu cút, đấu gậy, đấu quyền, đấu vật, duyệt binh, tập hợp quân đội, dàn trận, xem các đạo quân. Vị ấy chuyên tâm vào các loại trình diễn không thích hợp như vậy. Như vậy cũng là “khittacakkhu” (mắt phóng dật).
Kathaṃ okkhittacakkhu hoti? Idhekacco bhikkhu na cakkhulolo na cakkhuloliyena samannāgato hoti. Adiṭṭhaṃ dakkhitabbaṃ diṭṭhaṃ samatikkamitabbanti – na ārāmena ārāmaṃ na uyyānena uyyānaṃ na gāmena gāmaṃ na nigamena nigamaṃ na nagarena nagaraṃ na raṭṭhena raṭṭhaṃ na janapadena janapadaṃ dīghacārikaṃ anavaṭṭhitacārikaṃ anuyutto hoti rūpadassanāya. Evaṃ okkhittacakkhu hoti.
How does one have downcast eyes? Here, a bhikkhu is not restless with his eyes, not possessed of restlessness of eye. Thinking, ‘What is unseen should be seen, and what is seen should be surpassed,’ he is not engaged in long and unsettled wandering for the sake of seeing sights, going from park to park, from grove to grove, from village to village, from market town to market town, from country to country, or from province to province. In this way, one has downcast eyes.
Thế nào là “okkhittacakkhu” (mắt nhìn xuống)? Ở đây, có vị tỳ khưu không có tính lăng xăng nơi mắt, không có sự lăng xăng của mắt. Vị ấy không chuyên tâm vào việc nhìn ngắm các sắc, với ý nghĩ rằng: “Cái chưa thấy thì nên thấy, cái đã thấy thì nên xem xét kỹ,” và không đi từ tu viện này đến tu viện khác, không đi từ khu vườn này đến khu vườn khác, không đi từ làng này đến làng khác, không đi từ thị trấn này đến thị trấn khác, không đi từ thành phố này đến thành phố khác, không đi từ xứ này đến xứ khác, không đi từ vùng này đến vùng khác, đi lang thang xa, đi lang thang không ổn định. Như vậy là “okkhittacakkhu” (mắt nhìn xuống).
Atha vā, bhikkhu antaragharaṃ paviṭṭho vīthiṃ paṭipanno saṃvuto gacchati. Na hatthiṃ olokento na assaṃ olokento na rathaṃ olokento na pattiṃ olokento na kumārake olokento na kumārikāyo olokento na itthiyo olokento na purise olokento na antarāpaṇaṃ olokento na gharamukhāni olokento na uddhaṃ olokento na adho olokento na disāvidisaṃ vipekkhamāno gacchati. Evampi okkhittacakkhu hoti.
Alternatively, a bhikkhu who has entered a village and is proceeding along a street goes restrainedly. He goes along not looking at elephants, not looking at horses, not looking at chariots, not looking at foot-soldiers, not looking at boys, not looking at girls, not looking at women, not looking at men, not looking into shops, not looking at house fronts, not looking up, not looking down, and not gazing about hither and thither. In this way, too, one has downcast eyes.
Hoặc nữa, vị tỳ khưu đi vào trong làng, đi trên đường phố, đi một cách có thu thúc. Vị ấy đi không nhìn ngó voi, không nhìn ngó ngựa, không nhìn ngó xe, không nhìn ngó người đi bộ, không nhìn ngó các bé trai, không nhìn ngó các bé gái, không nhìn ngó các người nữ, không nhìn ngó các người nam, không nhìn ngó hàng quán, không nhìn ngó các cửa nhà, không nhìn lên, không nhìn xuống, không nhìn ngó các phương và các hướng phụ. Như vậy cũng là người có mắt nhìn xuống.
Atha vā, bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṃ cakkhundriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṃ, cakkhundriye saṃvaraṃ āpajjati. Evampi okkhittacakkhu hoti.
Or, a bhikkhu, having seen a form with the eye, is not one who grasps the signs, nor one who grasps the features. Inasmuch as, if he were to dwell with the eye-faculty unrestrained, evil, unwholesome states of covetousness and displeasure might assail him, he practices for its restraint, he guards the eye-faculty, he undertakes the restraint of the eye-faculty. In this way, too, he has downcast eyes.
Hoặc nữa, vị tỳ khưu sau khi thấy sắc bằng mắt thì không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân duyên nào mà nếu vị ấy sống không thu thúc nhãn căn thì các pháp ác, bất thiện là tham ái và ưu phiền sẽ xâm chiếm, vị ấy thực hành để thu thúc nhãn căn ấy, phòng hộ nhãn căn, đạt đến sự thu thúc trong nhãn căn. Như vậy cũng là người có mắt nhìn xuống.
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṃ visūkadassanaṃ anuyuttā viharanti, seyyathidaṃ – naccaṃ gītaṃ vāditaṃ…pe… anīkadassanaṃ iti vā. Iti evarūpā visūkadassanā paṭivirato. Evampi okkhittacakkhu hoti.
Furthermore, whereas some venerable recluses and brahmins, having eaten food given in faith, dwell engaged in watching such distracting spectacles, namely: dancing, singing, instrumental music... the viewing of armies, and so on; he is one who abstains from such distracting spectacles. In this way, too, he has downcast eyes.
Hoặc nữa, giống như một số vị sa-môn, bà-la-môn sau khi dùng các vật thực được dâng cúng bằng đức tin lại sống chuyên tâm vào các hình thức xem diễn như thế này, ví như: xem múa, xem hát, xem nhạc... cho đến... xem duyệt binh. Vị ấy từ bỏ các hình thức xem diễn như vậy. Như vậy cũng là người có mắt nhìn xuống.
Na ca pādaloloti kathaṃ pādalolo hoti? Idhekacco bhikkhu pādalolo pādaloliyena samannāgato hoti – ārāmena ārāmaṃ uyyānena uyyānaṃ gāmena gāmaṃ nigamena nigamaṃ nagarena nagaraṃ raṭṭhena raṭṭhaṃ janapadena janapadaṃ dīghacārikaṃ anavaṭṭhitacārikaṃ anuyutto hoti. Evampi pādalolo hoti.
And as to 'not foot-loose': how is one foot-loose? Here, a certain bhikkhu is foot-loose, possessed of foot-looseness; he is devoted to long and unsettled wandering, going from park to park, from grove to grove, from village to village, from town to town, from city to city, from country to country, from province to province. In this way, he is foot-loose.
Và không có chân đi lăng xăng (na ca pādalolo) nghĩa là gì? Thế nào là người có chân đi lăng xăng? Ở đây, có tỳ khưu nọ có chân đi lăng xăng, có tính đi lăng xăng: vị ấy đi từ khu vườn này đến khu vườn khác, từ công viên này đến công viên khác, từ làng này đến làng khác, từ thị trấn này đến thị trấn khác, từ thành phố này đến thành phố khác, từ xứ này đến xứ khác, từ vùng này đến vùng khác; vị ấy chuyên tâm vào việc đi lang thang đường dài, đi lang thang không định hướng. Như vậy là người có chân đi lăng xăng.
Atha vā, bhikkhu antosaṅghārāme † pādalolo pādaloliyena samannāgato hoti, na atthahetu na kāraṇahetu uddhato avūpasantacitto pariveṇato pariveṇaṃ gacchati, vihārato vihāraṃ gacchati, aḍḍhayogato aḍḍhayogaṃ gacchati, pāsādato pāsādaṃ gacchati, hammiyato hammiyaṃ gacchati, guhato guhaṃ gacchati, leṇato leṇaṃ gacchati, kuṭiyā kuṭiṃ gacchati, kūṭāgārato kūṭāgāraṃ gacchati, aṭṭato aṭṭaṃ gacchati, māḷato māḷaṃ gacchati, uddaṇḍato uddaṇḍaṃ gacchati †, upaṭṭhānasālato upaṭṭhānasālaṃ gacchati, maṇḍapato maṇḍapaṃ gacchati, rukkhamūlato rukkhamūlaṃ gacchati, yattha vā pana bhikkhū nisīdanti vā gacchanti vā, tattha ekassa vā dutiyo hoti, dvinnaṃ vā tatiyo hoti, tiṇṇaṃ vā catuttho hoti. Tattha bahuṃ samphappalāpaṃ palapati, seyyathidaṃ – rājakathaṃ corakathaṃ…pe… iti bhavābhavakathaṃ katheti. Evampi pādalolo hoti.
Or, a bhikkhu within the monastery is foot-loose, possessed of foot-looseness. Without any purpose or reason, with an agitated and uncalmed mind, he goes from enclosure to enclosure, from monastery to monastery, from single-gabled dwelling to single-gabled dwelling, from storied building to storied building, from turreted mansion to turreted mansion, from cave to cave, from rock-shelter to rock-shelter, from hut to hut, from gabled chamber to gabled chamber, from watchtower to watchtower, from terrace to terrace, from firewood-and-water stand to firewood-and-water stand, from service hall to service hall, from pavilion to pavilion, and from the root of one tree to another. Wherever bhikkhus are sitting or walking, he becomes a second to one, a third to two, or a fourth to three. There he utters much aimless talk, such as: talk about kings, talk about thieves… and so on… he speaks talk about being and non-being. In this way, too, one is foot-loose.
Hoặc nữa, vị tỳ khưu ở trong khuôn viên của tu viện có chân đi lăng xăng, có tính đi lăng xăng; không vì mục đích, không vì lý do, với tâm trạo cử, không an tịnh, vị ấy đi từ khu nhà này đến khu nhà khác, đi từ tịnh xá này đến tịnh xá khác, đi từ nhà một mái này đến nhà một mái khác, đi từ lầu đài này đến lầu đài khác, đi từ nhà có gác thượng này đến nhà có gác thượng khác, đi từ hang động này đến hang động khác, đi từ sơn động này đến sơn động khác, đi từ cốc này đến cốc khác, đi từ nhà có nóc nhọn này đến nhà có nóc nhọn khác, đi từ đài quan sát này đến đài quan sát khác, đi từ sảnh đường này đến sảnh đường khác, đi từ nhà kho này đến nhà kho khác, đi từ nhà hội họp này đến nhà hội họp khác, đi từ nhà tròn này đến nhà tròn khác, đi từ gốc cây này đến gốc cây khác. Hoặc ở nơi nào các vị tỳ khưu đang ngồi hay đang đi, vị ấy đến làm người thứ hai cho một người, làm người thứ ba cho hai người, hay làm người thứ tư cho ba người. Ở đó, vị ấy nói nhiều chuyện vô ích, ví như: chuyện về vua, chuyện về trộm cướp... cho đến... nói chuyện về sự hiện hữu và không hiện hữu. Như vậy cũng là người có chân đi lăng xăng.
Na ca pādaloloti so paccekasambuddho pādaloliyā ārato virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā paṭisallānārāmo hoti paṭisallānarato ajjhattaṃ cetosamathamanuyutto anirākatajjhāno vipassanāya samannāgato brūhetā suññāgāraṃ jhāyī jhānarato ekattamanuyutto sadatthagarukoti – okkhittacakkhu na ca pādalolo.
And not foot-loose: That Paccekasambuddha has abstained, refrained, and desisted from foot-looseness; he has departed from it, is detached from it, released from it, disjoined from it. He dwells with a boundless mind, finding his delight in seclusion, fond of seclusion, devoted to the internal serenity of mind, not neglecting jhāna, endowed with insight, a cultivator of empty dwellings, a jhāyin delighting in jhāna, devoted to solitude, and regarding his own true good as the matter of first importance. Thus: ‘With eyes downcast and not foot-loose.’
‘Và không có chân đi lăng xăng’ (na ca pādalolo) có nghĩa là: Vị Độc Giác Phật ấy đã xa lìa, từ bỏ, tránh xa sự lăng xăng; đã thoát ra, đã từ bỏ, đã giải thoát, đã không còn liên hệ với tâm không có giới hạn. Vị ấy là người thích sống độc cư, ưa thích độc cư, chuyên tâm vào sự an tịnh nội tâm, không loại bỏ thiền, có đầy đủ tuệ quán, là người làm tăng trưởng các trú xứ thanh vắng, là người hành thiền, ưa thích thiền, chuyên tâm vào sự độc cư, xem trọng lợi ích của bản thân. Đây là ý nghĩa của ‘mắt nhìn xuống và không có chân đi lăng xăng’.
Guttindriyo rakkhitamānasānoti. Guttindriyoti so paccekasambuddho cakkhunā rūpaṃ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṃ cakkhundriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṃ, cakkhundriye saṃvaraṃ āpajjati. Sotena saddaṃ sutvā…pe… ghānena gandhaṃ ghāyitvā… jivhāya rasaṃ sāyitvā… kāyena phoṭṭhabbaṃ phusitvā … manasā dhammaṃ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṃ manindriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya paṭipajjati, rakkhati manindriyaṃ, manindriye saṃvaraṃ āpajjatīti – guttindriyo. Rakkhitamānasānoti gopitamānasānoti – guttindriyo rakkhitamānasāno.
With guarded senses and a protected mind: 'With guarded senses' means that that Paccekasambuddha, having seen a form with the eye, is not one who grasps its signs or its features. Because, if he were to dwell with the eye faculty unrestrained, evil, unwholesome states of covetousness and displeasure might assail him, he practices for its restraint, guards the eye faculty, and undertakes the restraint of the eye faculty. Having heard a sound with the ear… having smelled an odor with the nose… having tasted a flavor with the tongue… having felt a tangible object with the body… having cognized a mental phenomenon with the mind, he is not one who grasps its signs or its features. Because, if he were to dwell with the mind faculty unrestrained, evil, unwholesome states of covetousness and displeasure might assail him, he practices for its restraint, guards the mind faculty, and undertakes the restraint of the mind faculty. Thus he is one with guarded senses. 'With a protected mind' means with a guarded mind. Thus: 'with guarded senses and a protected mind.'
‘Các căn được phòng hộ, ý được bảo vệ’ (Guttindriyo rakkhitamānasāno). ‘Các căn được phòng hộ’ (Guttindriyo) có nghĩa là: Vị Độc Giác Phật ấy sau khi thấy sắc bằng mắt thì không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân duyên nào mà nếu vị ấy sống không thu thúc nhãn căn thì các pháp ác, bất thiện là tham ái và ưu phiền sẽ xâm chiếm, vị ấy thực hành để thu thúc nhãn căn ấy, phòng hộ nhãn căn, đạt đến sự thu thúc trong nhãn căn. Sau khi nghe tiếng bằng tai... cho đến... sau khi ngửi hương bằng mũi... sau khi nếm vị bằng lưỡi... sau khi cảm nhận xúc bằng thân... sau khi biết pháp bằng ý thì không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân duyên nào mà nếu vị ấy sống không thu thúc ý căn thì các pháp ác, bất thiện là tham ái và ưu phiền sẽ xâm chiếm, vị ấy thực hành để thu thúc ý căn ấy, phòng hộ ý căn, đạt đến sự thu thúc trong ý căn. Như vậy là ‘các căn được phòng hộ’. ‘Ý được bảo vệ’ (Rakkhitamānasāno) có nghĩa là ý được che chở. Như vậy là ‘các căn được phòng hộ, ý được bảo vệ’.
Anavassuto pariḍayhamānoti vuttañhetaṃ āyasmatā mahāmoggallānena – ‘‘avassutapariyāyañca † vo, āvuso, desessāmi anavassutapariyāyañca. Taṃ suṇātha, sādhukaṃ manasikarotha; bhāsissāmī’’ti. ‘‘Evamāvuso’’ti kho te bhikkhū āyasmato mahāmoggallānassa paccassosuṃ. Āyasmā mahāmoggallāno † etadavoca –
Undefiled and unscorched: This was said by the Venerable Mahāmoggallāna: “Friends, I will teach you the discourse on being defiled and the discourse on being undefiled. Listen to it and attend closely; I will speak.” “Yes, friend,” those bhikkhus replied in assent to the Venerable Mahāmoggallāna. The Venerable Mahāmoggallāna said this:
‘Không bị rò rỉ, không bị thiêu đốt’ (Anavassuto pariḍayhamāno) có nghĩa là: Điều này đã được Tôn giả Mahāmoggallāna nói: ‘Này các hiền giả, tôi sẽ giảng cho các vị về pháp môn bị rò rỉ và pháp môn không bị rò rỉ. Các vị hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý; tôi sẽ nói.’ Các vị tỳ khưu ấy đã vâng đáp Tôn giả Mahāmoggallāna: ‘Vâng, thưa hiền giả.’ Tôn giả Mahāmoggallāna đã nói điều này: –
‘‘Kathaṃ cāvuso, avassuto hoti? Idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā piyarūpe rūpe adhimuccati, appiyarūpe rūpe byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati † ca viharati parittacetaso. Tañca cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ nappajānāti, yatthassa † te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti. Sotena saddaṃ sutvā…pe… manasā dhammaṃ viññāya piyarūpe dhamme adhimuccati, appiyarūpe dhamme byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati ca viharati parittacetaso. Tañca cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ nappajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti. Ayaṃ vuccatāvuso, bhikkhu avassuto cakkhuviññeyyesu rūpesu…pe… avassuto manoviññeyyesu dhammesu. Evaṃvihāriṃ cāvuso, bhikkhuṃ cakkhuto cepi naṃ māro upasaṅkamati, labhetheva † māro otāraṃ labhetha † māro ārammaṇaṃ, sotato cepi naṃ…pe… manato cepi naṃ māro upasaṅkamati, labhetheva māro otāraṃ labhetha māro ārammaṇaṃ.
“And how, friends, is one defiled by taints? Here, friends, a bhikkhu, having seen a form with the eye, is intent upon a pleasing form and becomes hostile toward a displeasing form. He dwells with mindfulness of the body unestablished, with a limited mind. And he does not distinctly know as it truly is that liberation of mind, that liberation by wisdom, wherein those arisen evil, unwholesome states cease without remainder. Having heard a sound with the ear…pe… having cognized a mental object with the mind, he is intent upon a pleasing mental object and becomes hostile toward a displeasing mental object. He dwells with mindfulness of the body unestablished, with a limited mind. And he does not distinctly know as it truly is that liberation of mind, that liberation by wisdom, wherein those arisen evil, unwholesome states cease without remainder. This, friends, is called a bhikkhu who is defiled by taints in regard to forms cognizable by the eye…pe… defiled by taints in regard to mental objects cognizable by the mind. When a bhikkhu dwells in this way, friends, if Māra approaches him through the eye, Māra indeed gains an opening, Māra gains a footing. If Māra approaches him through the ear…pe… through the mind, Māra indeed gains an opening, Māra gains a footing.”
Này chư hiền, thế nào là bị rò rỉ? Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu sau khi dùng mắt thấy sắc, liền thiên về sắc khả ái, sân hận đối với sắc không khả ái, trú với thân niệm không được an lập, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác bất thiện đã sanh khởi của vị ấy được đoạn diệt không còn dư sót. Sau khi dùng tai nghe tiếng... ... Sau khi dùng ý biết pháp, liền thiên về pháp khả ái, sân hận đối với pháp không khả ái, trú với thân niệm không được an lập, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác bất thiện đã sanh khởi của vị ấy được đoạn diệt không còn dư sót. Này chư hiền, đây được gọi là vị tỳ khưu bị rò rỉ đối với các sắc được nhận biết bởi mắt... ... bị rò rỉ đối với các pháp được nhận biết bởi ý. Này chư hiền, đối với vị tỳ khưu trú như vậy, nếu ma đi đến từ phía mắt, ma chắc chắn có được cơ hội, ma có được đối tượng, nếu từ phía tai... ... nếu ma đi đến từ phía ý, ma chắc chắn có được cơ hội, ma có được đối tượng.
‘‘Seyyathāpi, āvuso, naḷāgāraṃ vā tiṇāgāraṃ vā sukkhaṃ koḷāpaṃ † terovassikaṃ. Puratthimāya cepi naṃ disāya puriso ādittāya tiṇukkāya upasaṅkameyya, labhetheva aggi otāraṃ labhetha aggi ārammaṇaṃ; pacchimāya cepi naṃ disāya…pe… uttarāya cepi naṃ disāya… dakkhiṇāya cepi naṃ disāya… heṭṭhimato † cepi naṃ disāya… uparimato † cepi naṃ disāya… yato kutoci cepi naṃ puriso ādittāya tiṇukkāya upasaṅkameyya, labhetheva aggi otāraṃ labhetha aggi ārammaṇaṃ. Evameva kho, āvuso, evaṃvihāriṃ bhikkhuṃ cakkhuto cepi naṃ māro upasaṅkamati, labhetheva māro otāraṃ labhetha māro ārammaṇaṃ, sotato cepi naṃ…pe… manato cepi naṃ māro upasaṅkamati, labhetheva māro otāraṃ labhetha māro ārammaṇaṃ.
Just as, friends, if there were a reed hut or a grass hut that is dry, brittle, and several years old, and a man were to approach it from the east with a blazing grass torch, the fire would surely find an opening, the fire would find a support. If he were to approach it from the west… from the north… from the south… from below… from above… from any direction whatsoever with a blazing grass torch, the fire would surely find an opening, the fire would find a support. So too, friends, when a bhikkhu dwells in this way, if Māra approaches him through the eye, Māra will surely find an opening, Māra will find a support. If through the ear… if through the mind Māra approaches him, Māra will surely find an opening, Māra will find a support.”
Này chư hiền, ví như một ngôi nhà lợp bằng sậy hoặc một ngôi nhà lợp bằng cỏ, khô, úa, cũ kỹ. Nếu một người đàn ông đi đến từ phương đông với một bó đuốc cỏ đang cháy, lửa chắc chắn có được cơ hội, lửa có được nhiên liệu; nếu từ phương tây... ... nếu từ phương bắc... nếu từ phương nam... nếu từ phía dưới... nếu từ phía trên... nếu một người đàn ông đi đến từ bất cứ hướng nào với một bó đuốc cỏ đang cháy, lửa chắc chắn có được cơ hội, lửa có được nhiên liệu. Cũng vậy, này chư hiền, đối với vị tỳ khưu trú như vậy, nếu ma đi đến từ phía mắt, ma chắc chắn có được cơ hội, ma có được đối tượng, nếu từ phía tai... ... nếu ma đi đến từ phía ý, ma chắc chắn có được cơ hội, ma có được đối tượng.
‘‘Evaṃvihāriṃ cāvuso, bhikkhuṃ rūpā adhibhaṃsu †, na bhikkhu rūpe adhibhosi; saddā bhikkhuṃ adhibhaṃsu, na bhikkhu sadde adhibhosi; gandhā bhikkhuṃ adhibhaṃsu, na bhikkhu gandhe adhibhosi; rasā bhikkhuṃ adhibhaṃsu, na bhikkhu rase adhibhosi; phoṭṭhabbā bhikkhuṃ adhibhaṃsu, na bhikkhu phoṭṭhabbe adhibhosi; dhammā bhikkhuṃ adhibhaṃsu, na bhikkhu dhamme adhibhosi. Ayaṃ vuccatāvuso, bhikkhu rūpādhibhūto saddādhibhūto gandhādhibhūto rasādhibhūto phoṭṭhabbādhibhūto dhammādhibhūto adhibhū anadhibhūto adhibhaṃsu naṃ pāpakā akusalā dhammā saṃkilesikā ponobhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṃ jātijarāmaraṇiyā. Evaṃ kho, āvuso, avassuto hoti.
Friends, when a bhikkhu dwells in this way, forms overcome him; the bhikkhu does not overcome forms. Sounds overcome him; the bhikkhu does not overcome sounds. Odors overcome him; the bhikkhu does not overcome odors. Tastes overcome him; the bhikkhu does not overcome tastes. Tangibles overcome him; the bhikkhu does not overcome tangibles. Mental phenomena overcome him; the bhikkhu does not overcome mental phenomena. This, friends, is called a bhikkhu who is overcome by forms, by sounds, by odors, by tastes, by tangibles, and by mental phenomena—one who is overcome, not one who overcomes. Those evil, unwholesome states that are defiling, lead to renewed existence, are fraught with vexation, result in suffering, and pertain to future birth, aging, and death overcome him. Thus, friends, one is leaky.
Này chư hiền, đối với vị tỳ khưu trú như vậy, các sắc đã chế ngự vị ấy, chứ vị tỳ khưu không chế ngự các sắc; các tiếng đã chế ngự vị tỳ khưu, chứ vị tỳ khưu không chế ngự các tiếng; các mùi đã chế ngự vị tỳ khưu, chứ vị tỳ khưu không chế ngự các mùi; các vị đã chế ngự vị tỳ khưu, chứ vị tỳ khưu không chế ngự các vị; các vật xúc chạm đã chế ngự vị tỳ khưu, chứ vị tỳ khưu không chế ngự các vật xúc chạm; các pháp đã chế ngự vị tỳ khưu, chứ vị tỳ khưu không chế ngự các pháp. Này chư hiền, đây được gọi là vị tỳ khưu bị sắc chế ngự, bị tiếng chế ngự, bị mùi chế ngự, bị vị chế ngự, bị vật xúc chạm chế ngự, bị pháp chế ngự, bị chế ngự chứ không chế ngự, các pháp ác bất thiện, gây ô nhiễm, đưa đến tái sanh, có phiền muộn, có quả khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai đã chế ngự vị ấy. Này chư hiền, như vậy là bị rò rỉ.
‘‘Kathaṃ cāvuso, anavassuto hoti? Idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā piyarūpe rūpe nādhimuccati, appiyarūpe rūpe na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso. Tañca cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ pajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti; sotena saddaṃ sutvā…pe… manasā dhammaṃ viññāya piyarūpe dhamme nādhimuccati, appiyarūpe dhamme na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso. Tañca cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ pajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti. Ayaṃ vuccatāvuso, bhikkhu anavassuto cakkhuviññeyyesu rūpesu…pe… anavassuto manoviññeyyesu dhammesu. Evaṃvihāriṃ cāvuso, bhikkhuṃ cakkhuto cepi naṃ māro upasaṅkamati, neva labhetha māro otāraṃ, na labhetha māro ārammaṇaṃ; sotato cepi naṃ…pe… manato cepi naṃ māro upasaṅkamati, neva labhetha māro otāraṃ, na labhetha māro ārammaṇaṃ.
“And how, friends, is one unsullied? Here, friends, a bhikkhu, having seen a form with the eye, is not intent upon a pleasing form and is not averse to a displeasing form. He dwells with mindfulness of the body established, with an immeasurable mind. And he understands as it really is that liberation of mind, that liberation by wisdom, wherein those arisen evil, unwholesome states of his cease without remainder. Having heard a sound with the ear… and so on… having cognized a mental phenomenon with the mind, he is not intent upon a pleasing mental phenomenon and is not averse to a displeasing mental phenomenon. He dwells with mindfulness of the body established, with an immeasurable mind. And he understands as it really is that liberation of mind, that liberation by wisdom, wherein those arisen evil, unwholesome states of his cease without remainder. This, friends, is called a bhikkhu who is unsullied in regard to forms cognizable by the eye… and so on… unsullied in regard to mental phenomena cognizable by the mind. When a bhikkhu dwells in this way, friends, if Māra approaches him through the eye, Māra would not gain an opening, Māra would not gain a footing. If Māra approaches him through the ear… and so on… through the mind, Māra would not gain an opening, Māra would not gain a footing.”
Này chư hiền, thế nào là không bị rò rỉ? Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu sau khi dùng mắt thấy sắc, không thiên về sắc khả ái, không sân hận đối với sắc không khả ái, trú với thân niệm được an lập, với tâm vô lượng. Vị ấy biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác bất thiện đã sanh khởi của vị ấy được đoạn diệt không còn dư sót; sau khi dùng tai nghe tiếng... ... sau khi dùng ý biết pháp, không thiên về pháp khả ái, không sân hận đối với pháp không khả ái, trú với thân niệm được an lập, với tâm vô lượng. Vị ấy biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà các pháp ác bất thiện đã sanh khởi của vị ấy được đoạn diệt không còn dư sót. Này chư hiền, đây được gọi là vị tỳ khưu không bị rò rỉ đối với các sắc được nhận biết bởi mắt... ... không bị rò rỉ đối với các pháp được nhận biết bởi ý. Này chư hiền, đối với vị tỳ khưu trú như vậy, nếu ma đi đến từ phía mắt, ma không có được cơ hội, ma không có được đối tượng; nếu từ phía tai... ... nếu ma đi đến từ phía ý, ma không có được cơ hội, ma không có được đối tượng.
‘‘Seyyathāpi, āvuso, kūṭāgārā vā kūṭāgārasālā † vā bahalamattikā addāvalepanā † puratthimāya cepi naṃ disāya puriso ādittāya tiṇukkāya upasaṅkameyya, neva labhetha aggi otāraṃ, na labhetha aggi ārammaṇaṃ; pacchimāya cepi naṃ disāya… uttarāya cepi naṃ disāya… dakkhiṇāya cepi naṃ disāya… heṭṭhimato cepi naṃ disāya… uparimato cepi naṃ disāya… yato kutoci cepi naṃ puriso ādittāya tiṇukkāya upasaṅkameyya, neva labhetha aggi otāraṃ na labhetha aggi ārammaṇaṃ. Evameva kho, āvuso, evaṃvihāriṃ bhikkhuṃ cakkhuto cepi naṃ māro upasaṅkamati, neva labhetha māro otāraṃ na labhetha māro ārammaṇaṃ; sotato cepi naṃ…pe… manato cepi naṃ māro upasaṅkamati neva labhetha māro otāraṃ na labhetha māro ārammaṇaṃ.
“Suppose, friends, there were a gabled house or a gabled hall with a thick coating of clay and freshly smeared plaster. If a man were to approach it from the east with a burning grass torch, the fire would not gain an opening, would not gain a footing. If he were to approach it from the west… from the north… from the south… from below… from above… if from any direction a man were to approach it with a burning grass torch, the fire would not gain an opening, would not gain a footing. So too, friends, when a bhikkhu dwells in this way, if Māra approaches him through the eye, Māra does not gain an opening, does not gain a footing; if through the ear… if through the mind Māra approaches him, Māra does not gain an opening, does not gain a footing.”
Này chư hiền, ví như một ngôi nhà có mái nhọn hoặc một sảnh đường có mái nhọn, được trát lớp đất sét dày, còn tươi mới. Nếu một người đàn ông đi đến từ phương đông với một bó đuốc cỏ đang cháy, lửa không có được cơ hội, lửa không có được nhiên liệu; nếu từ phương tây... nếu từ phương bắc... nếu từ phương nam... nếu từ phía dưới... nếu từ phía trên... nếu một người đàn ông đi đến từ bất cứ hướng nào với một bó đuốc cỏ đang cháy, lửa không có được cơ hội, lửa không có được nhiên liệu. Cũng vậy, này chư hiền, đối với vị tỳ khưu trú như vậy, nếu ma đi đến từ phía mắt, ma không có được cơ hội, ma không có được đối tượng; nếu từ phía tai... ... nếu ma đi đến từ phía ý, ma không có được cơ hội, ma không có được đối tượng.
‘‘Evaṃvihārī cāvuso, bhikkhu rūpe adhibhosi †, na rūpā bhikkhuṃ adhibhaṃsu; sadde bhikkhu adhibhosi, na saddā bhikkhuṃ adhibhaṃsu; gandhe bhikkhu adhibhosi, na gandhā bhikkhuṃ adhibhaṃsu; rase bhikkhu adhibhosi, na rasā bhikkhuṃ adhibhaṃsu; phoṭṭhabbe bhikkhu adhibhosi, na phoṭṭhabbā bhikkhuṃ adhibhaṃsu; dhamme bhikkhu adhibhosi, na dhammā bhikkhuṃ adhibhaṃsu. Ayaṃ vuccatāvuso, bhikkhu rūpādhibhū saddādhibhū gandhādhibhū rasādhibhū phoṭṭhabbādhibhū dhammādhibhū adhibhū anadhibhūto †. Adhibhosi te pāpake akusale dhamme saṃkilesike ponobhavike sadare dukkhavipāke āyatiṃ jātijarāmaraṇiye. Evaṃ kho, āvuso, anavassuto hotī’’ti – anavassuto.
“Friends, a bhikkhu who dwells in this way overcomes forms; forms do not overcome the bhikkhu. The bhikkhu overcomes sounds; sounds do not overcome the bhikkhu. The bhikkhu overcomes odors; odors do not overcome the bhikkhu. The bhikkhu overcomes tastes; tastes do not overcome the bhikkhu. The bhikkhu overcomes tangibles; tangibles do not overcome the bhikkhu. The bhikkhu overcomes mental phenomena; mental phenomena do not overcome the bhikkhu. This, friends, is called a bhikkhu who is an overcomer of forms, an overcomer of sounds, an overcomer of odors, an overcomer of tastes, an overcomer of tangibles, an overcomer of mental phenomena—an overcomer, not one who is overcome. He has overcome those evil, unwholesome states that are defiling, that lead to renewed existence, that are accompanied by distress, that result in suffering, and that are for future birth, aging, and death. This, friends, is how one is not drenched by defilements. —Not drenched.”
“Này chư hiền, vị tỳ khưu có lối sống như vậy đã chế ngự được các sắc, và các sắc đã không chế ngự được vị tỳ khưu; vị tỳ khưu đã chế ngự được các thanh, và các thanh đã không chế ngự được vị tỳ khưu; vị tỳ khưu đã chế ngự được các hương, và các hương đã không chế ngự được vị tỳ khưu; vị tỳ khưu đã chế ngự được các vị, và các vị đã không chế ngự được vị tỳ khưu; vị tỳ khưu đã chế ngự được các xúc, và các xúc đã không chế ngự được vị tỳ khưu; vị tỳ khưu đã chế ngự được các pháp, và các pháp đã không chế ngự được vị tỳ khưu. Này chư hiền, vị tỳ khưu này được gọi là người chế ngự sắc, người chế ngự thanh, người chế ngự hương, người chế ngự vị, người chế ngự xúc, người chế ngự pháp, là người chế ngự, không bị chế ngự. Vị ấy đã chế ngự các pháp ác bất thiện ấy, là những pháp gây ô nhiễm, đưa đến tái sanh, có phiền não, có quả khổ, dẫn đến sanh, già, chết trong tương lai. Này chư hiền, như vậy là không bị thấm ướt.” – đây là (ý nghĩa của) không bị thấm ướt.
Apariḍayhamānoti rāgajena pariḷāhena apariḍayhamāno, dosajena pariḷāhena apariḍayhamāno, mohajena pariḷāhena apariḍayhamānoti – anavassuto apariḍayhamāno, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
‘Not being consumed by fever’ means not being consumed by the fever born of lust, not being consumed by the fever born of hatred, not being consumed by the fever born of delusion. Thus, not leaky, not being consumed by fever, one should wander alone like a rhinoceros horn. Therefore, that Paccekasambuddha said:
Không bị thiêu đốt là: không bị thiêu đốt bởi sự nóng nảy sanh từ tham, không bị thiêu đốt bởi sự nóng nảy sanh từ sân, không bị thiêu đốt bởi sự nóng nảy sanh từ si. – (Như vậy là) không bị thấm ướt, không bị thiêu đốt, hãy sống một mình như sừng tê ngưu. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
‘‘Okkhittacakkhu na ca pādalolo, guttindriyo rakkhitamānasāno;
Anavassuto apariḍayhamāno, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“With eyes cast down, and not restless with one's feet, with senses guarded, with a well-protected mind; not leaky, not being consumed by fever, one should wander alone like a rhinoceros horn.”
“Mắt nhìn xuống, chân không lanh chanh, các căn được hộ trì, tâm ý được phòng hộ; không bị thấm ướt, không bị thiêu đốt, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.”
150.
150.
150.
Ohārayitvā gihibyañjanāni, sañchannapatto yathā pārichattako;
Kāsāyavattho abhinikkhamitvā, eko care khaggavisāṇakappo.
“Having laid aside the marks of a householder, like a Pārichattaka tree covered with leaves; having gone forth clad in the saffron robe, one should wander alone like a rhinoceros horn.”
Từ bỏ các tướng của người tại gia, như cây san hô lá sum suê; khoác y cà-sa, xuất gia từ bỏ, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.
Ohārayitvā gihibyañjanānīti gihibyañjanāni vuccanti kesā ca massū ca…pe… dīghadasāni iti vā. Ohārayitvā gihibyañjanānīti gihibyañjanāni oropayitvā samoropayitvā nikkhipitvā paṭippassambhitvāti – ohārayitvā gihibyañjanāni.
Regarding ‘Having laid aside the marks of a householder’: ‘the marks of a householder’ are said to be hair and beard… and long-fringed garments, and so on. ‘Having laid aside the marks of a householder’ means having put down, well put down, discarded, and pacified the marks of a householder. This is the meaning of the phrase ‘Having laid aside the marks of a householder’.
Về câu “Từ bỏ các tướng của người tại gia”: Các tướng của người tại gia được gọi là tóc và râu... v.v... hoặc là các y phục có tua dài. Ý nghĩa của “Từ bỏ các tướng của người tại gia” là: đã từ bỏ, đã hoàn toàn từ bỏ, đã đặt xuống, đã làm cho lắng dịu các tướng của người tại gia. – đây là ý nghĩa của “Từ bỏ các tướng của người tại gia”.
Sañchannapatto yathā pārichattakoti yathā so pārichattako koviḷāro bahalapattapalāso † sandacchāyo †, evameva so paccekasambuddho paripuṇṇapattacīvaradharoti – sañchannapatto yathā pārichattako.
Regarding ‘Like a Pārichattaka tree covered with leaves’: just as that Pārichattaka tree, the Koviḷāra, has dense shade from its branches, leaves, and fruits, so too that Paccekasambuddha is a wearer of the complete bowl and robes. This is the meaning of the phrase ‘Like a Pārichattaka tree covered with leaves’.
Về câu “Như cây san hô lá sum suê”: Giống như cây san hô, cây koviḷāra, có lá và cành rậm rạp, có bóng mát dày đặc, cũng vậy, vị Phật Độc Giác ấy mang đầy đủ y bát. – đây là ý nghĩa của “Như cây san hô lá sum suê”.
Kāsāyavattho abhinikkhamitvāti so paccekasambuddho sabbaṃ gharāvāsapalibodhaṃ chinditvā puttadāraṃ palibodhaṃ chinditvā ñātipalibodhaṃ chinditvā mittāmaccapalibodhaṃ chinditvā sannidhipalibodhaṃ chinditvā kesamassuṃ ohāretvā † kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitvā akiñcanabhāvaṃ upagantvā eko carati viharati iriyati vatteti pāleti yapeti yāpetīti – kāsāyavattho abhinikkhamitvā, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
Regarding ‘Having gone forth clad in the saffron robe’: that Paccekasambuddha, having cut off every household impediment, having cut off the impediment of wife and children, having cut off the impediment of relatives, having cut off the impediment of stored-up wealth; having removed his hair and beard, having donned the saffron robes, having gone forth from the home life into homelessness, he dwells in a state of having nothing. He lives, comports himself, conducts himself, maintains himself, carries on, and subsists. This is the meaning of the phrase ‘Having gone forth clad in the saffron robe’. One should wander alone like a rhinoceros horn. Therefore, that Paccekasambuddha said:
Về câu “Khoác y cà-sa, xuất gia từ bỏ”: Vị Phật Độc Giác ấy, sau khi cắt đứt mọi ràng buộc của đời sống gia đình, cắt đứt ràng buộc vợ con, cắt đứt ràng buộc quyến thuộc, cắt đứt ràng buộc bạn bè và quan chức, cắt đứt ràng buộc của sự tích trữ, đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên mình y phục màu cà-sa, từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình, đã xuất gia, đạt đến trạng thái vô sở hữu, vị ấy đi, sống, hành động, thực hành, duy trì, bảo tồn, nuôi mạng một mình. – đây là ý nghĩa của “Khoác y cà-sa, xuất gia từ bỏ”, hãy sống một mình như sừng tê ngưu. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
‘‘Ohārayitvā gihibyañjanāni, sañchannapatto yathā pārichattako;
Kāsāyavattho abhinikkhamitvā, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“Having laid aside the marks of a householder, like a Pārichattaka tree covered with leaves; having gone forth clad in the saffron robe, one should wander alone like a rhinoceros horn.”
“Từ bỏ các tướng của người tại gia, như cây san hô lá sum suê; khoác y cà-sa, xuất gia từ bỏ, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.”
Tatiyo vaggo.
The Third Chapter.
Phẩm Thứ Ba.
Catutthavaggo
The Fourth Chapter.
Phẩm Thứ Tư
151.
151.
151.
Rasesu gedhaṃ akaraṃ alolo, anaññaposī sapadānacārī;
Kule kule appaṭibaddhacitto, eko care khaggavisāṇakappo.
Not forming a greed for tastes, not covetous, not supporting another, going for alms in sequence; with a mind unbound in regard to family after family, one should wander alone like a rhinoceros horn.
Không tham đắm các vị, không dao động, không nuôi dưỡng người khác, đi khất thực từng nhà; tâm không ràng buộc trong các gia đình, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.
Rasesu gedhaṃ akaraṃ aloloti. Rasoti mūlaraso khandharaso tacaraso pattaraso puppharaso phalaraso, ambilaṃ madhuraṃ tittakaṃ kaṭukaṃ loṇikaṃ khārikaṃ lambikaṃ † kasāvo sādu asādu sītaṃ uṇhaṃ. Santeke samaṇabrāhmaṇā rasagiddhā. Te jivhaggena rasaggāni pariyesantā āhiṇḍanti. Te ambilaṃ labhitvā anambilaṃ pariyesanti, anambilaṃ labhitvā ambilaṃ pariyesanti; madhuraṃ labhitvā amadhuraṃ pariyesanti, amadhuraṃ labhitvā madhuraṃ pariyesanti; tittakaṃ labhitvā atittakaṃ pariyesanti, atittakaṃ labhitvā tittakaṃ pariyesanti; kaṭukaṃ labhitvā akuṭakaṃ pariyesanti, akuṭakaṃ labhitvā kaṭukaṃ pariyesanti; loṇikaṃ labhitvā aloṇikaṃ pariyesanti, aloṇikaṃ labhitvā loṇikaṃ pariyesanti; khārikaṃ labhitvā akhārikaṃ pariyesanti, akhārikaṃ labhitvā khārikaṃ pariyesanti; kasāvaṃ labhitvā akasāvaṃ pariyesanti, akasāvaṃ labhitvā kasāvaṃ pariyesanti; lambikaṃ labhitvā alambikaṃ pariyesanti, alambikaṃ labhitvā lambikaṃ pariyesanti; sāduṃ labhitvā asāduṃ pariyesanti, asāduṃ labhitvā sāduṃ pariyesanti; sītaṃ labhitvā uṇhaṃ pariyesanti, uṇhaṃ labhitvā sītaṃ pariyesanti. Te yaṃ yaṃ labhanti tena tena na tussanti, aparāparaṃ pariyesanti. Manāpikesu rasesu rattā giddhā gathitā mucchitā ajjhosannā laggā laggitā palibuddhā. Sā rasataṇhā tassa paccekasambuddhassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā. Tasmā so paccekasambuddho paṭisaṅkhā yoniso āhāraṃ āhāreti – ‘‘neva davāya na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya; yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya vihiṃsūparatiyā brahmacariyānuggahāya. Iti purāṇañca vedanaṃ paṭihaṅkhāmi, navañca vedanaṃ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro cā’’ti.
‘Not being greedy for tastes, not covetous.’ Tastes are root-taste, trunk-taste, bark-taste, leaf-taste, flower-taste, and fruit-taste; sour, sweet, bitter, pungent, salty, alkaline, acrid, astringent, savory, unsavory, cold, and hot. There are some ascetics and brahmins who are greedy for tastes. Seeking choice tastes with the tip of their tongue, they wander about. Having obtained sour, they seek non-sour; having obtained non-sour, they seek sour; having obtained sweet, they seek non-sweet; having obtained non-sweet, they seek sweet; having obtained bitter, they seek non-bitter; having obtained non-bitter, they seek bitter; having obtained pungent, they seek non-pungent; having obtained non-pungent, they seek pungent; having obtained salty, they seek non-salty; having obtained non-salty, they seek salty; having obtained alkaline, they seek non-alkaline; having obtained non-alkaline, they seek alkaline; having obtained astringent, they seek non-astringent; having obtained non-astringent, they seek astringent; having obtained acrid, they seek non-acrid; having obtained non-acrid, they seek acrid; having obtained savory, they seek unsavory; having obtained unsavory, they seek savory; having obtained cold, they seek hot; having obtained hot, they seek cold. Whatever they obtain, they are not satisfied with it but keep seeking for more. They are impassioned for, greedy for, tied to, infatuated with, obsessed with, clinging to, stuck fast, and bound by agreeable tastes. That craving for tastes has been abandoned by that Paccekabuddha, its root cut off, made like a palm stump, brought to a state of non-existence, and made incapable of arising in the future. Therefore, that Paccekabuddha, wisely reflecting, partakes of food: ‘Not for amusement, not for intoxication, not for beautification, not for adornment; but only for the maintenance and sustenance of this body, for allaying discomfort, and for assisting the holy life. Thus I will terminate old feelings and not arouse new feelings, and I will be able to carry on, be blameless, and live in comfort.’
Về câu “Không tham đắm các vị, không dao động”: Vị là vị của rễ, vị của thân cây, vị của vỏ cây, vị của lá, vị của hoa, vị của quả; vị chua, ngọt, đắng, cay, mặn, chát, se, nhạt, ngon, dở, lạnh, nóng. Có một số sa-môn, bà-la-môn tham đắm các vị. Họ đi lang thang tìm kiếm những vị ngon bằng đầu lưỡi. Khi được vị chua, họ tìm vị không chua; khi được vị không chua, họ tìm vị chua. Khi được vị ngọt, họ tìm vị không ngọt; khi được vị không ngọt, họ tìm vị ngọt. Khi được vị đắng, họ tìm vị không đắng; khi được vị không đắng, họ tìm vị đắng. Khi được vị cay, họ tìm vị không cay; khi được vị không cay, họ tìm vị cay. Khi được vị mặn, họ tìm vị không mặn; khi được vị không mặn, họ tìm vị mặn. Khi được vị chát, họ tìm vị không chát; khi được vị không chát, họ tìm vị chát. Khi được vị se, họ tìm vị không se; khi được vị không se, họ tìm vị se. Khi được vị nhạt, họ tìm vị không nhạt; khi được vị không nhạt, họ tìm vị nhạt. Khi được vị ngon, họ tìm vị không ngon; khi được vị không ngon, họ tìm vị ngon. Khi được vị lạnh, họ tìm vị nóng; khi được vị nóng, họ tìm vị lạnh. Bất cứ vị nào họ nhận được, họ không hài lòng với vị đó, họ lại tìm kiếm vị khác. Họ tham luyến, say đắm, trói buộc, mê muội, chìm đắm, dính mắc, bám víu, ràng buộc vào các vị khả ái. Vị ái đó đã được vị Phật Độc Giác ấy đoạn trừ, nhổ tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt ngọn, làm cho không thể hiện hữu, có trạng thái không sanh khởi trong tương lai. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy sau khi như lý tác ý, thọ dụng vật thực: “Không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để làm đẹp; chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, để chấm dứt sự khổ não (do đói), để hỗ trợ cho phạm hạnh. Như vậy, ta sẽ trừ diệt cảm thọ cũ, và không cho cảm thọ mới sanh khởi, và ta sẽ được sống điều độ, không bị chê trách, và sống được an lạc.”
Yathā vaṇaṃ ālimpeyya yāvadeva āruhaṇatthāya †, yathā vā akkhaṃ abbhañjeyya yāvadeva bhārassa nittharaṇatthāya, yathā puttamaṃsaṃ āhāraṃ āhareyya yāvadeva kantārassa nittharaṇatthāya; evameva so paccekasambuddho paṭisaṅkhā yoniso āhāraṃ āhāreti – ‘‘neva davāya na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya; yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya vihiṃsūparatiyā brahmacariyānuggahāya. Iti purāṇañca vedanaṃ paṭihaṅkhāmi, navañca vedanaṃ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro cā’’ti. Rasataṇhāya ārato virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – rasesu gedhaṃ akaraṃ.
Just as one would anoint a wound only for the sake of its healing, or as one would grease an axle only for the sake of conveying a load, or as one would eat one’s son’s flesh only for the sake of crossing a wilderness, so too that Paccekasambuddha, reflecting wisely, partakes of food: ‘Not for amusement, not for intoxication, not for beautification, not for adornment; but only for the maintenance and sustenance of this body, for allaying the affliction of hunger, and for assisting the holy life. Thus I will ward off old feelings and not arouse new feelings, and I will be able to carry on, be blameless, and live in comfort.’ He is aloof from craving for tastes, detached from it, abstinent from it; he has departed from it, is rid of it, fully released and disjoined from it. He dwells with a mind that has had its boundaries removed. Thus: not being greedy for tastes.
Như thể người ta thoa thuốc vào vết thương chỉ để cho nó lành, hoặc như thể người ta tra dầu vào trục xe chỉ để chuyên chở hàng hóa, hoặc như thể người ta ăn thịt con chỉ để vượt qua sa mạc; cũng vậy, vị Phật Độc Giác ấy, sau khi thẩm xét một cách như lý, thọ dụng vật thực – ‘không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang điểm, không phải để làm đẹp; chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, để chấm dứt sự khổ não (do đói khát), và để hỗ trợ cho phạm hạnh. Như vầy: Ta sẽ trừ diệt cảm thọ cũ (cơn đói) và sẽ không để cảm thọ mới (do ăn quá no) phát sanh. Và ta sẽ được bảo dưỡng, không bị chê trách, và sống được an ổn’. Vị ấy sống xa lìa, từ bỏ, hoàn toàn từ bỏ, thoát ra, rũ bỏ, giải thoát, không dính mắc với ái trong các vị, với tâm không còn giới hạn – đây là ý nghĩa của (cụm từ): không tham đắm trong các vị.
Aloloti loluppaṃ vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Sā loluppā taṇhā tassa paccekasambuddhassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā. Tasmā paccekasambuddho aloloti – rasesu gedhaṃ akaraṃ alolo.
‘Not covetous’: Covetousness is a term for craving. That which is lust, passion ...pe... covetousness, greed, the unwholesome root. That covetous craving has been abandoned by that Paccekasambuddha, its root cut off, made like a palm stump, brought to a state of non-existence, and made incapable of arising in the future. Therefore the Paccekasambuddha is not covetous. Thus: not being greedy for tastes, not covetous.
Về từ ‘alolo’: ‘loluppaṃ’ (sự thèm muốn) được gọi là ái. Bất cứ tham ái nào, sự tham ái mãnh liệt nào... cho đến... sự thèm muốn, lòng tham, gốc rễ của bất thiện. Ái thèm muốn ấy đã được vị Phật Độc Giác ấy đoạn trừ, nhổ tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la bị chặt ngọn, làm cho không còn hiện hữu, có trạng thái không sanh khởi trong tương lai. Vì vậy, vị Phật Độc Giác là ‘alolo’ (không thèm muốn) – đây là ý nghĩa của (cụm từ): không tham đắm trong các vị, không thèm muốn.
Anaññaposī sapadānacārīti anaññaposīti so paccekasambuddho attānaññeva poseti, na paranti.
‘Not nourishing another, walking for alms in sequence’: ‘Not nourishing another’ means that the Paccekasambuddha does not nourish the self—that is, the defilements which are his enemy—nor does he nourish another.
Về (cụm từ) ‘anaññaposī sapadānacārī’: ‘anaññaposī’ có nghĩa là vị Phật Độc Giác ấy chỉ nuôi dưỡng chính mình, không (nuôi dưỡng) người khác.
Anaññaposimaññātaṃ, dantaṃ sāre patiṭṭhitaṃ †;
Khīṇāsavaṃ vantadosaṃ, tamahaṃ brūmi brāhmaṇanti.
One who does not nourish the defilements, who has overcome them, tamed, well established in the essence of virtue, whose taints are destroyed, who has disgorged faults—him I call a brahmin.
Người không nuôi dưỡng kẻ khác, người đã liễu tri, đã được điều phục, an trú vững chắc trong cốt lõi (giới hạnh); người đã tận trừ các lậu hoặc, đã từ bỏ các lỗi lầm, Ta gọi người ấy là một vị Bà-la-môn.
Anaññaposī sapadānacārīti so paccekasambuddho pubbaṇhasamayaṃ † nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṃ vā nigamaṃ vā piṇḍāya pavisati rakkhiteneva kāyena rakkhitāya vācāya rakkhitena cittena upaṭṭhitāya satiyā saṃvutehi indriyehi. Okkhittacakkhu iriyāpathasampanno kulā kulaṃ anatikkamanto piṇḍāya caratīti – anaññaposī sapadānacārī.
‘Not nourishing another, walking for alms in sequence’: That Paccekasambuddha, having dressed in the morning and taken his bowl and robe, enters a village or town for alms with his body, speech, and mind guarded, with mindfulness established, and with his faculties restrained. With downcast eyes, accomplished in his deportment, he walks for alms from house to house without skipping any. Thus: not nourishing another, walking for alms in sequence.
Về (cụm từ) ‘anaññaposī sapadānacārī’: Vị Phật Độc Giác ấy vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, đi vào làng hoặc thị trấn để khất thực, với thân được hộ trì, với lời nói được hộ trì, với tâm được hộ trì, với niệm được an trú, với các căn được chế ngự. Mắt nhìn xuống, đầy đủ oai nghi, vị ấy đi khất thực không bỏ qua nhà nào, từ nhà giàu đến nhà nghèo – đây là ý nghĩa của (cụm từ): ‘anaññaposī sapadānacārī’.
Kule kule appaṭibaddhacittoti dvīhi kāraṇehi paṭibaddhacitto hoti – attānaṃ vā nīcaṃ ṭhapento paraṃ uccaṃ ṭhapento paṭibaddhacitto hoti, attānaṃ vā uccaṃ ṭhapento paraṃ nīcaṃ ṭhapento paṭibaddhacitto hoti. Kathaṃ attānaṃ nīcaṃ ṭhapento paraṃ uccaṃ ṭhapento paṭibaddhacitto hoti? ‘‘Tumhe me bahūpakārā, ahaṃ tumhe nissāya labhāmi cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ. Yampi me aññe dātuṃ vā kātuṃ vā maññanti tumhe nissāya tumhe passantā. Yampi me porāṇaṃ mātāpettikaṃ nāmagottaṃ tampi me antarahitaṃ tumhehi ahaṃ ñāyāmi – ‘asukassa kulupako, asukāya kulupako’’’ti. Evaṃ attānaṃ nīcaṃ ṭhapento paraṃ uccaṃ ṭhapento paṭibaddhacitto hoti.
‘With a mind unattached to family after family’: One’s mind becomes attached for two reasons: either by placing oneself low and others high, or by placing oneself high and others low. How does one’s mind become attached by placing oneself low and others high? ‘You are of great service to me. It is by depending on you that I obtain robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites. And when others think of giving or doing something for me, they do so because they see you. Even my old family name from my parents has disappeared, and I am known through you as “the frequenter of such-and-such a family.”’ In this way one’s mind becomes attached by placing oneself low and others high.
Về (cụm từ) ‘kule kule appaṭibaddhacitto’ (tâm không bị ràng buộc trong mỗi gia đình): Tâm bị ràng buộc bởi hai lý do – hoặc là tâm bị ràng buộc do đặt mình xuống thấp và đặt người khác lên cao, hoặc là tâm bị ràng buộc do đặt mình lên cao và đặt người khác xuống thấp. Thế nào là tâm bị ràng buộc do đặt mình xuống thấp và đặt người khác lên cao? (Là khi vị ấy nghĩ rằng): ‘Quý vị là những người giúp đỡ tôi rất nhiều, nhờ quý vị mà tôi nhận được y phục, vật thực, chỗ ở, và dược phẩm trị bệnh. Cũng nhờ quý vị, khi thấy quý vị, những người khác cũng nghĩ đến việc cúng dường hay giúp đỡ tôi. Ngay cả tên họ cũ của cha mẹ tôi cũng đã biến mất, chính nhờ quý vị mà tôi được biết đến là ‘người thường đến gia đình của ông này, người thường đến gia đình của bà kia’’. Như vậy là tâm bị ràng buộc do đặt mình xuống thấp và đặt người khác lên cao.
Kathaṃ attānaṃ uccaṃ ṭhapento paraṃ nīcaṃ ṭhapento paṭibaddhacitto hoti? ‘‘Ahaṃ tumhākaṃ bahūpakāro, tumhe maṃ āgamma buddhaṃ saraṇaṃ gatā dhammaṃ saraṇaṃ gatā saṅghaṃ saraṇaṃ gatā, pāṇātipātā paṭiviratā, adinnādānā paṭiviratā, kāmesumicchācārā paṭiviratā, musāvādā paṭiviratā, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratā, tumhākaṃ ahaṃ uddesaṃ demi paripucchaṃ demi uposathaṃ ācikkhāmi navakammaṃ adhiṭṭhāmi; atha ca pana tumhe maṃ ujjhitvā aññe sakkarotha garuṃ karotha mānetha pūjethā’’ti. Evaṃ attānaṃ uccaṃ ṭhapento paraṃ nīcaṃ ṭhapento paṭibaddhacitto hoti.
How does one’s mind become attached by placing oneself high and others low? ‘It is by relying on me that you have gone for refuge to the Buddha, the Dhamma, and the Sangha; that you have abstained from killing living beings, from taking what is not given, from sexual misconduct, and from liquor, wine, and intoxicants, which are a basis for negligence. I give you the text and the commentary, I declare the Uposatha, and I supervise new construction work. And yet you neglect me and instead honor, respect, esteem, and venerate others!’ In this way one’s mind becomes attached by placing oneself high and others low.
Thế nào là tâm bị ràng buộc do đặt mình lên cao và đặt người khác xuống thấp? (Là khi vị ấy nghĩ rằng): ‘Ta đã giúp đỡ quý vị rất nhiều, nhờ ta mà quý vị đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng; đã từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm trong các dục, từ bỏ dùng các chất say là rượu men, rượu nấu, là cơ sở của sự dễ duôi. Ta dạy cho quý vị học thuộc lòng (Pāli), giải thích ý nghĩa, thuyết giảng vào ngày Bố-tát, hướng dẫn công việc xây dựng mới; thế mà quý vị lại bỏ rơi ta để tôn trọng, kính nể, quý mến, cúng dường những người khác’. Như vậy là tâm bị ràng buộc do đặt mình lên cao và đặt người khác xuống thấp.
Kule kule appaṭibaddhacittoti so paccekasambuddho kulapalibodhena appaṭibaddhacitto hoti, gaṇapalibodhena appaṭibaddhacitto hoti, āvāsapalibodhena appaṭibaddhacitto hoti, cīvarapalibodhena appaṭibaddhacitto hoti, piṇḍapātapalibodhena appaṭibaddhacitto hoti, senāsanapalibodhena appaṭibaddhacitto hoti, gilānapaccayabhesajjaparikkhārapalibodhena appaṭibaddhacitto hotīti – kule kule appaṭibaddhacitto, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
‘With a mind unattached to family after family’: That Paccekabuddha’s mind is unattached by way of the impediment of a family, unattached by way of the impediment of a following, unattached by way of the impediment of a dwelling, unattached by way of the impediment of robes, unattached by way of the impediment of almsfood, unattached by way of the impediment of lodgings, and unattached by way of the impediment of medicinal requisites. Thus: ‘With a mind unattached to family after family, one should wander alone like a rhinoceros horn.’ Therefore that Paccekabuddha said:
Về (cụm từ) ‘kule kule appaṭibaddhacitto’: Vị Phật Độc Giác ấy có tâm không bị ràng buộc bởi sự bận tâm về gia đình (thí chủ), có tâm không bị ràng buộc bởi sự bận tâm về hội chúng, có tâm không bị ràng buộc bởi sự bận tâm về trú xứ, có tâm không bị ràng buộc bởi sự bận tâm về y phục, có tâm không bị ràng buộc bởi sự bận tâm về vật thực, có tâm không bị ràng buộc bởi sự bận tâm về chỗ ở, có tâm không bị ràng buộc bởi sự bận tâm về dược phẩm trị bệnh – đây là ý nghĩa của (cụm từ): ‘tâm không bị ràng buộc trong mỗi gia đình, hãy sống một mình như tê ngưu một sừng’. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng –
‘‘Rasesu gedhaṃ akaraṃ alolo, anaññaposī sapadānacārī;
Kule kule appaṭibaddhacitto, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
Not being greedy for tastes, not covetous, not supporting others, walking for alms in sequence; with a mind unattached to family after family, one should wander alone like a rhinoceros horn.
‘Không tham đắm trong các vị, không thèm muốn, không nuôi dưỡng kẻ khác, đi khất thực tuần tự; tâm không bị ràng buộc trong mỗi gia đình, hãy sống một mình như tê ngưu một sừng’.
152.
152.
152.
Pahāya pañcāvaraṇāni cetaso, upakkilese byapanujja sabbe;
Anissito chetva † sinehadosaṃ †, eko care khaggavisāṇakappo.
Having abandoned the five hindrances of the mind, having dispelled all the mind’s defilements; unreliant, having cut off the blemish of affection, one should wander alone like a rhinoceros horn.
Từ bỏ năm triền cái của tâm, loại trừ tất cả các tùy phiền não; không nương tựa (tà kiến), cắt đứt ái và sân, hãy sống một mình như tê ngưu một sừng.
Pahāya pañcāvaraṇāni cetasoti so paccekasambuddho kāmacchandanīvaraṇaṃ pahāya pajahitvā vinodetvā byantīkaritvā anabhāvaṃ gametvā, byāpādanīvaraṇaṃ… thinamiddhanīvaraṇaṃ… uddhaccakukkuccanīvaraṇaṃ… vicikicchānīvaraṇaṃ pahāya pajahitvā vinodetvā byantīkaritvā anabhāvaṃ gametvā vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharatīti – pahāya pañcāvaraṇāni cetaso.
‘Having abandoned the five hindrances of the mind’: That Paccekabuddha, having abandoned, forsaken, dispelled, done away with, and annihilated the hindrance of sensual desire; the hindrance of ill will; the hindrance of sloth and torpor; the hindrance of restlessness and remorse; and the hindrance of doubt, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unwholesome states, enters and dwells in the first jhāna, which is accompanied by initial and sustained thought, with rapture and happiness born of seclusion. Thus: ‘having abandoned the five hindrances of the mind.’
Về (cụm từ) ‘pahāya pañcāvaraṇāni cetaso’ (từ bỏ năm triền cái của tâm): Vị Phật Độc Giác ấy, sau khi từ bỏ, đoạn trừ, xua tan, chấm dứt, làm cho không còn hiện hữu triền cái tham dục; ... triền cái sân hận; ... triền cái hôn trầm-thụy miên; ... triền cái trạo cử-hối quá; ... triền cái hoài nghi; sau khi từ bỏ, đoạn trừ, xua tan, chấm dứt, làm cho không còn hiện hữu (các triền cái ấy), vị ấy ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ – đây là ý nghĩa của (cụm từ): ‘từ bỏ năm triền cái của tâm’.
Upakkilese byapanujja sabbeti rāgo cittassa upakkileso, doso cittassa upakkileso, moho cittassa upakkileso, kodho… upanāho…pe… sabbākusalābhisaṅkhārā cittassa upakkilesā. Upakkilese byapanujja sabbeti sabbe cittassa upakkilese byapanujja panuditvā pajahitvā vinodetvā byantīkaritvā anabhāvaṃ gametvāti – upakkilese byapanujja sabbe.
‘Having dispelled all the defilements’: Lust is a defilement of the mind, hatred is a defilement of the mind, delusion is a defilement of the mind; anger, resentment ... all unwholesome volitional formations are defilements of the mind. ‘Having dispelled all the defilements’ means having dispelled, driven off, abandoned, done away with, and annihilated all the defilements of the mind. Thus: ‘having dispelled all the defilements.’
“Sau khi đã loại trừ tất cả các phiền não” có nghĩa là: Tham là phiền não của tâm, sân là phiền não của tâm, si là phiền não của tâm, phẫn nộ... oán hận... cho đến... tất cả các hành bất thiện là các phiền não của tâm. “Sau khi đã loại trừ tất cả các phiền não” có nghĩa là: sau khi đã loại trừ, đã xua đuổi, đã từ bỏ, đã xua tan, đã làm cho chấm dứt, đã làm cho không còn hiện hữu tất cả các phiền não của tâm. – (Đây là ý nghĩa của câu) “sau khi đã loại trừ tất cả các phiền não”.
Anissito chetva sinehadosanti. Anissitoti dve nissayā – taṇhānissayo ca diṭṭhinissayo ca…pe… ayaṃ taṇhānissayo…pe… ayaṃ diṭṭhinissayo. Sinehoti dve snehā – taṇhāsneho ca diṭṭhisneho ca…pe… ayaṃ taṇhāsneho…pe… ayaṃ diṭṭhisneho. Dosoti yo cittassa āghāto paṭighāto paṭighaṃ paṭivirodho kopo pakopo sampakopo doso padoso sampadoso cittassa byāpatti manopadoso kodho kujjhanā kujjhitattaṃ doso dussanā dussitattaṃ byāpatti byāpajjanā byāpajjitattaṃ caṇḍikkaṃ asuropo anattamanatā cittassa. Anissito chetva sinehadosanti so paccekasambuddho taṇhāsnehañca diṭṭhisnehañca dosañca chetvā ucchinditvā samucchinditvā pajahitvā vinodetvā byantīkaritvā anabhāvaṃ gametvā cakkhuṃ anissito, sotaṃ anissito…pe… diṭṭhasutamutaviññātabbe dhamme anissito anallīno anupagato anajjhosito anadhimutto nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – anissito chetva sinehadosaṃ, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
"Independent, having cut off affection and hatred." "Independent": there are two kinds of dependence: dependence on craving and dependence on views… this is dependence on craving… this is dependence on views. "Affection": there are two kinds of affection: affection due to craving and affection due to views… this is affection due to craving… this is affection due to views. "Hatred": that which is animosity of the mind, aversion, repugnance, opposition, antagonism, anger, great anger, complete anger, hatred, great hatred, complete hatred, corruption of the mind, mental depravity, wrath, being wrathful, the state of being wrathful, hatred, being hostile, the state of being hostile, depravity, being depraved, the state of being depraved, fierceness, a surly nature, discontent of mind. "Independent, having cut off affection and hatred": that paccekasambuddha, having cut off, severed, utterly severed, abandoned, dispelled, eliminated, and brought to an end the affection of craving, the affection of views, and hatred, is independent of the eye, independent of the ear… independent of phenomena seen, heard, sensed, and cognized—unclinging, unattached, not settled upon, not intent upon, gone forth, detached, released, disjoined, he dwells with a mind that has become limitless. —"Independent, having cut off affection and hatred, one should wander alone like a rhinoceros horn." Therefore that paccekasambuddha said:
“Không nương tựa, cắt đứt quyến luyến và sân hận.” Về “không nương tựa,” có hai sự nương tựa: sự nương tựa vào ái và sự nương tựa vào tà kiến... cho đến... đây là sự nương tựa vào ái... cho đến... đây là sự nương tựa vào tà kiến. Về “quyến luyến,” có hai sự quyến luyến: sự quyến luyến do ái và sự quyến luyến do tà kiến... cho đến... đây là sự quyến luyến do ái... cho đến... đây là sự quyến luyến do tà kiến. Về “sân hận,” đó là sự va chạm của tâm, sự chống đối, sự va chạm, sự đối nghịch, sự phẫn nộ, sự nổi giận, sự giận dữ tột độ, sự tổn hại, sự làm hại, sự làm hại tột độ, sự hủy hoại của tâm, sự ô nhiễm của ý, sự giận dữ, sự nổi giận, trạng thái giận dữ, sự tổn hại, sự làm hại, trạng thái làm hại, sự hủy hoại, sự gây hại, trạng thái gây hại, sự hung dữ, sự không hài lòng, sự bất mãn của tâm. “Không nương tựa, cắt đứt quyến luyến và sân hận” có nghĩa là: Vị Phật Độc Giác ấy, sau khi đã cắt đứt, đã đoạn trừ, đã đoạn tuyệt, đã từ bỏ, đã xua tan, đã làm cho chấm dứt, đã làm cho không còn hiện hữu sự quyến luyến do ái, sự quyến luyến do tà kiến, và sân hận; vị ấy không nương tựa vào mắt, không nương tựa vào tai... cho đến... không nương tựa vào các pháp được thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức; không dính mắc, không đi đến, không chìm đắm, không quyết tâm theo, đã thoát ra, đã từ bỏ, đã giải thoát, không liên kết, sống với tâm không có giới hạn. – (Đây là ý nghĩa của câu) “không nương tựa, cắt đứt quyến luyến và sân hận,” hãy sống một mình như sừng tê giác. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
‘‘Pahāya pañcāvaraṇāni cetaso, upakkilese byapanujja sabbe;
Anissito chetva sinehadosaṃ, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
"Having abandoned the five hindrances of the mind, having dispelled all its defilements; independent, having cut off affection and hatred, one should wander alone like a rhinoceros horn."
“Từ bỏ năm triền cái của tâm, loại trừ tất cả các phiền não; không nương tựa, cắt đứt quyến luyến và sân hận, hãy sống một mình như sừng tê giác.”
153.
153.
153.
Vipiṭṭhikatvāna sukhaṃ dukhañca, pubbeva ca somanassadomanassaṃ;
Laddhānupekkhaṃ samathaṃ visuddhaṃ, eko care khaggavisāṇakappo.
Having left behind pleasure and pain, and mental joy and sorrow as before; having gained pure equanimity and calm, one should wander alone like a rhinoceros horn.
Để lại sau lưng lạc và khổ, và trước đó là hỷ và ưu; đạt được xả và tịnh thanh tịnh, hãy sống một mình như sừng tê giác.
Vipiṭṭhikatvāna sukhaṃ dukhañca, pubbeva ca somanassadomanassanti so paccekasambuddho sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharatīti – vipiṭṭhikatvāna sukhaṃ dukhañca, pubbeva ca somanassadomanassaṃ.
"Having left behind pleasure and pain, and mental joy and sorrow as before": that paccekasambuddha, with the abandoning of pleasure and the abandoning of pain, and with the earlier disappearance of mental joy and mental sorrow, enters and dwells in the fourth jhana, which is neither-painful-nor-pleasant and consists in the purification of mindfulness by equanimity. —"Having left behind pleasure and pain, and mental joy and sorrow as before."
“Để lại sau lưng lạc và khổ, và trước đó là hỷ và ưu” có nghĩa là: Vị Phật Độc Giác ấy, do từ bỏ lạc và từ bỏ khổ, do sự biến mất từ trước của hỷ và ưu, chứng đạt và an trú trong thiền thứ tư, không khổ không lạc, có sự thanh tịnh của niệm nhờ xả. – (Đây là ý nghĩa của câu) “để lại sau lưng lạc và khổ, và trước đó là hỷ và ưu.”
Laddhānupekkhaṃ samathaṃ visuddhanti. Upekkhāti yā catutthajjhāne upekkhā upekkhanā ajjhupekkhanā cittasamatā cittappassaddhatā † majjhattatā cittassa. Samathoti yā cittassa ṭhiti saṇṭhiti avaṭṭhiti avisāhāro † avikkhepo avisāhaṭamānasatā † samatho samādhindriyaṃ samādhibalaṃ sammāsamādhi; catutthajjhāne upekkhā ca samatho ca suddhā honti visuddhā pariyodātā anaṅgaṇā vigatūpakkilesā mudubhūtā kammaniyā ṭhitā āneñjappattā. Laddhānupekkhaṃ samathaṃ visuddhanti catutthajjhānaṃ upekkhañca samathañca laddhā labhitvā vinditvā paṭilabhitvāti – laddhānupekkhaṃ samathaṃ visuddhaṃ, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
"Having gained pure equanimity and calm." "Equanimity" is the equanimity in the fourth jhāna: looking on, looking on closely, mental evenness, mental placidity, the neutral state of the mind. "Calm" is the mind's stability, steadfastness, fixedness, non-distraction, non-wavering, an unagitated mental state, calm, the faculty of concentration, the power of concentration, right concentration. In the fourth jhāna, equanimity and calm are pure, utterly pure, luminous, stainless, free from defilements, become malleable, wieldy, steady, and have attained imperturbability. "Having gained pure equanimity and calm": having gained, obtained, found, and acquired the fourth jhāna, equanimity, and calm. —"...having gained pure equanimity and calm, one should wander alone like a rhinoceros horn." Therefore that Paccekasambuddha said:
“Đạt được xả và tịnh thanh tịnh.” Về “xả,” đó là sự xả, sự bình thản, sự thờ ơ, sự quân bình của tâm, sự tĩnh lặng của tâm, sự trung lập của tâm trong thiền thứ tư. Về “tịnh,” đó là sự đứng vững của tâm, sự an trú, sự kiên cố, sự không lay động, sự không phân tán, trạng thái tâm không bị lôi kéo, sự tĩnh lặng, định quyền, định lực, chánh định. Xả và tịnh trong thiền thứ tư trở nên trong sạch, thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, không còn phiền não, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến bất động. “Đạt được xả và tịnh thanh tịnh” có nghĩa là: sau khi đã đạt được, đã có được, đã tìm thấy, đã tái đạt được xả và tịnh của thiền thứ tư. – (Đây là ý nghĩa của câu) “đạt được xả và tịnh thanh tịnh,” hãy sống một mình như sừng tê giác. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
‘‘Vipiṭṭhikatvāna sukhaṃ dukhañca, pubbeva ca somanassadomanassaṃ;
Laddhānupekkhaṃ samathaṃ visuddhaṃ, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
"Having left behind pleasure and pain, and mental joy and sorrow as before; having gained pure equanimity and calm, one should wander alone like a rhinoceros horn."
“Để lại sau lưng lạc và khổ, và trước đó là hỷ và ưu; đạt được xả và tịnh thanh tịnh, hãy sống một mình như sừng tê giác.”
154.
154.
154.
Āraddhavīriyo paramatthapattiyā, alīnacitto akusītavutti;
Daḷhanikkamo thāmabalūpapanno, eko care khaggavisāṇakappo.
With energy aroused for attaining the ultimate goal, with mind unflagging and conduct not lazy; firm in striving, endowed with strength and power, one should wander alone like a rhinoceros horn.
Tinh tấn để đạt được mục đích tối hậu, tâm không thụ động, không lười biếng; nỗ lực kiên định, có sức mạnh và năng lực, hãy sống một mình như sừng tê giác.
Āraddhavīriyo paramatthapattiyāti paramatthaṃ vuccati amataṃ nibbānaṃ. Yo so sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ. Paramatthassa pattiyā lābhāya paṭilābhāya adhigamāya phassanāya sacchikiriyāya āraddhavīriyo viharati akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya kusalānaṃ dhammānaṃ sampadāya thāmavā † daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesūti – āraddhavīriyo paramatthapattiyā.
"With energy aroused for attaining the ultimate goal": the ultimate goal is called the deathless, Nibbāna, that is, the stilling of all formations, the relinquishment of all acquisitions, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna. For the attainment, acquisition, realization, contact, and verification of the ultimate goal, one dwells with energy aroused—steadfast, firm in striving, not throwing off the burden in regard to wholesome states—for the abandoning of unwholesome states and the undertaking of wholesome states. —"With energy aroused for attaining the ultimate goal."
“Tinh tấn để đạt được mục đích tối hậu” có nghĩa là: Mục đích tối hậu được gọi là bất tử, Niết-bàn. Đó là sự tịch tịnh của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các chấp thủ, sự đoạn tận ái, sự ly tham, sự diệt, Niết-bàn. Vị ấy sống tinh tấn để đạt được, để có được, để tái đạt được, để chứng ngộ, để tiếp xúc, để chứng thực mục đích tối hậu; để từ bỏ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện; có sức mạnh, có nỗ lực kiên định, không từ bỏ gánh nặng trong các pháp thiện. – (Đây là ý nghĩa của câu) “tinh tấn để đạt được mục đích tối hậu.”
Alīnacitto akusītavuttīti so paccekasambuddho anuppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ anuppādāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati, uppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya…pe… anuppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ uppādāya…pe… uppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā † chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahatīti – evaṃ alīnacitto akusītavutti.
"With mind unflagging and conduct not lazy": that paccekasambuddha generates zeal, strives, arouses energy, exerts his mind, and endeavors for the non-arising of unarisen evil, unwholesome states; for the abandoning of arisen evil, unwholesome states… for the arising of unarisen wholesome states… for the maintenance, non-confusion, increase, abundance, development, and fulfillment of arisen wholesome states, he generates zeal, strives, arouses energy, exerts his mind, and endeavors. Thus, "with mind unflagging and conduct not lazy."
“Tâm không thụ động, không lười biếng” có nghĩa là: Vị Phật Độc Giác ấy, để các pháp ác bất thiện chưa sanh không sanh khởi, vị ấy khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, nâng đỡ tâm, nỗ lực; để từ bỏ các pháp ác bất thiện đã sanh... cho đến... để các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi... cho đến... để các pháp thiện đã sanh được duy trì, không bị quên lãng, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, vị ấy khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, nâng đỡ tâm, nỗ lực. – Như vậy là “tâm không thụ động, không lười biếng.”
Atha vā, ‘‘kāmaṃ taco ca nhāru ca aṭṭhi ca avasissatu †, sarīre upasussatu maṃsalohitaṃ, yaṃ taṃ purisathāmena purisabalena purisavīriyena purisaparakkamena pattabbaṃ na taṃ apāpuṇitvā vīriyassa saṇṭhānaṃ † bhavissatī’’ti cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evampi alīnacitto akusītavutti.
Or else, he exerts his mind and endeavors, resolving: "Let only skin, sinews, and bones remain, and let the flesh and blood dry up in my body, but there will be no stopping of my energy until I have attained what can be attained by human strength, human power, human energy, and human striving." In this way too, his mind is unflagging and his conduct not lazy.
Hoặc là, vị ấy nâng đỡ tâm, nỗ lực (với ý nghĩ rằng): “Dù cho chỉ còn lại da, gân, và xương, dù cho thịt và máu trong thân này khô cạn đi, nếu chưa đạt được điều gì có thể đạt được bằng sức mạnh của con người, bằng năng lực của con người, bằng sự tinh tấn của con người, bằng sự nỗ lực của con người, thì sẽ không có sự dừng lại của tinh tấn.” Như vậy cũng là “tâm không thụ động, không lười biếng.”
Nāsissaṃ na pivissāmi, vihārato na nikkhame;
Napi passaṃ nipātessaṃ, taṇhāsalle anūhateti.
"I will not eat, I will not drink, I will not leave my dwelling; nor will I lie on my side, while the dart of craving has not been pulled out."
“Ta sẽ không ăn, sẽ không uống, sẽ không ra khỏi tịnh xá, cũng sẽ không nằm ngả lưng, (cho đến khi) mũi tên ái dục chưa được nhổ ra.”
Cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evampi alīnacitto akusītavutti.
He exerts his mind and endeavors. In this way too, his mind is unflagging and his conduct not lazy.
Vị ấy sách tấn và nỗ lực tâm. Như vậy, vị ấy có tâm không co rút, có hạnh không biếng nhác.
‘‘Na tāvāhaṃ imaṃ pallaṅkaṃ bhindissāmi yāva me na anupādāya āsavehi cittaṃ vimuccissatī’’ti cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evampi alīnacitto akusītavutti.
"I will not break this cross-legged posture until my mind is liberated from the taints through non-clinging." He exerts his mind and endeavors. In this way too, his mind is unflagging and his conduct not lazy.
‘Ta sẽ không rời bỏ thế ngồi kiết-già này cho đến khi nào tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ,’ vị ấy sách tấn và nỗ lực tâm. Như vậy, vị ấy có tâm không co rút, có hạnh không biếng nhác.
‘‘Na tāvāhaṃ imamhā āsanā vuṭṭhahissāmi yāva me na anupādāya āsavehi cittaṃ vimuccissatī’’ti cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evampi alīnacitto akusītavutti.
"I will not rise from this seat until my mind is liberated from the taints through non-clinging." He exerts his mind and endeavors. In this way too, his mind is unflagging and his conduct not lazy.
‘Ta sẽ không đứng dậy khỏi chỗ ngồi này cho đến khi nào tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ,’ vị ấy sách tấn và nỗ lực tâm. Như vậy, vị ấy có tâm không co rút, có hạnh không biếng nhác.
‘‘Na tāvāhaṃ imamhā caṅkamā orohissāmi…pe… vihārā nikkhamissāmi… aḍḍhayogā nikkhamissāmi… pāsādā nikkhamissāmi… hammiyā nikkhamissāmi… guhāya nikkhamissāmi… leṇā nikkhamissāmi… kuṭiyā nikkhamissāmi… kūṭāgārā nikkhamissāmi… aṭṭā nikkhamissāmi… māḷā nikkhamissāmi… uddaṇḍā nikkhamissāmi … upaṭṭhānasālāya nikkhamissāmi… maṇḍapā nikkhamissāmi… rukkhamūlā nikkhamissāmi yāva me na anupādāya āsavehi cittaṃ vimuccissatī’’ti cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evampi alīnacitto akusītavutti.
"I will not descend from this walking path… leave the monastery… leave the gabled house… leave the mansion… leave the long-gallery… leave the cave… leave the rock-shelter… leave the hut… leave the gabled-roof hall… leave the watchtower… leave the hall… leave the raised hut… leave the service hall… leave the pavilion… leave the foot of the tree, until my mind is liberated from the taints through non-clinging." He exerts his mind and endeavors. In this way too, his mind is unflagging and his conduct not lazy.
‘Ta sẽ không đi xuống khỏi đường kinh hành này... (vân vân)... sẽ không đi ra khỏi tịnh xá này... sẽ không đi ra khỏi ngôi nhà hình bán nguyệt này... sẽ không đi ra khỏi lầu đài này... sẽ không đi ra khỏi lầu son này... sẽ không đi ra khỏi hang động này... sẽ không đi ra khỏi sơn động này... sẽ không đi ra khỏi cốc này... sẽ không đi ra khỏi nhà có mái nhọn này... sẽ không đi ra khỏi tháp canh này... sẽ không đi ra khỏi nhà sàn này... sẽ không đi ra khỏi nhà có một cột này... sẽ không đi ra khỏi trai đường này... sẽ không đi ra khỏi nhà lều này... sẽ không đi ra khỏi gốc cây này cho đến khi nào tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ,’ vị ấy sách tấn và nỗ lực tâm. Như vậy, vị ấy có tâm không co rút, có hạnh không biếng nhác.
‘‘Imasmiṃyeva pubbaṇhasamaye † ariyadhammaṃ āharissāmi samāharissāmi adhigacchissāmi phassayissāmi sacchikarissāmī’’ti cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evampi alīnacitto akusītavutti. Imasmiṃyeva majjhanhikasamaye…pe… sāyanhasamaye …pe… purebhattaṃ… pacchābhattaṃ… purimayāmaṃ… majjhimayāmaṃ… pacchimayāmaṃ… kāḷe… juṇhe… vasse… hemante … gimhe… purime vayokhandhe… majjhime vayokhandhe… pacchime vayokhandhe ariyadhammaṃ āharissāmi samāharissāmi adhigacchissāmi phassayissāmi sacchikarissāmīti cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evampi alīnacitto akusītavutti.
"In this very forenoon, I will acquire, master, attain, contact, and realize the noble Dhamma." He exerts his mind and endeavors. In this way too, his mind is unflagging and his conduct not lazy. "In this very midday… evening… before the meal… after the meal… first watch of the night… middle watch of the night… last watch of the night… during the dark fortnight… bright fortnight… rainy season… winter… summer… in the first stage of life… in the middle stage of life… in the last stage of life, I will acquire, master, attain, contact, and realize the noble Dhamma." He exerts his mind and endeavors. In this way too, his mind is unflagging and his conduct not lazy.
“‘Chính trong buổi sáng này, ta sẽ mang lại, sẽ mang lại một cách tốt đẹp, sẽ chứng đạt, sẽ xúc chạm, sẽ chứng ngộ Thánh pháp,’ vị ấy nâng đỡ, nỗ lực tâm ý. Như vậy cũng là tâm không co rút, là người có hạnh kiểm không biếng nhác. Chính trong buổi trưa này... (như trên)... buổi chiều... (như trên)... trước bữa ăn... sau bữa ăn... canh đầu... canh giữa... canh cuối... trong hắc nguyệt... trong bạch nguyệt... trong mùa mưa... trong mùa đông... trong mùa hè... trong sơ niên... trong trung niên... trong hậu niên, ‘ta sẽ mang lại, sẽ mang lại một cách tốt đẹp, sẽ chứng đạt, sẽ xúc chạm, sẽ chứng ngộ Thánh pháp,’ vị ấy nâng đỡ, nỗ lực tâm ý. Như vậy cũng là tâm không co rút, là người có hạnh kiểm không biếng nhác.
Daḷhanikkamo thāmabalūpapannoti so paccekasambuddho daḷhasamādāno ahosi kusalesu dhammesu avaṭṭhitasamādāno kāyasucarite vacīsucarite manosucarite dānasaṃvibhāge sīlasamādāne uposathupavāse matteyyatāya † petteyyatāya sāmaññatāya brahmaññatāya kulejeṭṭhāpacāyitāya aññataraññataresu adhikusalesu dhammesūti – daḷhanikkamo. Thāmabalūpapannoti so paccekasambuddho thāmena ca balena ca vīriyena ca parakkamena ca paññāya ca upeto hoti samupeto upāgato samupāgato upapanno samupapanno samannāgatoti – daḷhanikkamo thāmabalūpapanno, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
"Firm in striving, endowed with strength and power": that Paccekasambuddha was of firm undertaking in wholesome states, of steadfast undertaking in good bodily conduct, good verbal conduct, and good mental conduct, in giving and sharing, in undertaking the precepts, in observing the Uposatha, in dutifulness to his mother, in dutifulness to his father, in respectfulness to ascetics, in respectfulness to brahmins, in honoring the elders of his clan, and in other and various higher wholesome states. Thus, "firm in striving." "Endowed with strength and power": that Paccekasambuddha is endowed, fully endowed, possessed, fully possessed, furnished, fully furnished, and supplied with stamina, the power of wisdom, energy, exertion, and wisdom. Thus, he is "firm in striving, endowed with strength and power." One should wander alone like a rhinoceros horn. Therefore, that Paccekasambuddha said:
Vị có sự nỗ lực vững chắc, được trang bị sức mạnh và năng lực: Vị Độc Giác Phật ấy đã có sự chấp trì vững chắc, có sự chấp trì đã được thiết lập ở trong các thiện pháp, trong thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, trong sự chia sớt vật thí, trong sự chấp trì giới, trong việc thực hành ngày Bố-tát, trong lòng hiếu thảo với mẹ, trong lòng hiếu thảo với cha, trong sự kính trọng Sa-môn, trong sự kính trọng Bà-la-môn, trong sự kính trọng bậc trưởng thượng trong gia tộc, ở trong các pháp siêu thiện khác. Như thế là ‘vị có sự nỗ lực vững chắc’. Vị được trang bị sức mạnh và năng lực: Vị Độc Giác Phật ấy được trang bị, được trang bị đầy đủ, đã đạt đến, đã đạt đến một cách tốt đẹp, đã thành tựu, đã thành tựu đầy đủ, đã hội đủ sức mạnh, năng lực, tinh tấn, nỗ lực, và trí tuệ. Như thế là ‘vị có sự nỗ lực vững chắc, được trang bị sức mạnh và năng lực’. Hãy đi một mình như sừng tê ngưu. Do đó, vị Độc Giác Phật ấy đã nói:
‘‘Āraddhavīriyo paramatthapattiyā, alīnacitto akusītavutti;
Daḷhanikkamo thāmabalūpapanno, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
"With energy aroused for attaining the ultimate goal, with mind unflagging and conduct not lazy; firm in striving, endowed with strength and power, one should wander alone like a rhinoceros horn."
“Với tinh tấn đã được khởi phát để chứng đạt mục đích tối thượng, với tâm không co rút, với hạnh kiểm không biếng nhác, với sự nỗ lực vững chắc, được trang bị sức mạnh và năng lực, hãy đi một mình như sừng tê ngưu.”
155.
155.
155.
Paṭisallānaṃ jhānamariñcamāno, dhammesu niccaṃ anudhammacārī;
Ādīnavaṃ sammasitā bhavesu, eko care khaggavisāṇakappo.
Not abandoning seclusion and jhāna, constantly practicing in conformity with the Dhamma with regard to phenomena; having comprehended the danger in states of existence, one should wander alone like a rhinoceros horn.
Không từ bỏ sự độc cư và thiền định, luôn thực hành pháp tùy pháp trong các pháp, sau khi đã quán xét sự nguy hại trong các cõi hữu, hãy đi một mình như sừng tê ngưu.
Paṭisallānaṃ jhānamariñcamānoti so paccekasambuddho paṭisallānārāmo hoti paṭisallānarato ajjhattaṃ cetosamathamanuyutto anirākatajjhāno vipassanāya samannāgato brūhetā suññāgāraṃ jhāyī jhānarato ekattamanuyutto sadatthagarukoti paṭisallānaṃ. Jhānamariñcamānoti so paccekasambuddho dvīhi kāraṇehi jhānaṃ na riñcati – anuppannassa vā paṭhamassa jhānassa uppādāya yutto payutto saṃyutto āyutto samāyutto, anuppannassa vā dutiyassa jhānassa…pe… anuppannassa vā tatiyassa jhānassa… anuppannassa vā catutthassa jhānassa uppādāya yutto payutto saṃyutto āyutto samāyuttoti – evampi jhānaṃ na riñcati.
Regarding 'seclusion and not abandoning jhāna': That Paccekasambuddha is one who delights in seclusion, is fond of seclusion, devoted to the internal calming of the mind, not rejecting jhāna, endowed with insight, an augmenter of empty dwellings, meditative, delighting in jhāna, devoted to solitude, and esteems his own welfare. Thus, 'seclusion.' Regarding 'not abandoning jhāna': That Paccekasambuddha does not abandon jhāna for two reasons: he is yoked, variously yoked, specially yoked, repeatedly yoked, and well yoked to the arising of the first jhāna that has not yet arisen; or to the arising of the second jhāna… or the third jhāna… or the fourth jhāna that has not yet arisen. In this way, also, he does not abandon jhāna.
Không từ bỏ sự độc cư và thiền định: Vị Độc Giác Phật ấy là người thích thú trong sự độc cư, vui thích trong sự độc cư, chuyên tâm vào sự tĩnh lặng của nội tâm, không từ bỏ thiền định, được trang bị tuệ quán, là người phát triển các trú xứ thanh vắng, là người thiền định, vui thích trong thiền định, chuyên tâm vào sự đơn độc, xem trọng lợi ích của bản thân. Như thế là ‘sự độc cư’. Không từ bỏ thiền định: Vị Độc Giác Phật ấy không từ bỏ thiền định vì hai lý do: vị ấy nỗ lực, chuyên cần, tận tụy, gắng sức, chuyên chú để làm phát sinh thiền thứ nhất chưa phát sinh, hoặc để làm phát sinh thiền thứ hai chưa phát sinh... (như trên)... hoặc để làm phát sinh thiền thứ ba chưa phát sinh... hoặc để làm phát sinh thiền thứ tư chưa phát sinh, vị ấy nỗ lực, chuyên cần, tận tụy, gắng sức, chuyên chú. Như vậy cũng là ‘không từ bỏ thiền định’.
Atha vā, uppannaṃ vā paṭhamaṃ jhānaṃ āsevati bhāveti bahulīkaroti, uppannaṃ vā dutiyaṃ jhānaṃ…pe… uppannaṃ vā tatiyaṃ jhānaṃ… uppannaṃ vā catutthaṃ jhānaṃ āsevati bhāveti bahulīkaroti. Evampi jhānaṃ na riñcatīti – paṭisallānaṃ jhānamariñcamāno.
Alternatively, he resorts to, develops, and makes much of the first jhāna that has arisen; or the second jhāna that has arisen… or the third jhāna that has arisen… or the fourth jhāna that has arisen, which he resorts to, develops, and makes much of. In this way, too, he does not abandon jhāna. This is the meaning of the phrase, 'in seclusion, not abandoning jhāna'.
Hoặc nữa, vị ấy thực hành, phát triển, làm cho sung mãn thiền thứ nhất đã phát sinh, hoặc thiền thứ hai đã phát sinh... (như trên)... hoặc thiền thứ ba đã phát sinh... hoặc thiền thứ tư đã phát sinh, vị ấy thực hành, phát triển, làm cho sung mãn. Như vậy cũng là ‘không từ bỏ thiền định’. Như thế là ‘không từ bỏ sự độc cư và thiền định’.
Dhammesu niccaṃ anudhammacārīti dhammā vuccanti cattāro satipaṭṭhānā…pe… ariyo aṭṭhaṅgiko maggo. Katame anudhammā? Sammāpaṭipadā apaccanīkapaṭipadā anvatthapaṭipadā dhammānudhammapaṭipadā sīlesu paripūrakāritā indriyesu guttadvāratā bhojane mattaññutā jāgariyānuyogo satisampajaññaṃ – ime vuccanti anudhammā. Dhammesu niccaṃ anudhammacārīti dhammesu niccakālaṃ dhuvakālaṃ satataṃ samitaṃ avokiṇṇaṃ poṅkhānupoṅkhaṃ udakūmikajātaṃ †
Regarding 'always practicing in accordance with the Dhamma among the dhammas': Here, 'dhammas' are said to be the four establishments of mindfulness… up to… the noble eightfold path. What are the 'anudhammas' (practices conforming to the Dhamma)? Right practice, conformable practice, non-opposing practice, practice in accordance with the goal, practice in accordance with the Dhamma, fulfillment in the precepts, guarding the doors of the sense faculties, moderation in eating, devotion to wakefulness, and mindfulness and clear comprehension—these are called the 'anudhammas'. Regarding 'always practicing in accordance with the Dhamma among the dhammas': this means practicing among the dhammas always, constantly, perpetually, uninterruptedly, unmixedly, in close succession, like a series of water waves,
Luôn thực hành pháp tùy pháp trong các pháp: ‘Các pháp’ được gọi là bốn Niệm xứ... (như trên)... Thánh đạo Tám ngành. Thế nào là ‘các pháp tùy thuận’? Là chánh hạnh, là hạnh không đối nghịch, là hạnh thuận theo mục đích, là hạnh thực hành pháp tùy pháp, là sự viên mãn trong các giới, là sự phòng hộ các căn, là sự tiết độ trong ăn uống, là sự chuyên tâm cảnh giác, là chánh niệm tỉnh giác. Những điều này được gọi là ‘các pháp tùy thuận’. Luôn thực hành pháp tùy pháp trong các pháp: (Thực hành) trong các pháp vào mọi lúc, vào thời gian thường hằng, một cách liên tục, không ngừng nghỉ, không gián đoạn, nối tiếp nhau, như sóng nước dâng trào.
Avīcisantatisahitaṃ phassitaṃ purebhattaṃ pacchābhattaṃ purimayāmaṃ majjhimayāmaṃ pacchimayāmaṃ kāḷe juṇhe vasse hemante gimhe purime vayokhandhe majjhime vayokhandhe pacchime vayokhandhe carati viharati iriyati vatteti pāleti yapeti yāpetīti – dhammesu niccaṃ anudhammacārī.
before the meal and after the meal, in the first watch of the night, the middle watch of the night, and the last watch of the night, in the dark fortnight and the bright fortnight, in the rainy season, the winter season, and the summer season, in the first stage of life, the middle stage of life, and the last stage of life, he fares, dwells, comports himself, proceeds, maintains, and keeps himself going. This is the meaning of the phrase, 'always practicing in accordance with the Dhamma among the dhammas'.
(Thực hành) không gián đoạn, liên tục, tiếp xúc; trước bữa ăn, sau bữa ăn, trong canh đầu, trong canh giữa, trong canh cuối, trong hắc nguyệt, trong bạch nguyệt, trong mùa mưa, trong mùa đông, trong mùa hè, trong sơ niên, trong trung niên, trong hậu niên; vị ấy thực hành, trú ngụ, đi lại, hành xử, duy trì, bảo tồn, tiếp tục. Như thế là ‘luôn thực hành pháp tùy pháp trong các pháp’.
Ādīnavaṃ sammasitā bhavesūti ‘‘sabbe saṅkhārā aniccā’’ti ādīnavaṃ sammasitā bhavesu, ‘‘sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti…pe… ‘‘sabbe dhammā anattā’’ti…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ, sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti ādīnavaṃ sammasitā bhavesūti – ādīnavaṃ sammasitā bhavesu, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
Regarding 'having comprehended the danger in existences': By comprehending, 'All formations are impermanent,' one has comprehended the danger in existences. By comprehending, 'All formations are suffering'… By comprehending, 'All phenomena are not-self'… By comprehending, 'Whatever is subject to origination is all subject to cessation,' one has comprehended the danger in existences. This is the meaning of the phrase, 'having comprehended the danger in existences, one should wander alone like a rhinoceros horn.' Therefore that Paccekasambuddha said:
Ādīnavaṃ sammasitā bhavesūti (sau khi đã thẩm sát sự nguy hại ở trong các cõi hữu) có nghĩa là: sau khi đã thẩm sát sự nguy hại ở trong các cõi hữu rằng: ‘tất cả các pháp hữu vi là vô thường,’ sau khi đã thẩm sát sự nguy hại ở trong các cõi hữu rằng: ‘tất cả các pháp hữu vi là khổ,’ ... v.v... rằng: ‘tất cả các pháp là vô ngã,’ ... v.v... rằng: ‘bất cứ cái gì có bản chất sanh khởi, tất cả cái ấy có bản chất đoạn diệt,’ – sau khi đã thẩm sát sự nguy hại ở trong các cõi hữu, hãy sống một mình như sừng tê ngưu. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
‘‘Paṭisallānaṃ jhānamariñcamāno, dhammesu niccaṃ anudhammacārī;
Ādīnavaṃ sammasitā bhavesu, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“Not abandoning jhāna in seclusion, always practicing in accordance with the Dhamma among the dhammas; having comprehended the danger in existences, one should wander alone like a rhinoceros horn.”
“Không từ bỏ sự ẩn dật và thiền định, luôn luôn thực hành các pháp tùy pháp, sau khi đã thẩm sát sự nguy hại ở trong các cõi hữu, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.”
156.
156.
156.
Taṇhakkhayaṃ patthayamappamatto, aneḷamūgo † sutavā satīmā;
Saṅkhātadhammo niyato padhānavā, eko care khaggavisāṇakappo.
Aspiring for the destruction of craving, heedful, not dull-witted, learned, mindful; having comprehended the Dhamma, resolute and striving, one should wander alone like a rhinoceros.
“Mong cầu sự đoạn tận ái, không dể duôi, không ngu dốt, có học thức, có chánh niệm, đã liễu tri các pháp, có định tánh, có sự tinh tấn, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.”
Taṇhakkhayaṃ patthayamappamattoti. Taṇhāti rūpataṇhā…pe… dhammataṇhā. Taṇhakkhayanti rāgakkhayaṃ dosakkhayaṃ mohakkhayaṃ gatikkhayaṃ upapattikkhayaṃ paṭisandhikkhayaṃ bhavakkhayaṃ saṃsārakkhayaṃ vaṭṭakkhayaṃ patthayanto icchanto sādiyanto pihayanto abhijappantoti – taṇhakkhayaṃ patthayaṃ. Appamattoti so paccekasambuddho sakkaccakārī sātaccakārī…pe… appamādo kusalesu dhammesūti – taṇhakkhayaṃ patthayamappamatto.
Regarding 'aspiring for the destruction of craving, heedful': 'Craving' is craving for forms… and so on… craving for mental phenomena. 'The destruction of craving' means Nibbāna, which is the destruction of lust, the destruction of hatred, the destruction of delusion, the destruction of destination, the destruction of rebirth, the destruction of relinking, the destruction of the outflows, the destruction of saṃsāra, and the destruction of the round. One who is aspiring for, wishing for, delighting in, yearning for, and longing for it—thus 'aspiring for the destruction of craving.' 'Heedful': that Paccekasambuddha acts with reverence, acts continuously… and so on… is heedful in regard to wholesome states. Thus: 'aspiring for the destruction of craving, heedful'.
Taṇhakkhayaṃ patthayamappamattoti (mong cầu sự đoạn tận ái, không dể duôi). Taṇhā (ái) là sắc ái, ... v.v... pháp ái. Taṇhakkhayaṃ (sự đoạn tận ái) là sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si, sự đoạn tận thú, sự đoạn tận sanh thú, sự đoạn tận tái sanh, sự đoạn tận cõi hữu, sự đoạn tận vòng luân hồi, sự đoạn tận vòng luân chuyển; patthayanto (mong cầu) là đang mong muốn, đang ước muốn, đang vui thích, đang khao khát, đang ao ước – (như thế là) taṇhakkhayaṃ patthayaṃ. Appamattoti (không dể duôi) có nghĩa là vị Phật Độc Giác ấy là vị làm một cách trân trọng, là vị làm một cách liên tục, ... v.v... là vị không dể duôi ở trong các thiện pháp – (như thế là) taṇhakkhayaṃ patthayamappamatto.
Aneḷamūgo sutavā satīmāti. Aneḷamūgoti so paccekasambuddho paṇḍito paññavā buddhimā ñāṇī vibhāvī medhāvī. Sutavāti so paccekasambuddho bahussuto hoti sutadharo sutasanniccayo. Ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthaṃ sabyañjanaṃ kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ abhivadanti, tathārūpāssa dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā. Satīmāti so paccekasambuddho satimā hoti paramena satinepakkena samannāgatattā cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritāti – aneḷamūgo sutavā satīmā.
Regarding 'not dull-witted, learned, and mindful': 'Not dull-witted' means that the Paccekabuddha is wise, discerning, intelligent, knowledgeable, insightful, and sagacious. 'Learned' means that the Paccekabuddha is very learned, a bearer of what he has learned, a repository of what he has learned. Those teachings that are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, with the right meaning and phrasing, which proclaim the spiritual life that is perfectly complete and pure—such teachings have been much learned by him, retained, familiarized by recitation, examined by the mind, and well penetrated by view. 'Mindful' means that the Paccekabuddha is mindful, endowed with supreme mindfulness and prudence, able to recall and recollect what was done and said long ago. Thus: 'not dull-witted, learned, and mindful'.
Aneḷamūgo sutavā satīmāti (không ngu dốt, có học thức, có chánh niệm). Aneḷamūgoti (không ngu dốt) có nghĩa là vị Phật Độc Giác ấy là bậc hiền trí, là bậc có trí tuệ, là bậc có sự giác ngộ, là bậc có tri kiến, là bậc có sự sáng suốt, là bậc có minh mẫn. Sutavāti (có học thức) có nghĩa là vị Phật Độc Giác ấy là bậc đa văn, là bậc thọ trì sở văn, là bậc tích lũy sở văn. Các pháp nào là toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú, hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh, tuyên thuyết về phạm hạnh, các pháp có thể loại như vậy đã được vị ấy nghe nhiều, đã được thọ trì, đã được thực hành bằng lời, đã được quán xét bằng ý, đã được khéo thông đạt bằng trí tuệ. Satīmāti (có chánh niệm) có nghĩa là vị Phật Độc Giác ấy là bậc có chánh niệm; do vì đã thành tựu chánh niệm và sự thận trọng cao thượng, vị ấy là người có thể nhớ lại, có thể hồi tưởng lại việc đã làm từ lâu và lời đã nói từ lâu – (như thế là) aneḷamūgo sutavā satīmā.
Saṅkhātadhammo niyato padhānavāti saṅkhātadhammo vuccati ñāṇaṃ. Yā paññā pajānanā…pe… amoho dhammavicayo sammādiṭṭhi. Saṅkhātadhammoti so paccekasambuddho saṅkhātadhammo ñātadhammo tulitadhammo tīritadhammo vibhūtadhammo vibhāvitadhammo ‘‘sabbe saṅkhārā aniccā’’ti saṅkhātadhammo…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti saṅkhātadhammo ñātadhammo tulitadhammo tīritadhammo vibhūtadhammo vibhāvitadhammo. Atha vā, tassa paccekasambuddhassa ca khandhā saṃkhittā dhātuyo saṃkhittā āyatanāni saṃkhittāni gatiyo saṃkhittā upapattiyo saṃkhittā paṭisandhiyo saṃkhittā bhavā saṃkhittā saṃsārā saṃkhittā vaṭṭā saṃkhittā. Atha vā, so paccekasambuddho khandhapariyante ṭhito dhātupariyante ṭhito āyatanapariyante ṭhito gatipariyante ṭhito upapattipariyante ṭhito paṭisandhipariyante ṭhito bhavapariyante ṭhito saṃsārapariyante ṭhito vaṭṭapariyante ṭhito saṅkhārapariyante ṭhito antimabhave † ṭhito antimasamussaye ṭhito antimadehadharo paccekasambuddho.
Regarding 'one who has comprehended the Dhamma, is resolute, and is striving': 'Comprehended Dhamma' is called knowledge. It is the wisdom, understanding… non-delusion, investigation of phenomena, right view. 'One who has comprehended the Dhamma': that Paccekabuddha has comprehended the Dhamma, known the Dhamma, weighed the Dhamma, judged the Dhamma, made the Dhamma clear, and developed the Dhamma. He has comprehended the Dhamma that 'all formations are impermanent'… that 'whatever is subject to origination is all subject to cessation.' Alternatively, for that Paccekabuddha, the aggregates are comprehended, the elements are comprehended, the sense bases are comprehended, the destinations are comprehended, the rebirths are comprehended, the relinkings are comprehended, the existences are comprehended, the rounds of existence are comprehended, and the rounds are comprehended. Alternatively, that Paccekabuddha stands at the end of the aggregates, at the end of the elements, at the end of the sense bases, at the end of the destinations, at the end of the rebirths, at the end of the relinkings, at the end of the existences, at the end of the rounds of existence, at the end of the rounds, at the end of formations, standing in his final existence, in his final embodiment, bearing his final body, a Paccekabuddha.
Saṅkhātadhammo niyato padhānavāti (đã liễu tri các pháp, có định tánh, có sự tinh tấn). Saṅkhātadhammo (pháp đã được liễu tri) được gọi là trí tuệ. Trí tuệ nào là sự hiểu biết, ... v.v... sự không si mê, sự trạch pháp, chánh kiến. Saṅkhātadhammoti (đã liễu tri các pháp) có nghĩa là vị Phật Độc Giác ấy là vị đã liễu tri các pháp, đã biết rõ các pháp, đã cân nhắc các pháp, đã thẩm định các pháp, đã làm cho các pháp được hiển hiện, đã làm cho các pháp được tu tập; là vị đã liễu tri các pháp rằng: ‘tất cả các pháp hữu vi là vô thường,’ ... v.v... là vị đã liễu tri các pháp, đã biết rõ các pháp, đã cân nhắc các pháp, đã thẩm định các pháp, đã làm cho các pháp được hiển hiện, đã làm cho các pháp được tu tập rằng: ‘bất cứ cái gì có bản chất sanh khởi, tất cả cái ấy có bản chất đoạn diệt.’ Hoặc nữa, đối với vị Phật Độc Giác ấy các uẩn đã được liễu tri, các giới đã được liễu tri, các xứ đã được liễu tri, các thú đã được liễu tri, các sanh thú đã được liễu tri, các sự tái sanh đã được liễu tri, các cõi hữu đã được liễu tri, các vòng luân hồi đã được liễu tri, các vòng luân chuyển đã được liễu tri. Hoặc nữa, vị Phật Độc Giác ấy đứng ở điểm tận cùng của các uẩn, đứng ở điểm tận cùng của các giới, đứng ở điểm tận cùng của các xứ, đứng ở điểm tận cùng của các thú, đứng ở điểm tận cùng của các sanh thú, đứng ở điểm tận cùng của sự tái sanh, đứng ở điểm tận cùng của các cõi hữu, đứng ở điểm tận cùng của vòng luân hồi, đứng ở điểm tận cùng của vòng luân chuyển, đứng ở điểm tận cùng của các pháp hữu vi, đứng ở cõi hữu cuối cùng, đứng ở thân thể cuối cùng, vị Phật Độc Giác là người mang thân cuối cùng.
Tassāyaṃ pacchimako bhavo, carimoyaṃ samussayo;
Jātimaraṇasaṃsāro †, natthi tassa punabbhavoti.
For him, this is the last existence; this is the final embodiment. The round of birth and death, renewed existence, does not exist for him.
“Đối với vị ấy, đây là cõi hữu cuối cùng, đây là thân thể sau rốt. Vòng luân hồi sanh tử, sự tái sanh là không có đối với vị ấy.”
Taṃkāraṇā paccekasambuddho saṅkhātadhammo. Niyatoti niyāmā vuccanti cattāro ariyamaggā. Catūhi ariyamaggehi samannāgatoti niyato. Niyāmaṃ patto sampatto adhigato phassito sacchikato patto niyāmaṃ. Padhānavāti padhānaṃ vuccati vīriyaṃ. So cetaso vīriyārambho nikkamo parakkamo uyyāmo vāyāmo ussāho ussoḷhī thāmo dhiti asithilaparakkamo anikkhittacchandatā anikkhittadhuratā dhurasampaggāho vīriyaṃ vīriyindriyaṃ vīriyabalaṃ sammāvāyāmo. So paccekasambuddho iminā padhānena upeto samupeto upāgato samupāgato upapanno samupapanno samannāgato. Tasmā so paccekasambuddho padhānavāti – saṅkhātadhammo niyato padhānavā, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
For that reason, the Paccekasambuddha is one who has comprehended the Dhamma. Regarding 'resolute': the fixed course is said to be the four noble paths. Because he is endowed with the four noble paths, he is resolute. He has reached, attained, realized, touched, and personally experienced the fixed course. Regarding 'endowed with striving': striving is called energy. It is the launching of mental energy, exertion, endeavor, effort, striving, vigor, ardor, strength, persistence, unflagging perseverance, not laying down the aspiration, not laying down the burden, taking up the burden; it is energy, the energy faculty, the energy power, right effort. That Paccekasambuddha is endowed with, fully endowed with, possessed of, and complete in this striving. Therefore that Paccekasambuddha is endowed with striving. Thus: 'one who has comprehended the Dhamma, is resolute, and is endowed with striving, one should wander alone like the horn of a rhinoceros.' Therefore that Paccekasambuddha said:
Vì lý do ấy, vị Phật Độc Giác là bậc đã liễu tri các pháp. Niyatoti (có định tánh): Bốn Thánh đạo được gọi là định tánh. Do đã thành tựu bốn Thánh đạo nên (gọi là) niyato (có định tánh). Đã đạt đến, đã thành tựu, đã chứng đắc, đã tiếp xúc, đã chứng ngộ định tánh. Padhānavāti (có sự tinh tấn): Sự tinh tấn được gọi là padhāna (sự nỗ lực). Sự khởi đầu tinh tấn của tâm ấy, sự nỗ lực, sự cố gắng, sự chuyên cần, sự tinh cần, sự hăng hái, sự nhiệt tâm, sự kiên trì, sự bền bỉ, sự nỗ lực không sút giảm, trạng thái không từ bỏ ý muốn, trạng thái không từ bỏ trách nhiệm, sự gánh vác trách nhiệm, sự tinh tấn, tinh tấn căn, tinh tấn lực, chánh tinh tấn. Vị Phật Độc Giác ấy đã đạt đến, đã thành tựu, đã đến gần, đã đến gần một cách tốt đẹp, đã có được, đã thành tựu, đã hội đủ sự nỗ lực này. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy là bậc có sự tinh tấn – (như thế là) saṅkhātadhammo niyato padhānavā, hãy sống một mình như sừng tê ngưu. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
‘‘Taṇhakkhayaṃ patthayamappamatto, aneḷamūgo sutavā satīmā;
Saṅkhātadhammo niyato padhānavā, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
Aspiring for the destruction of craving, heedful, not dull-witted, learned, mindful; having comprehended the Dhamma, resolute, and endowed with striving, one should wander alone like the horn of a rhinoceros.
“Mong cầu sự đoạn tận ái, không dể duôi, không ngu dốt, có học thức, có chánh niệm, đã liễu tri các pháp, có định tánh, có sự tinh tấn, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.”
157.
157.
157.
Sīhova saddesu asantasanto, vātova jālamhi asajjamāno;
Padumaṃva toyena alimpamāno †, eko care khaggavisāṇakappo.
Like a lion, untrembling at sounds; like the wind, not caught in a net; like a lotus, unsullied by water, one should wander alone like the horn of a rhinoceros.
“Như sư tử không run sợ trước các tiếng động, như ngọn gió không bị dính mắc trong lưới, như hoa sen không bị nước làm cho lấm lem, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.”
Sīhova saddesu asantasantoti yathā sīho migarājā saddesu asantāsī aparisantāsī anutrāsī anubbiggo anussaṅkī † anutrāso abhīrū acchambhī anutrāsī apalāyī, paccekasambuddhopi saddesu asantāsī aparisantāsī anutrāsī anubbiggo anussaṅkī anutrāso abhīrū acchambhī anutrāsī apalāyī pahīnabhayabheravo vigatalomahaṃso viharatīti – sīhova saddesu asantasanto.
Regarding 'like a lion, untrembling at sounds': Just as a lion, the king of beasts, is untrembling at sounds—not trembling, not terrified, not agitated, not alarmed, without terror, fearless, dauntless, not terrified, and not fleeing—so too the Paccekasambuddha is untrembling at sounds—not trembling, not terrified, not agitated, not alarmed, without terror, fearless, dauntless, not terrified, and not fleeing. He dwells having abandoned fear and terror, with goosebumps subsided. Thus: 'like a lion, untrembling at sounds'.
Sīhova saddesu asantasantoti (như sư tử không run sợ trước các tiếng động) có nghĩa là: giống như sư tử, vua của các loài thú, là không run sợ, không hoảng sợ, không kinh hãi, không bị kích động, không nghi ngờ, không khiếp sợ, không sợ hãi, không kinh hoàng, không hốt hoảng, không bỏ chạy trước các tiếng động; vị Phật Độc Giác cũng vậy, là không run sợ, không hoảng sợ, không kinh hãi, không bị kích động, không nghi ngờ, không khiếp sợ, không sợ hãi, không kinh hoàng, không hốt hoảng, không bỏ chạy trước các tiếng động, đã từ bỏ sự sợ hãi và kinh khiếp, đã loại trừ sự dựng tóc gáy, và an trú – (như thế là) sīhova saddesu asantasanto.
Vātova jālamhi asajjamānoti. Vātoti puratthimā vātā pacchimā vātā uttarā vātā dakkhiṇā vātā sarajā vātā arajā vātā sītā vātā uṇhā vātā parittā vātā adhimattā vātā verambhavātā pakkhavātā † supaṇṇavātā tālapaṇṇavātā vidhūpanavātā. Jālaṃ vuccati suttajālaṃ. Yathā vāto jālamhi na sajjati na gaṇhāti na bajjhati na palibajjhati, evameva dve jālā – taṇhājālañca diṭṭhijālañca…pe… idaṃ taṇhājālaṃ…pe… idaṃ diṭṭhijālaṃ. Tassa paccekasambuddhassa taṇhājālaṃ pahīnaṃ diṭṭhijālaṃ paṭinissaṭṭhaṃ, taṇhājālassa pahīnattā diṭṭhijālassa paṭinissaṭṭhattā so paccekasambuddho rūpe na sajjati sadde na sajjati…pe… diṭṭhasutamutaviññātabbesu dhammesu na sajjati na gaṇhāti na bajjhati na palibajjhati nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – vātova jālamhi asajjamāno.
Like the wind not caught in a net: ‘The wind’ means the east wind, the west wind, the north wind, the south wind, dusty wind, dustless wind, cold wind, hot wind, slight wind, strong wind, the Verambha wind, the wing wind, the Supaṇṇa wind, the Tālapaṇṇa wind, and the Vidhūpana wind. ‘A net’ is said to be a net of thread. Just as the wind is not caught in a net, does not grasp it, is not bound by it, and is not entangled in it, so too there are two nets: the net of craving and the net of views.... this is the net of craving... this is the net of views. For that Paccekasambuddha, the net of craving has been abandoned, the net of views relinquished. Because the net of craving has been abandoned and the net of views has been relinquished, that Paccekasambuddha is not caught by form, is not caught by sound... is not caught by things seen, heard, sensed, or cognized; he does not grasp, is not bound, is not entangled. He has gone forth, departed, is released, detached, and dwells with a mind that is without boundaries—like the wind not caught in a net.
(Như) gió không bị vướng mắc ở trong lưới. Gió là: Các loại gió từ phương đông, các loại gió từ phương tây, các loại gió từ phương bắc, các loại gió từ phương nam, các loại gió có bụi, các loại gió không có bụi, các loại gió lạnh, các loại gió nóng, các loại gió nhẹ, các loại gió mạnh, các loại gió từ trên cao, các loại gió do cánh, các loại gió do (chim) supaṇṇa, các loại gió do lá cọ, các loại gió do quạt. Lưới được gọi là lưới bằng chỉ. Giống như gió không bị vướng mắc, không bị nắm bắt, không bị trói buộc, không bị ràng buộc ở trong lưới; tương tự y như thế, có hai loại lưới là: Lưới ái và lưới tà kiến ... (như trên) ... đây là lưới ái ... (như trên) ... đây là lưới tà kiến. Vị Phật Độc Giác ấy có lưới ái đã được đoạn tận, có lưới tà kiến đã được từ bỏ. Do bởi lưới ái đã được đoạn tận, do bởi lưới tà kiến đã được từ bỏ nên vị Phật Độc Giác ấy không bị vướng mắc ở sắc, không bị vướng mắc ở tiếng ... (như trên) ... không bị vướng mắc, không bị nắm bắt, không bị trói buộc, không bị ràng buộc ở các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết; vị ấy là người đã thoát ra, đã lìa bỏ, đã giải thoát, đã không còn phối hợp, trú ngụ với tâm không có giới hạn. (Nghĩa là) (như) gió không bị vướng mắc ở trong lưới.
Padumaṃva toyena alimpamānoti padumaṃ vuccati padumapupphaṃ. Toyaṃ vuccati udakaṃ. Yathā padumapupphaṃ toyena na limpati na palimpati na upalimpati, alittaṃ apalittaṃ anupalittaṃ, evameva dve lepā – taṇhālepo ca diṭṭhilepo ca…pe… ayaṃ taṇhālepo…pe… ayaṃ diṭṭhilepo. Tassa paccekasambuddhassa taṇhālepo pahīno, diṭṭhilepo paṭinissaṭṭho. Taṇhālepassa pahīnattā diṭṭhilepassa paṭinisaṭṭhattā so paccekasambuddho rūpe na limpati sadde na limpati…pe… diṭṭhasutamutaviññātabbesu dhammesu na limpati na palimpati na upalimpati, alitto apalitto anupalitto nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – padumaṃva toyena alimpamāno, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
Like a lotus unstained by water: ‘Lotus’ is said to mean a lotus flower, and ‘water’ is said to mean water. Just as a lotus flower is not stained by water, not besmeared, not defiled—unstained, unbesmeared, undefiled—so too there are two stains: the stain of craving and the stain of views.... this is the stain of craving... this is the stain of views. For that Paccekasambuddha, the stain of craving has been abandoned, the stain of views relinquished. Because the stain of craving has been abandoned and the stain of views has been relinquished, that Paccekasambuddha is not stained by forms, not stained by sounds... is not stained by things seen, heard, sensed, or cognized—unstained, unbesmeared, undefiled. He has gone forth, departed, is released, detached, and dwells with a mind that is without boundaries. Thus: ‘Like a lotus unstained by water, one should wander alone like a rhinoceros.’ Therefore that Paccekasambuddha said:
(Như) hoa sen không bị nước làm cho lấm lem. Hoa sen được gọi là hoa paduma. Nước được gọi là toya. Giống như hoa sen không bị lấm lem, không bị dính chặt, không bị vấy bẩn bởi nước; là không bị lấm lem, không bị dính chặt, không bị vấy bẩn; tương tự y như thế, có hai sự lấm lem là: Sự lấm lem của ái và sự lấm lem của tà kiến ... (như trên) ... đây là sự lấm lem của ái ... (như trên) ... đây là sự lấm lem của tà kiến. Vị Phật Độc Giác ấy có sự lấm lem của ái đã được đoạn tận, có sự lấm lem của tà kiến đã được từ bỏ. Do bởi sự lấm lem của ái đã được đoạn tận, do bởi sự lấm lem của tà kiến đã được từ bỏ nên vị Phật Độc Giác ấy không bị lấm lem ở sắc, không bị lấm lem ở tiếng ... (như trên) ... không bị lấm lem, không bị dính chặt, không bị vấy bẩn ở các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết; vị ấy là người không bị lấm lem, không bị dính chặt, không bị vấy bẩn, là người đã thoát ra, đã lìa bỏ, đã giải thoát, đã không còn phối hợp, trú ngụ với tâm không có giới hạn. (Nghĩa là) (như) hoa sen không bị nước làm cho lấm lem, hãy sống một mình như sừng tê giác. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
‘‘Sīhova saddesu asantasanto, vātova jālamhi asajjamāno;
Padumaṃva toyena alimpamāno, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
Like a lion not trembling at sounds, like the wind not caught in a net, like a lotus unstained by water, one should wander alone like a rhinoceros horn.
“Như sư tử không kinh sợ các tiếng động, như gió không bị vướng mắc ở trong lưới, như hoa sen không bị nước làm cho lấm lem, hãy sống một mình như sừng tê giác.”
158.
158.
158.
Sīho yathā dāṭhabalī pasayha, rājā migānaṃ abhibhuyya cārī;
Sevetha pantāni senāsanāni, eko care khaggavisāṇakappo.
As a lion, strong with its fangs, the king of beasts, roams having conquered, one should frequent remote lodgings; one should wander alone like a rhinoceros horn.
Giống như sư tử có sức mạnh ở răng nanh, là vua của các loài thú, đi lại và chinh phục (các loài thú khác); nên lui tới các trú xứ xa vắng, hãy sống một mình như sừng tê giác.
Sīho yathā dāṭhabalī pasayha, rājā migānaṃ abhibhuyya cārīti yathā sīho migarājā dāṭhabalī dāṭhāvudho sabbe tiracchānagate pāṇe abhibhuyya abhibhavitvā ajjhottharitvā pariyādiyitvā madditvā carati viharati iriyati vatteti pāleti yapeti yāpeti, paccekasambuddhopi paññābalī paññāvudho sabbapāṇabhūte puggale paññāya abhibhuyya abhibhavitvā ajjhottharitvā pariyādiyitvā madditvā carati viharati iriyati vatteti pāleti yapeti yāpetīti – sīho yathā dāṭhabalī pasayha, rājā migānaṃ abhibhuyya cārī.
‘As a lion, strong with its fangs, the king of beasts, roams having conquered’: Just as the lion, the king of beasts, strong with its fangs and armed with its fangs, having overpowered, subdued, overwhelmed, utterly mastered, and crushed all animals, roams, dwells, moves about, proceeds, protects, and maintains itself; so too the Paccekasambuddha, strong with wisdom and armed with wisdom, having overpowered, subdued, overwhelmed, utterly mastered, and crushed all living beings and persons with wisdom, roams, dwells, moves about, proceeds, protects, and maintains himself. Thus: ‘As a lion, strong with its fangs, the king of beasts, roams having conquered.’
Giống như sư tử có sức mạnh ở răng nanh, là vua của các loài thú, đi lại và chinh phục (các loài thú khác) có nghĩa là: Giống như sư tử, vua của các loài thú, có sức mạnh ở răng nanh, có vũ khí là răng nanh, đi lại, trú ngụ, thực hành oai nghi, tồn tại, bảo trì, duy trì, tiếp tục sinh sống trong khi chinh phục, chế ngự, áp đảo, khuất phục, đàn áp tất cả các chúng sanh thuộc loài bàng sanh; vị Phật Độc Giác cũng có sức mạnh là trí tuệ, có vũ khí là trí tuệ, đi lại, trú ngụ, thực hành oai nghi, tồn tại, bảo trì, duy trì, tiếp tục sinh sống trong khi chinh phục, chế ngự, áp đảo, khuất phục, đàn áp tất cả các chúng sanh, các cá nhân bằng trí tuệ. (Nghĩa là) giống như sư tử có sức mạnh ở răng nanh, là vua của các loài thú, đi lại và chinh phục (các loài thú khác).
Sevetha pantāni senāsanānīti yathā sīho migarājā araññavanamajjhogāhetvā carati viharati iriyati vatteti pāleti yapeti yāpeti, paccekasambuddhopi araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevati appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppāni. So eko gacchati eko tiṭṭhati eko nisīdati eko seyyaṃ kappeti eko gāmaṃ piṇḍāya pavisati eko paṭikkamati eko raho nisīdati eko caṅkamaṃ adhiṭṭhāti eko carati viharati iriyati vatteti pāleti yapeti yāpetīti – sevetha pantāni senāsanāni, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
‘One should frequent remote lodgings’: Just as the lion, the king of beasts, having entered the middle of the forest wilderness, roams, dwells, moves about, proceeds, protects, and maintains itself, so too the Paccekasambuddha frequents remote lodgings in the forest wilderness—with little sound, with little noise, free from the bustle of people, fit for human seclusion, suitable for solitary retreat. He goes alone, stands alone, sits alone, makes his bed alone, enters the village for alms alone, returns alone, sits in seclusion alone, undertakes walking meditation alone; he roams, dwells, moves about, proceeds, protects, and maintains himself alone. Thus: ‘One should frequent remote lodgings; one should wander alone like a rhinoceros horn.’ Therefore that Paccekasambuddha said:
Nên lui tới các trú xứ xa vắng có nghĩa là: Giống như sư tử, vua của các loài thú, đi lại, trú ngụ, thực hành oai nghi, tồn tại, bảo trì, duy trì, tiếp tục sinh sống sau khi đã đi sâu vào giữa rừng rậm; vị Phật Độc Giác cũng thường lui tới các trú xứ xa vắng, ở trong rừng rậm, ít tiếng động, ít tiếng ồn, vắng người, kín đáo đối với con người, thích hợp cho việc độc cư. Vị ấy đi một mình, đứng một mình, ngồi một mình, nằm nghỉ một mình, đi vào làng để khất thực một mình, quay về một mình, ngồi ở nơi kín đáo một mình, kinh hành một mình; vị ấy đi lại, trú ngụ, thực hành oai nghi, tồn tại, bảo trì, duy trì, tiếp tục sinh sống một mình. (Nghĩa là) nên lui tới các trú xứ xa vắng, hãy sống một mình như sừng tê giác. Do đó, vị Phật Độc Giác ấy đã nói rằng:
‘‘Sīho yathā dāṭhabalī pasayha, rājā migānaṃ abhibhuyya cārī;
Sevetha pantāni senāsanāni, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
“As a lion, strong with its fangs, the king of beasts, roams having conquered, one should frequent remote lodgings; one should wander alone like a rhinoceros horn.”
“Giống như sư tử có sức mạnh ở răng nanh, là vua của các loài thú, đi lại và chinh phục (các loài thú khác); nên lui tới các trú xứ xa vắng, hãy sống một mình như sừng tê giác.”
159.
159.
159.
Mettaṃ upekkhaṃ karuṇaṃ vimuttiṃ, āsevamāno muditañca kāle;
Sabbena lokena avirujjhamāno, eko care khaggavisāṇakappo.
Cultivating at the proper time the liberation of mind through loving-kindness, equanimity, compassion, and sympathetic joy; not being in conflict with the entire world, one should wander alone like the horn of a rhinoceros.
Thực hành tâm giải thoát từ, bi, hỷ, và xả vào đúng thời điểm; không mâu thuẫn với tất cả thế gian, hãy sống một mình như sừng tê giác.
Mettaṃ upekkhaṃ karuṇaṃ vimuttiṃ, āsevamāno muditañca kāleti so paccekasambuddho mettāsahagatena cetasā ekaṃ disaṃ pharitvā viharati tathā dutiyaṃ tathā tatiyaṃ tathā catutthaṃ, iti uddhamadho tiriyaṃ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṃ lokaṃ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati; karuṇāsahagatena cetasā…pe… muditāsahagatena cetasā…pe… upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharatīti – mettaṃ upekkhaṃ karuṇaṃ vimuttiṃ, āsevamāno muditañca kāle.
‘Cultivating at the proper time the liberation of mind through loving-kindness, equanimity, compassion, and sympathetic joy’: That paccekasambuddha dwells pervading one direction with a mind accompanied by loving-kindness, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth. Thus above, below, and across, everywhere, and in every way, he dwells pervading the entire world with a mind accompanied by loving-kindness—vast, exalted, immeasurable, without enmity, and without ill will. With a mind accompanied by compassion... with a mind accompanied by sympathetic joy... with a mind accompanied by equanimity, he dwells pervading the world with a mind that is vast, exalted, immeasurable, without enmity, and without ill will. This is the meaning of: ‘Cultivating at the proper time the liberation of mind through loving-kindness, equanimity, compassion, and sympathetic joy.’
Thực hành tâm giải thoát từ, bi, hỷ, và xả vào đúng thời điểm có nghĩa là: Vị Phật Độc Giác ấy trú ngụ, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy đối với phương thứ hai, cũng vậy đối với phương thứ ba, cũng vậy đối với phương thứ tư. Như thế, vị ấy trú ngụ, biến mãn khắp thế gian, cùng khắp mọi nơi, bao trùm tất cả, trên, dưới, ngang, với tâm câu hữu với từ, quảng đại, đại hành, vô lượng, không oan trái, không sân hận; với tâm câu hữu với bi ... (như trên) ... với tâm câu hữu với hỷ ... (như trên) ... vị ấy trú ngụ, biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đại hành, vô lượng, không oan trái, không sân hận. (Nghĩa là) thực hành tâm giải thoát từ, bi, hỷ, và xả vào đúng thời điểm.
Sabbena lokena avirujjhamānoti mettāya bhāvitattā ye puratthimāya disāya sattā te appaṭikūlā honti, ye pacchimāya disāya sattā…pe… ye uttarāya disāya sattā… ye dakkhiṇāya disāya sattā… ye puratthimāya anudisāya sattā… ye pacchimāya anudisāya sattā… ye uttarāya anudisāya sattā… ye dakkhiṇāya anudisāya sattā… ye heṭṭhimāya † disāya sattā… ye uparimāya disāya sattā… ye dasasu disāsu sattā te appaṭikūlā honti. Karuṇāya bhāvitattā… muditāya bhāvitattā… upekkhāya bhāvitattā ye puratthimāya disāya sattā…pe… ye dasasu disāsu sattā te appaṭikūlā honti. Sabbena lokena avirujjhamānoti sabbena lokena avirujjhamāno, appaṭivirujjhamāno anāghātiyamāno † appaṭihaññamānoti – sabbena lokena avirujjhamāno, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
‘Not being in conflict with the entire world’: Because loving-kindness has been developed, the beings in the eastern direction are not hostile; the beings in the western direction... the beings in the northern direction... the beings in the southern direction... the beings in the northeastern direction... the beings in the southwestern direction... the beings in the northwestern direction... the beings in the southeastern direction... the beings in the direction below... the beings in the direction above... the beings in the ten directions are not hostile. Because compassion has been developed... because sympathetic joy has been developed... because equanimity has been developed, the beings in the eastern direction... the beings in the ten directions are not hostile. ‘Not being in conflict with the entire world’ means not being in conflict with the entire world, not being opposed in return, not being harmed, and not being struck back. Thus: ‘Not being in conflict with the entire world, one should wander alone like the horn of a rhinoceros.’ Therefore, that paccekasambuddha said:
“Không mâu thuẫn với tất cả thế gian” (sabbena lokena avirujjhamāno) là: Do đã tu tập tâm từ, những chúng sanh nào ở phương đông, những chúng sanh ấy không có sự chướng ngại; những chúng sanh nào ở phương tây ... (vân vân) ... những chúng sanh nào ở phương bắc ... những chúng sanh nào ở phương nam ... những chúng sanh nào ở phương đông bắc ... những chúng sanh nào ở phương tây nam ... những chúng sanh nào ở phương tây bắc ... những chúng sanh nào ở phương đông nam ... những chúng sanh nào ở phương dưới ... những chúng sanh nào ở phương trên ... những chúng sanh nào ở mười phương, những chúng sanh ấy không có sự chướng ngại. Do đã tu tập tâm bi ... do đã tu tập tâm hỷ ... do đã tu tập tâm xả, những chúng sanh nào ở phương đông ... (vân vân) ... những chúng sanh nào ở mười phương, những chúng sanh ấy không có sự chướng ngại. “Không mâu thuẫn với tất cả thế gian” (sabbena lokena avirujjhamāno) là không mâu thuẫn với tất cả thế gian, không thường xuyên mâu thuẫn, không bị làm tổn hại, không thường xuyên bị làm tổn hại – (đây là ý nghĩa của) không mâu thuẫn với tất cả thế gian. Hãy sống một mình như sừng tê ngưu. Do đó, vị Độc Giác Phật ấy đã nói:
‘‘Mettaṃ upekkhaṃ karuṇaṃ vimuttiṃ, āsevamāno muditañca kāle;
Sabbena lokena avirujjhamāno, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
Cultivating loving-kindness, equanimity, compassion, liberation, and joy at the proper time, not being in conflict with the entire world, one should wander alone like a rhinoceros horn.
“Thực hành tâm từ, tâm xả, tâm bi, sự giải thoát, và tâm hỷ vào thời điểm thích hợp; không mâu thuẫn với tất cả thế gian, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.”
160.
160.
160.
Rāgañca dosañca pahāya mohaṃ, sandālayitvāna saṃyojanāni † ;
Asantasaṃ jīvitasaṅkhayamhi, eko care khaggavisāṇakappo.
Having abandoned lust, hatred, and delusion, and having shattered the fetters, not being frightened at the exhaustion of life, one should wander alone like a rhinoceros horn.
Từ bỏ tham, sân, và si, đã phá tan các kiết sử; không run sợ khi mạng sống kết thúc, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.
Rāgañca dosañca pahāya mohanti. Rāgoti yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Dosoti yo cittassa āghāto…pe… caṇḍikkaṃ asuropo anattamanatā cittassa. Mohoti dukkhe aññāṇaṃ…pe… avijjālaṅgī moho akusalamūlaṃ. Rāgañca dosañca pahāya mohanti so paccekasambuddho rāgañca dosañca mohañca pahāya pajahitvā vinodetvā byantīkaritvā anabhāvaṃ gametvāti – rāgañca dosañca pahāya mohaṃ.
‘Having abandoned lust, hatred, and delusion’: ‘Lust’ is any lust, passion... covetousness, greed, an unwholesome root. ‘Hatred’ is any vexation of mind... ferocity, harshness, mental displeasure. ‘Delusion’ is ignorance concerning suffering... the bolt of ignorance, delusion, an unwholesome root. ‘Having abandoned lust, hatred, and delusion’: that Paccekasambuddha has abandoned lust, hatred, and delusion; having given them up, dispelled them, terminated them, and brought them to non-existence. Thus: ‘Having abandoned lust, hatred, and delusion.’
“Từ bỏ tham, sân, và si” (rāgañca dosañca pahāya mohaṃ). Tham (rāgo) là: sự tham ái, sự tham ái mãnh liệt ... (vân vân) ... sự tham lam, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. Sân (doso) là: sự tổn hại của tâm ... (vân vân) ... sự hung dữ, sự không hài lòng, sự bất mãn của tâm. Si (moho) là: sự không biết về khổ ... (vân vân) ... vô minh là then cài, sự mê mờ, là gốc rễ bất thiện. “Từ bỏ tham, sân, và si” (rāgañca dosañca pahāya mohaṃ) là vị Độc Giác Phật ấy đã từ bỏ, đã đoạn trừ, đã loại bỏ, đã làm cho chấm dứt, đã làm cho không còn tái sanh tham, sân, và si – (đây là ý nghĩa của) “từ bỏ tham, sân, và si”.
Sandālayitvāna saṃyojanānīti. Dasa saṃyojanāni – kāmarāgasaṃyojanaṃ paṭighasaṃyojanaṃ…pe… avijjāsaṃyojanaṃ. Sandālayitvāna saṃyojanānīti dasa saṃyojanāni sandālayitvā padālayitvā sampadālayitvā pajahitvā vinodetvā byantīkaritvā anabhāvaṃ gametvāti – sandālayitvāna saṃyojanāni.
‘Having shattered the fetters’: There are ten fetters: the fetter of sensual lust, the fetter of aversion... the fetter of ignorance. ‘Having shattered the fetters’ means having well shattered, smashed, and utterly demolished the ten fetters; having abandoned them, dispelled them, terminated them, and brought them to non-existence. Thus: ‘Having shattered the fetters.’
“Đã phá tan các kiết sử” (sandālayitvāna saṃyojanāni). Mười kiết sử là: tham dục kiết sử, sân kiết sử ... (vân vân) ... vô minh kiết sử. “Đã phá tan các kiết sử” (sandālayitvāna saṃyojanāni) là đã phá tan, đã phá vỡ, đã phá tan hoàn toàn, đã từ bỏ, đã loại bỏ, đã làm cho chấm dứt, đã làm cho không còn tái sanh mười kiết sử – (đây là ý nghĩa của) “đã phá tan các kiết sử”.
Asantasaṃ jīvitasaṅkhayamhīti so paccekasambuddho jīvitapariyosāne asantāsī anutrāsī anubbiggo anussaṅkī anutrāso abhīrū acchambhī anutrāsī apalāyī pahīnabhayabheravo vigatalomahaṃso viharatīti – asantasaṃ jīvitasaṅkhayamhi, eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
‘Not being frightened at the exhaustion of life’: At the end of his life, that Paccekasambuddha is not frightened by craving, not terrified, not agitated, not anxious; he is without terror, fearless, undaunted, not terrified, not one to flee; he dwells having abandoned fear and dread, free from horripilation. Thus: ‘Not being frightened at the exhaustion of life, one should wander alone like a rhinoceros horn.’ Therefore, that Paccekasambuddha said:
“Không run sợ khi mạng sống kết thúc” (asantasaṃ jīvitasaṅkhayamhi) là vị Độc Giác Phật ấy vào lúc cuối đời, vị ấy không run sợ, không kinh hãi, không lo lắng, không hoài nghi, không kinh hãi, không sợ hãi, không sững sờ, không kinh hãi, không bỏ chạy, đã từ bỏ sự sợ hãi và kinh hoàng, đã hết sự dựng tóc gáy, vị ấy trú ngụ – (đây là ý nghĩa của) “không run sợ khi mạng sống kết thúc”. Hãy sống một mình như sừng tê ngưu. Do đó, vị Độc Giác Phật ấy đã nói:
‘‘Rāgañca dosañca pahāya mohaṃ, sandālayitvāna saṃyojanāni;
Asantasaṃ jīvitasaṅkhayamhi, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
Having abandoned lust, hatred, and delusion, and having shattered the fetters, not being frightened at the exhaustion of life, one should wander alone like a rhinoceros horn.
“Từ bỏ tham, sân, và si, đã phá tan các kiết sử; không run sợ khi mạng sống kết thúc, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.”
161.
161.
161.
Bhajanti sevanti ca kāraṇatthā, nikkāraṇā dullabhā ajja mittā;
Attatthapaññā † asucī manussā, eko care khaggavisāṇakappo.
They associate and serve for their own interest; friends without a cause are difficult to find today. Humans are discerning only for their own benefit, and are impure; one should wander alone like a rhinoceros horn.
Họ kết giao và thân cận vì có nguyên do (lợi ích), ngày nay, bạn bè không vì nguyên do (lợi ích) thì khó tìm; con người chỉ thấy lợi ích cho bản thân, không trong sạch, hãy sống một mình như sừng tê ngưu.
Bhajanti sevanti ca kāraṇatthāti attatthakāraṇā paratthakāraṇā ubhayatthakāraṇā diṭṭhadhammikatthakāraṇā samparāyikatthakāraṇā paramatthakāraṇā bhajanti sambhajanti sevanti nisevanti saṃsevanti paṭisevantīti – bhajanti sevanti ca kāraṇatthā.
‘They associate and serve for a reason’: For the sake of their own benefit, for the sake of the benefit of others, for the sake of the benefit of both, for the sake of benefit in this present life, for the sake of benefit in the life to come, for the sake of the ultimate benefit—they associate, closely associate, attend, attend closely, attend well, and attend repeatedly. Thus: ‘They associate and serve for a reason.’
“Họ kết giao và thân cận vì có nguyên do” (bhajanti sevanti ca kāraṇatthā) là: vì lợi ích của bản thân, vì lợi ích của người khác, vì lợi ích của cả hai, vì lợi ích trong hiện tại, vì lợi ích trong tương lai, vì lợi ích tối thượng, họ kết giao, kết giao tốt, thân cận, thân cận đặc biệt, thân cận tốt, thân cận nhiều lần – (đây là ý nghĩa của) “họ kết giao và thân cận vì có nguyên do”.
Nikkāraṇā dullabhā ajja mittāti dve mittā – agārikamitto ca anāgārikamitto ca…pe… ayaṃ agārikamitto…pe… ayaṃ anāgārikamitto. Nikkāraṇā dullabhā ajja mittāti ime dve mittā akāraṇā nikkāraṇā ahetū appaccayā dullabhā (dulladdhā sudulladdhā) † ti – nikkāraṇā dullabhā ajja mittā.
‘Friends without a reason are hard to find today’: There are these two kinds of friends: a householder friend and a homeless friend…pe… this is a householder friend…pe… this is a homeless friend. ‘Friends without a reason are hard to find today’: These two kinds of friends are hard to find (difficult to obtain, very difficult to obtain) without a cause, without a reason, without a ground, without a condition—thus, ‘friends without a reason are hard to find today.’
“Ngày nay, bạn bè không vì nguyên do thì khó tìm” (nikkāraṇā dullabhā ajja mittā). Có hai loại bạn: bạn tại gia và bạn xuất gia ... (vân vân) ... đây là bạn tại gia ... (vân vân) ... đây là bạn xuất gia. “Ngày nay, bạn bè không vì nguyên do thì khó tìm” (nikkāraṇā dullabhā ajja mittā) là hai loại bạn này không có nguyên do, không có lý do, không có nhân, không có duyên thì khó tìm, khó có được, rất khó có được – (đây là ý nghĩa của) “ngày nay, bạn bè không vì nguyên do thì khó tìm”.
Attatthapaññā asucī manussāti. Attatthapaññāti attano atthāya attano hetu attano paccayā attano kāraṇā bhajanti sambhajanti sevanti nisevanti saṃsevanti paṭisevanti ācaranti samācaranti payirupāsanti paripucchanti paripañhantīti – attatthapaññā. Asucī manussāti asucinā kāyakammena samannāgatāti asucī manussā, asucinā vacīkammena samannāgatāti asucī manussā, asucinā manokammena samannāgatāti asucī manussā, asucinā pāṇātipātena…pe… asucinā adinnādānena… asucinā kāmesumicchācārena… asucinā musāvādena… asuciyā pisuṇāya vācāya samannāgatā… asuciyā pharusāya vācāya samannāgatā… asucinā samphappalāpena samannāgatā… asuciyā abhijjhāya samannāgatā… asucinā byāpādena samannāgatāti asucī manussā, asuciyā micchādiṭṭhiyā samannāgatāti asucī manussā, asuciyā cetanāya samannāgatāti asucī manussā, asuciyā patthanāya samannāgatāti asucī manussā, asucinā paṇidhinā samannāgatāti asucī manussā, asucī hīnā nihīnā omakā lāmakā chatukkā parittāti – attatthapaññā asucī manussā.
‘Wise for their own benefit, people are impure’: ‘Wise for their own benefit’ means that for their own benefit, for their own reason, for their own condition, and for their own cause, they associate, associate closely, serve, frequent, consort with, serve repeatedly, practice, practice well, attend upon, inquire, and question thoroughly. Thus, ‘wise for their own benefit.’ ‘People are impure’: They are endowed with impure bodily action, thus people are impure; endowed with impure verbal action, thus people are impure; endowed with impure mental action, thus people are impure; endowed with the impure act of destroying life…pe… taking what is not given… sexual misconduct… false speech… divisive speech… harsh speech… idle chatter… covetousness… ill will, thus people are impure; endowed with wrong view, thus people are impure; endowed with impure volition, thus people are impure; endowed with impure aspiration, thus people are impure; endowed with impure resolve, thus people are impure. They are impure, base, inferior, low, wicked, contemptible, and insignificant. Thus, ‘wise for their own benefit, people are impure.’
“Con người chỉ thấy lợi ích cho bản thân, không trong sạch” (attatthapaññā asucī manussā). “Chỉ thấy lợi ích cho bản thân” (attatthapaññā) là: vì lợi ích của mình, vì lý do của mình, vì duyên của mình, vì nguyên do của mình mà họ kết giao, kết giao tốt, thân cận, thân cận đặc biệt, thân cận tốt, thân cận nhiều lần, hành xử, hành xử tốt, hầu cận, hỏi han, cân nhắc – (đây là ý nghĩa của) “chỉ thấy lợi ích cho bản thân”. “Con người không trong sạch” (asucī manussā) là: được phú cho thân nghiệp không trong sạch, nên gọi là con người không trong sạch; được phú cho khẩu nghiệp không trong sạch, nên gọi là con người không trong sạch; được phú cho ý nghiệp không trong sạch, nên gọi là con người không trong sạch; được phú cho (hành vi) sát sanh không trong sạch ... (vân vân) ... trộm cắp không trong sạch ... tà dâm không trong sạch ... nói dối không trong sạch ... được phú cho lời nói đâm thọc không trong sạch ... lời nói thô ác không trong sạch ... lời nói vô ích không trong sạch ... được phú cho lòng tham lam không trong sạch ... được phú cho tâm sân hận không trong sạch, nên gọi là con người không trong sạch; được phú cho tà kiến không trong sạch, nên gọi là con người không trong sạch; được phú cho tư tác không trong sạch, nên gọi là con người không trong sạch; được phú cho ước muốn không trong sạch, nên gọi là con người không trong sạch; được phú cho nguyện vọng không trong sạch, nên gọi là con người không trong sạch; họ không trong sạch, thấp hèn, hạ liệt, tầm thường, yếu kém, xấu xa, ít ỏi (về thiện pháp) – (đây là ý nghĩa của) “con người chỉ thấy lợi ích cho bản thân, không trong sạch”.
Eko care khaggavisāṇakappoti. Ekoti so paccekasambuddho pabbajjāsaṅkhātena eko…pe… careti aṭṭha cariyāyo…pe… khaggavisāṇakappoti yathā khaggassa nāma visāṇaṃ ekaṃ hoti adutiyaṃ…pe… eko care khaggavisāṇakappo. Tenāha so paccekasambuddho –
'Wander alone like a rhinoceros horn': 'Alone' means that the Paccekasambuddha is alone in the sense of renunciation…pe… 'Wanders' means the eight kinds of conduct…pe… 'Like a rhinoceros horn' means: just as the horn of a rhinoceros is single, without a second…pe… one should wander alone like a rhinoceros horn. Therefore that Paccekasambuddha said:
“Hãy sống một mình như sừng tê ngưu” (eko care khaggavisāṇakappo). “Một mình” (eko) là vị Độc Giác Phật ấy là một mình theo nghĩa xuất gia ... (vân vân) ... “Hãy sống” (care) là tám loại hành vi ... (vân vân) ... “Như sừng tê ngưu” (khaggavisāṇakappo) là giống như sừng của con tê ngưu là một, không có cái thứ hai ... (vân vân) ... hãy sống một mình như sừng tê ngưu. Do đó, vị Độc Giác Phật ấy đã nói:
‘‘Bhajanti sevanti ca kāraṇatthā, nikkāraṇā dullabhā ajja mittā;
Attatthapaññā asucī manussā, eko care khaggavisāṇakappo’’ti.
"They associate and serve for a reason; friends without a reason are hard to find today. Selfishly wise and impure are human beings; one should wander alone like a rhinoceros horn."
“Họ thân cận và giao du là vì có nguyên nhân, ngày nay những người bạn không vì nguyên nhân thì khó tìm được. Con người chỉ biết đến lợi ích của bản thân, là những kẻ không trong sạch, hãy đi một mình như sừng tê giác.”
Catuttho vaggo.
The Fourth Chapter.
Phẩm thứ tư.
The Exposition of the Khaggavisāṇa Sutta is concluded.
Phần giải thích về kinh Sừng Tê Giác đã được hoàn tất.
Ajito tissametteyyo, puṇṇako atha mettagū;
Dhotako upasīvo ca, nando ca atha hemako.
Ajita, Tissametteyya, Puṇṇaka, and then Mettagū; Dhotaka and Upasīva, Nanda, and then Hemaka.
Vị Ajita, vị Tissametteyya, vị Puṇṇaka, rồi vị Mettagū; vị Dhotaka và vị Upasiva, và vị Nanda, rồi vị Hemaka.
Todeyya-kappā dubhayo, jatukaṇṇī ca paṇḍito;
Bhadrāvudho udayo ca, posālo cāpi brāhmaṇo;
Mogharājā ca medhāvī, piṅgiyo ca mahāisi.
Todeyya and Kappa, both, and Jatukaṇṇī the wise; Bhadrāvudha and Udaya, and Posāla the brahmin; Mogharājā the intelligent, and Piṅgiya the great seer.
Hai vị Todeyya và Kappa, và vị Jatukaṇṇī bậc hiền trí; vị Bhadrāvudha và vị Udaya, và cả vị Bà-la-môn Posāla; và vị Mogharāja bậc trí tuệ, và vị Piṅgiya bậc đại ẩn sĩ.
Soḷasānaṃ † panetesaṃ, brāhmaṇānaṃva sāsanaṃ;
Pārāyanānaṃ niddesā, tattakā ca bhavanti hi †.
Khaggavisāṇasuttānaṃ, niddesāpi tatheva ca;
Niddesā duvidhā ñeyyā, paripuṇṇā sulakkhitāti.
For these sixteen brahmins, there is the teaching; the expositions of the Pārāyana are just so many. And the expositions of the Khaggavisāṇa Suttas are likewise. The expositions should be known as twofold, complete, and well-marked.
Và lời giáo huấn cho mười sáu vị Bà-la-môn ấy, các phần giải thích của Pārāyana, quả thật có chừng ấy. Các phần giải thích của kinh Sừng Tê Giác cũng giống như vậy. Nên biết rằng hai loại giải thích đã được đầy đủ và được ghi nhận rõ ràng.
The Pāḷi of the Cūḷaniddesa is concluded.
Phần Pāḷi của Cūḷaniddesa (Tiểu Giải) đã được hoàn tất.