Bản dịch
CND 19 — Diễn Giải Kinh Mogharāja
15. Mogharājamāṇavapucchāniddesa
(Tôn giả Mogharāja nói rằng:) “Con đã hỏi vị dòng Sakya hai lần. Bậc Hữu Nhãn đã không giải đáp cho con. Và con đã được nghe rằng: ‘(Được hỏi) đến lần thứ ba, bậc Thiên Nhân Ẩn Sĩ (sẽ) giải đáp.’”
1. “ Giống như người đứng ở đỉnh đầu của ngọn núi đá, cũng giống như người có thể nhìn thấy dân chúng ở xung quanh, tương tự như thế ấy, bạch đấng Khôn Ngoan, bạch đấng Toàn Nhãn, sau khi bước lên tòa lâu đài làm bằng Giáo Pháp, xin bậc đã xa lìa sầu muộn hãy quan sát chúng sanh bị rơi vào sầu muộn, bị ngự trị bởi sanh và già .”
2. “ Đối với Ngài, không có bất cứ điều gì ở nơi đây là không được nhìn thấy, không được nhận thức, hoặc không thể biết được. Điều nào có thể biết được, Ngài đã biết rõ tất cả, vì thế đức Như Lai là bậc Toàn Nhãn .”
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
(Tôn giả Mogharāja nói rằng:) “Con đã hỏi vị dòng Sakya hai lần. Bậc Hữu Nhãn đã không giải đáp cho con. Và con đã được nghe rằng: ‘(Được hỏi) đến lần thứ ba, bậc Thiên Nhân Ẩn Sĩ (sẽ) giải đáp.’”
Thế giới này, thế giới khác,
thế giới Phạm Thiên luôn cả chư Thiên
không (thể) biết rõ quan điểm của Ngài,
của vị Gotama có danh tiếng.
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
“ Thế giới này, thế giới khác,
thế giới Phạm Thiên luôn cả chư Thiên
không (thể) biết rõ quan điểm của Ngài,
của vị Gotama có danh tiếng .”
Con đã đi đến bậc có nhãn quan vượt trội như vậy với ý định (hỏi) câu hỏi: Người đang xem xét thế giới như thế nào thì Tử Thần không nhìn thấy (người ấy)?
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
“Con đã đi đến bậc có nhãn quan vượt trội như vậy với ý định (hỏi) câu hỏi: Người đang xem xét thế giới như thế nào thì Tử Thần không nhìn thấy (người ấy)?”
Ngươi hãy xem xét thế giới là trống không, này Mogharāja, hãy luôn luôn có niệm. Sau khi nhổ lên tà kiến về bản ngã, như vậy có thể vượt qua Tử Thần. Người đang xem xét thế giới như vậy, Thần Chết không nhìn thấy (người ấy).
Bởi vì điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: “ Này các tỳ khưu, thân này không phải của các ngươi, cũng không phải của những người khác. Này các tỳ khưu, thân này nên được xem là nghiệp cũ đã được tạo tác, đã được cố ý, (và) được cảm thọ. Này các tỳ khưu, về điều ấy, vị đệ tử của các bậc Thánh, có sự nghe nhiều, khéo léo tác ý đúng đường lối về pháp tùy thuận duyên khởi như vầy: ‘Khi cái này có mặt, cái kia có mặt; do sự sanh khởi của cái này, cái kia sanh khởi. Khi cái này không có mặt, cái kia không có mặt; d0 sự diệt tận của cái này, cái kia diệt tận. Tức là, do duyên vô minh, các hành (sanh khởi); do duyên các hành, thức (sanh khởi); –nt– Như thế là sự sanh lên của toàn bộ khổ uẩn này. Nhưng chính do sự diệt tận hoàn toàn không còn luyến ái đối với vô minh, có sự diệt tận của các hành –nt– Như thế là sự diệt tận của toàn bộ khổ uẩn này ;" - xem xét thế giới là trống không còn là như vậy.
Bởi vì điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: “ Này các tỳ khưu, cái gì không phải là của các ngươi, các ngươi hãy dứt bỏ nó. Cái ấy, khi được các ngươi dứt bỏ, sẽ đưa đến sự lợi ích, sự hạnh phúc lâu dài cho các ngươi. Và này các tỳ khưu, cái gì không phải là của các ngươi? Này các tỳ khưu, sắc không phải là của các ngươi, các ngươi hãy dứt bỏ nó. Cái ấy, khi được các ngươi dứt bỏ, sẽ đưa đến sự lợi ích, sự hạnh phúc lâu dài cho các ngươi. Này các tỳ khưu, thọ không phải là của các ngươi, các ngươi hãy dứt bỏ nó. Cái ấy, khi được các ngươi dứt bỏ, sẽ đưa đến sự lợi ích, sự hạnh phúc lâu dài cho các ngươi.
– Tưởng không phải là của các ngươi, các ngươi hãy dứt bỏ nó. Cái ấy, khi được các ngươi dứt bỏ, sẽ đưa đến sự lợi ích, sự hạnh phúc lâu dài cho các ngươi. Các hành không phải là của các ngươi, các ngươi hãy dứt bỏ chúng. Những cái ấy, khi được các ngươi dứt bỏ, sẽ đưa đến sự lợi ích, sự hạnh phúc lâu dài cho các ngươi. Thức không phải là của các ngươi, các ngươi hãy dứt bỏ nó. Cái ấy, khi được các ngươi dứt bỏ, sẽ đưa đến sự lợi ích, sự hạnh phúc lâu dài cho các ngươi. Này các tỳ khưu, các ngươi nghĩ gì về điều ấy, là việc người ta có thể mang đi cỏ, củi, cành, lá ở khu rừng Jeta này, hoặc có thể đốt cháy chúng, hoặc có thể hành xử chúng tùy theo nhu cầu? Thậm chí ý nghĩ như vầy có thể khởi lên ở các ngươi rằng: ‘Có phải người ta mang chúng ta đi, hoặc đốt cháy chúng ta, hoặc hành xử chúng ta tùy theo nhu cầu không’?” “Bạch ngài, điều này không đúng.” “Điều ấy có nguyên nhân là gì?” “Bạch Ngài, bởi vì cái ấy (cỏ, củi, cành, lá) không phải là tự ngã của chúng con hoặc thuộc về tự ngã của chúng con.” “Này các tỳ khưu, tương tự y như thế, cái gì không phải là của các ngươi, các ngươi hãy dứt bỏ nó. Cái ấy, khi được các ngươi dứt bỏ, sẽ đưa đến sự lợi ích, sự hạnh phúc lâu dài cho các ngươi. Và này các tỳ khưu, cái gì không phải là của các ngươi? Này các tỳ khưu, sắc không phải là của các ngươi, các ngươi hãy dứt bỏ nó. Cái ấy, khi được các ngươi dứt bỏ, sẽ đưa đến sự lợi ích, sự hạnh phúc lâu dài cho các ngươi. Thọ – Tưởng – Các hành – Thức không phải là của các ngươi, các ngươi hãy dứt bỏ nó. Cái ấy, khi được các ngươi dứt bỏ, sẽ đưa đến sự lợi ích, sự hạnh phúc lâu dài cho các ngươi ;” - xem xét thế giới là trống không còn là như vậy.
Đại đức Ānanda đã nói với đức Thế Tôn điều này: “ Bạch Ngài, ‘thế giới là trống không, thế giới là trống không’ là điều được nói đến. Bạch Ngài, về phương diện nào thì được gọi là: ‘Thế giới là trống không’?” “Này Ānanda, bởi vì quả thật là trống không với tự ngã hoặc với cái thuộc về tự ngã; vì thế, được gọi là: ‘Thế giới là trống không.’ Và này Ānanda, cái gì là trống không với tự ngã hoặc với cái thuộc về tự ngã? Này Ānanda, Mắt là trống không với tự ngã hoặc với cái thuộc về tự ngã. Các sắc là trống không – Nhãn thức là trống không – Nhãn xúc là trống không – Cảm thọ nào sanh lên do duyên nhãn xúc, dầu là lạc, hay là khổ, hay là không khổ không lạc; cảm thọ ấy cũng là trống không. Tai là trống không – Các thinh là trống không – Mũi là trống không – Các hương là trống không – Lưỡi là trống không – Các vị là trống không – Thân là trống không – Các xúc là trống không –
– Ý là trống không – Các pháp là trống không – Ý thức là trống không – Ý xúc là trống không – Cảm thọ nào sanh lên do duyên ý xúc, dầu là lạc, hay là khổ, hay là không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng là trống không với tự ngã hoặc với cái thuộc về tự ngã. Này Ānanda, bởi vì quả thật là trống không với tự ngã hoặc với cái thuộc về tự ngã; vì thế, được gọi là: ‘Thế giới là trống không. ’” Xem xét thế giới là trống không còn là như vậy.
Bởi vì điều này cũng đã được nói ra:
“ Này trưởng làng, đối với người đang nhìn thấy đúng theo bản thể sự sanh lên của các pháp một cách rõ rệt, sự liên tục của các hành một cách rõ rệt thì không có sự sợ hãi .
Khi nào bằng trí tuệ nhìn thấy thế gian giống như cỏ và củi, thì không ước nguyện bất cứ điều gì khác, ngoại trừ sự không còn nối liền tái sanh. ”
Xem xét thế giới là trống không còn là như vậy.
Bởi vì điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: “ Này các tỳ khưu, tương tự y như thế, vị tỳ khưu quán sát sắc đến luôn cả tiến trình của sắc, quán sát thọ đến luôn cả tiến trình của thọ, quán sát tưởng đến luôn cả tiến trình của tưởng, quán sát các hành đến luôn cả tiến trình của các hành, quán sát thức đến luôn cả tiến trình của thức. Trong khi vị ấy đang quán sát sắc đến luôn cả tiến trình của sắc, trong khi đang quán sát thọ đến luôn cả tiến trình của thọ, trong khi đang quán sát tưởng đến luôn cả tiến trình của tưởng, trong khi đang quán sát các hành đến luôn cả tiến trình của các hành, trong khi đang quán sát thức đến luôn cả tiến trình của thức, ý niệm về ‘tôi’ hay ‘của tôi’ hay ‘tôi là’ đều không khởi lên ở vị ấy .” Xem xét thế giới là trống không còn là như vậy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Ngươi hãy xem xét thế giới là trống không,
này Mogharāja, hãy luôn luôn có niệm.
Sau khi nhổ lên tà kiến về bản ngã,
như vậy có thể vượt qua Tử Thần.
Người đang xem xét thế giới như vậy,
Thần Chết không nhìn thấy (người ấy) .”
Cùng với lúc kết thúc câu kệ ngôn, –nt– “Bạch Ngài, đức Thế Tôn là bậc đạo sư của con, con là người đệ tử.”
Diễn Giải Kinh Mogharāja được hoàn tất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tiểu Diễn Giải (Cūḷaniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Na me byākāsi cakkhumāti. Na me byākāsīti na me byākāsi na ācikkhi na desesi na paññapesi na paṭṭhapesi na vivari na vibhaji na uttānīakāsi na pakāsesi. Cakkhumāti bhagavā pañcahi cakkhūhi cakkhumā – maṃsacakkhunāpi cakkhumā, dibbacakkhunāpi † cakkhumā, paññācakkhunāpi cakkhumā, buddhacakkhunāpi cakkhumā, samantacakkhunāpi cakkhumā.
“The One with Vision did not declare to me.” “He did not declare to me” means He did not declare, did not announce, did not point out, did not designate, did not set forth, did not disclose, did not distinguish, did not make evident, did not reveal. “The One with Vision” means the Blessed One is the One with Vision on account of five eyes: He has the fleshly eye, the divine eye, the eye of wisdom, the eye of a Buddha, and the all-seeing eye.
“Na me byākāsi cakkhumāti (Bậc có mắt đã không trả lời cho tôi)”: “Na me byākāsi (ngài đã không trả lời cho tôi)” có nghĩa là: ngài đã không trả lời cho tôi, không nói, không thuyết giảng, không cho biết, không thiết lập, không khai mở, không phân tích, không làm cho rõ ràng, không hiển thị. “Cakkhumā (bậc có mắt)” có nghĩa là: Bậc Thế Tôn là bậc có mắt do có năm loại mắt — ngài là bậc có mắt do có nhục nhãn, ngài là bậc có mắt do có thiên nhãn, ngài là bậc có mắt do có tuệ nhãn, ngài là bậc có mắt do có Phật nhãn, ngài là bậc có mắt do có toàn nhãn.
Kathaṃ bhagavā maṃsacakkhunāpi cakkhumā? Maṃsacakkhumhi bhagavato pañca vaṇṇā saṃvijjanti – nīlo ca vaṇṇo, pītako ca vaṇṇo, lohitako ca vaṇṇo, kaṇho ca vaṇṇo, odāto ca vaṇṇo. Yattha ca akkhilomāni patiṭṭhitāni taṃ nīlaṃ hoti sunīlaṃ pāsādikaṃ dassaneyyaṃ umāpupphasamānaṃ †. Tassa parato pītakaṃ hoti supītakaṃ suvaṇṇavaṇṇaṃ pāsādikaṃ dassaneyyaṃ kaṇikārapupphasamānaṃ. Ubhato ca akkhikūṭāni bhagavato lohitakāni honti sulohitakāni pāsādikāni dassaneyyāni indagopakasamānāni. Majjhe kaṇhaṃ hoti sukaṇhaṃ alūkhaṃ siniddhaṃ pāsādikaṃ dassaneyyaṃ addāriṭṭhakasamānaṃ †. Tassa parato odātaṃ hoti suodātaṃ setaṃ paṇḍaraṃ pāsādikaṃ dassaneyyaṃ osadhitārakasamānaṃ. Tena bhagavā pākatikena maṃsacakkhunā attabhāvapariyāpannena purimasucaritakammābhinibbattena samantā yojanaṃ passati divā ceva rattiñca. Yadā hi caturaṅgasamannāgato andhakāro hoti sūriyo ca atthaṅgato † hoti; kāḷapakkho ca uposatho hoti, tibbo ca vanasaṇḍo hoti, mahā ca kāḷamegho † abbhuṭṭhito hoti. Evarūpe caturaṅgasamannāgate andhakāre samantā yojanaṃ passati. Natthi so kuṭṭo vā kavāṭaṃ vā pākāro vā pabbato vā gaccho vā latā vā āvaraṇaṃ rūpānaṃ dassanāya. Ekaṃ ce tilaphalaṃ nimittaṃ katvā tilavāhe pakkhipeyya, taṃyeva tilaphalaṃ uddhareyya. Evaṃ parisuddhaṃ bhagavato pākatikaṃ maṃsacakkhu. Evaṃ bhagavā maṃsacakkhunāpi cakkhumā.
How is the Blessed One endowed with the physical eye as well? In the physical eye of the Blessed One, five colors are present: blue, yellow, red, black, and white. Where the eyelashes are rooted, that part is blue—deep blue, pleasing, and pleasant to behold, like an umā flower. Beyond that, it is yellow—bright yellow, golden in color, pleasing, and pleasant to behold, like a kaṇikāra flower. On both sides, the Blessed One’s eye corners are red—deep red, pleasing, and pleasant to behold, like an indagopaka insect. In the middle, it is black—deep black, not rough, glossy, pleasing, and pleasant to behold, like a true black bead. Beyond that, it is white—pure white, brilliant white, pleasing, and pleasant to behold, like the morning star. Therefore, the Blessed One, with his natural physical eye—which is part of his being and produced by his past good deeds—sees for a yojana all around, both day and night. For when a four-factored darkness is present—the sun has set, it is the Uposatha day of the dark fortnight, the forest thicket is dense, and a great black cloud has arisen—even in such a four-factored darkness, he sees for a yojana all around. There is no wall, door, enclosing wall, mountain, shrub, or creeper that is an obstruction to the seeing of forms. If one were to mark a single sesame seed and place it in a cartload of sesame, one could retrieve that very sesame seed. So pure is the Blessed One’s natural physical eye. Thus, the Blessed One is endowed with the physical eye as well.
Làm thế nào bậc Thế Tôn là bậc có mắt do có nhục nhãn? Trong nhục nhãn của bậc Thế Tôn có năm màu sắc hiện hữu: màu xanh dương, màu vàng, màu đỏ, màu đen, và màu trắng. Nơi lông mi mọc thì có màu xanh dương, rất xanh, tịnh tín, đáng nhìn, giống như hoa lanh. Xung quanh đó có màu vàng, rất vàng, màu sắc như vàng ròng, tịnh tín, đáng nhìn, giống như hoa kaṇikāra. Hai khóe mắt của bậc Thế Tôn có màu đỏ, rất đỏ, tịnh tín, đáng nhìn, giống như con bọ rùa. Ở giữa có màu đen, rất đen, không thô, mịn màng, tịnh tín, đáng nhìn, giống như hạt cườm đen bóng. Xung quanh đó có màu trắng, rất trắng, trắng tinh, trắng ngà, tịnh tín, đáng nhìn, giống như sao mai. Do đó, bậc Thế Tôn với nhục nhãn tự nhiên, thuộc về thân thể, được tạo ra bởi thiện nghiệp trong quá khứ, nhìn thấy khắp xung quanh một do-tuần, cả ngày lẫn đêm. Khi có bóng tối gồm bốn yếu tố: mặt trời đã lặn; là ngày Bố-tát của hắc nguyệt; có lùm cây rậm rạp; và có đám mây đen lớn dấy lên. Trong bóng tối gồm bốn yếu tố như vậy, ngài nhìn thấy khắp xung quanh một do-tuần. Không có bức tường, cánh cửa, thành lũy, ngọn núi, bụi cây, hay dây leo nào là chướng ngại cho việc nhìn thấy các sắc. Nếu người ta đánh dấu một hạt mè rồi ném vào một xe mè, ngài có thể nhặt ra đúng hạt mè đó. Nhục nhãn tự nhiên của bậc Thế Tôn thanh tịnh như vậy. Như vậy, bậc Thế Tôn là bậc có mắt do có nhục nhãn.
Kathaṃ bhagavā dibbena cakkhunāpi cakkhumā? Bhagavā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe; sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti – ‘‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṃ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapannā; ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṃ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapannā’’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate, yathākammūpage satte pajānāti. Ākaṅkhamāno ca bhagavā ekampi lokadhātuṃ passeyya, dvepi lokadhātuyo passeyya, tissopi lokadhātuyo passeyya, catassopi lokadhātuyo passeyya, pañcapi lokadhātuyo passeyya, dasapi lokadhātuyo passeyya, vīsampi lokadhātuyo passeyya, tiṃsampi lokadhātuyo passeyya, cattālīsampi lokadhātuyo passeyya, paññāsampi lokadhātuyo passeyya, satampi lokadhātuyo passeyya, sahassimpi cūḷanikaṃ lokadhātuṃ passeyya, dvisahassimpi majjhimikaṃ lokadhātuṃ passeyya, tisahassimpi lokadhātuṃ passeyya, mahāsahassimpi † lokadhātuṃ passeyya, yāvatakaṃ vā † pana ākaṅkheyya tāvatakaṃ passeyya. Evaṃ parisuddhaṃ bhagavato dibbacakkhu. Evaṃ bhagavā dibbena cakkhunāpi cakkhumā.
How is the Blessed One possessed of the eye by means of the divine eye? The Blessed One, with the divine eye, purified and surpassing the human, sees beings passing away and being reborn—inferior and superior, of good complexion and of bad complexion, in a good destination and in a bad destination; and he knows beings who fare on according to their kamma: “Indeed, these beings, sirs, who were endowed with misconduct of body, speech, and mind, revilers of the noble ones, holding wrong views, undertaking actions based on wrong view—with the breakup of the body, after death, they have been reborn in a state of deprivation, a bad destination, a place of ruin, in hell. But these other beings, sirs, who were endowed with good conduct of body, speech, and mind, not revilers of the noble ones, holding right views, undertaking actions based on right view—with the breakup of the body, after death, they have been reborn in a good destination, the heavenly world.” Thus, with the divine eye, purified and surpassing the human, he sees beings passing away and being reborn—inferior and superior, of good complexion and of bad complexion, in a good destination and in a bad destination; and he knows beings who fare on according to their kamma. And if he wishes, the Blessed One could see one world-system, two world-systems, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand world-systems, a small thousandfold world-system, a middling twofold-thousand world-system, a threefold-thousand world-system, a great thousandfold world-system; as far as he might wish, that far he could see. So purified is the Blessed One’s divine eye. Thus is the Blessed One possessed of the eye by means of the divine eye.
Làm thế nào Thế Tôn là bậc có mắt (cakkhumā) cũng bằng thiên nhãn? Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh, vượt ngoài tầm mắt người thường, thấy các chúng sanh đang chết đi và đang sanh lại, hạ liệt và cao sang, xinh đẹp và xấu xí; đi đến thiện thú, ác thú, Ngài biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ – ‘Chư vị chúng sanh này, thật vậy, đã thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp thủ các hành vi theo tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào cõi khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn chư vị chúng sanh này, thật vậy, đã thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp thủ các hành vi theo chánh kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào thiện thú, thiên giới.’ Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt ngoài tầm mắt người thường, Ngài thấy các chúng sanh đang chết đi và đang sanh lại, hạ liệt và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, đi đến thiện thú, ác thú, Ngài biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ. Và nếu muốn, Thế Tôn có thể thấy một thế giới, có thể thấy hai thế giới, có thể thấy ba thế giới, có thể thấy bốn thế giới, có thể thấy năm thế giới, có thể thấy mười thế giới, có thể thấy hai mươi thế giới, có thể thấy ba mươi thế giới, có thể thấy bốn mươi thế giới, có thể thấy năm mươi thế giới, có thể thấy một trăm thế giới, có thể thấy một tiểu thiên thế giới, có thể thấy một trung thiên thế giới, có thể thấy một tam thiên thế giới, có thể thấy một đại thiên thế giới, và Ngài có thể thấy xa đến đâu tùy ý muốn. Thiên nhãn của Thế Tôn thanh tịnh như vậy. Như vậy, Thế Tôn là bậc có mắt cũng bằng thiên nhãn.
Kathaṃ bhagavā paññācakkhunāpi cakkhumā? Bhagavā mahāpañño puthupañño javanapañño hāsapañño tikkhapañño nibbedhikapañño paññāpabhedakusalo pabhinnañāṇo adhigatapaṭisambhidappatto catuvesārajjappatto dasabaladhārī purisāsabho purisasīho purisanāgo purisājañño purisadhorayho anantañāṇo anantatejo anantayaso aḍḍho mahaddhano dhanavā netā vinetā anunetā paññāpetā nijjhāpetā pekkhetā pasādetā. So hi bhagavā anuppannassa maggassa uppādetā asañjātassa maggassa sañjanetā anakkhātassa maggassa akkhātā, maggaññū maggavidū maggakovido maggānugā ca pana etarahi sāvakā viharanti pacchā samannāgatā.
How is the Blessed One one with vision through the eye of wisdom? The Blessed One is of great wisdom, broad wisdom, quick wisdom, joyful wisdom, sharp wisdom, penetrative wisdom, skilled in the discrimination of wisdom, possessed of discriminating knowledge, attained to the analytical knowledges, possessing the four kinds of intrepidity, bearing the ten powers, a bull among men, a lion among men, a nāga among men, a noble steed among men, a burden-bearer among men, of boundless knowledge, boundless power, boundless glory, rich, very rich, wealthy, a guide, a trainer, an instructor, an expounder, a clarifier, one who makes one behold, one who inspires confidence. Indeed, that Blessed One is the producer of the unarisen path, the generator of the unproduced path, the declarer of the undeclared path, the knower of the path, the expert in the path, skilled in the path. And now his disciples dwell following the path, having attained it afterwards.
Làm thế nào Thế Tôn là bậc có mắt cũng bằng tuệ nhãn? Thế Tôn có trí tuệ vĩ đại, trí tuệ rộng lớn, trí tuệ nhanh nhạy, trí tuệ hoan hỷ, trí tuệ sắc bén, trí tuệ xuyên thấu, thiện xảo trong các loại trí tuệ, có trí phân tích, đã chứng đắc và đạt đến Tứ Vô Ngại Giải, đã đạt đến Tứ Vô Sở Úy, mang Thập Lực, là bậc Ngưu vương trong loài người, là bậc Sư tử trong loài người, là bậc Long tượng trong loài người, là bậc Tuấn mã trong loài người, là bậc gánh vác trọng trách trong loài người, có trí tuệ vô biên, có uy lực vô biên, có danh tiếng vô biên, là bậc giàu có, có tài sản lớn, là bậc phú quý, là bậc dẫn dắt, là bậc huấn luyện, là bậc thuyết phục, là bậc làm cho hiểu rõ, là bậc làm cho thẩm sát, là bậc làm cho nhận thấy, là bậc làm cho phát sanh tín tâm. Vị Thế Tôn ấy, thật vậy, là bậc làm phát sanh con đường chưa từng phát sanh, là bậc tạo ra con đường chưa từng được tạo ra, là bậc tuyên thuyết con đường chưa từng được tuyên thuyết. Ngài là bậc biết đường, bậc hiểu rõ đường, bậc thiện xảo về đường. Và nay, các vị đệ tử của Ngài sống theo con đường ấy, thành tựu về sau.
So hi bhagavā jānaṃ jānāti, passaṃ passati, cakkhubhūto ñāṇabhūto dhammabhūto brahmabhūto vattā pavattā atthassa ninnetā amatassa dātā dhammassāmī † tathāgato. Natthi tassa bhagavato aññātaṃ adiṭṭhaṃ aviditaṃ asacchikataṃ aphassitaṃ † paññāya. Atītaṃ anāgataṃ paccuppannaṃ † upādāya sabbe dhammā sabbākārena buddhassa bhagavato ñāṇamukhe āpāthaṃ āgacchanti. Yaṃ kiñci neyyaṃ nāma atthi jānitabbaṃ † attattho vā parattho vā ubhayattho vā diṭṭhadhammiko vā attho samparāyiko vā attho uttāno vā attho gambhīro vā attho gūḷho vā attho paṭicchanno vā attho neyyo vā attho nīto vā attho anavajjo vā attho nikkileso vā attho vodāno vā attho paramattho vā †, sabbaṃ taṃ anto buddhañāṇe parivattati.
Indeed, that Blessed One knows what is to be known, sees what is to be seen. He has become the eye, he has become knowledge, he has become the Dhamma, he has become Brahma. He is the speaker, the proclaimer, the guide to the meaning, the giver of the deathless, the lord of the Dhamma, the Tathāgata. There is nothing unknown, unseen, uncomprehended, unrealized, or untouched by the Blessed One’s wisdom. All phenomena, past, future, and present, in every possible way, enter the range of the Buddha’s knowledge. Whatever is to be known—whether for one’s own benefit, another’s benefit, or both; whether pertaining to this life or the next; whether obvious or profound, hidden or concealed, to be inferred or explicit, blameless or without defilement, pure or ultimate—all of it revolves within the Buddha’s knowledge.
Vị Thế Tôn ấy, thật vậy, biết điều cần biết, thấy điều cần thấy. Ngài là con mắt, là trí tuệ, là Chánh pháp, là bậc Tối thượng, là bậc diễn thuyết, là bậc tuyên thuyết, là bậc dẫn đến ý nghĩa, là bậc ban cho sự bất tử, là bậc chủ của Chánh pháp, là bậc Như Lai. Đối với Thế Tôn, không có gì không được biết, không được thấy, không được liễu tri, không được chứng ngộ, không được xúc chạm bởi trí tuệ. Liên quan đến quá khứ, vị lai, và hiện tại, tất cả các pháp, trong mọi phương diện, đều đi vào phạm vi trí tuệ của Đức Phật, Thế Tôn. Bất cứ điều gì gọi là đối tượng cần biết, cần phải được biết – dù là lợi ích cho bản thân, lợi ích cho người khác, hay lợi ích cho cả hai; dù là lợi ích trong hiện tại hay lợi ích trong tương lai; dù là ý nghĩa nông cạn hay ý nghĩa sâu xa; dù là ý nghĩa kín đáo hay ý nghĩa che giấu; dù là ý nghĩa cần được dẫn dắt hay ý nghĩa đã được dẫn dắt; dù là ý nghĩa không đáng chê trách, không phiền não, trong sạch, hay là ý nghĩa tối thượng – tất cả những điều đó đều vận hành bên trong trí tuệ của Đức Phật.
Sabbaṃ kāyakammaṃ buddhassa bhagavato ñāṇānuparivatti, sabbaṃ vacīkammaṃ ñāṇānuparivatti, sabbaṃ manokammaṃ ñāṇānuparivatti. Atīte buddhassa bhagavato appaṭihataṃ ñāṇaṃ, anāgate appaṭihataṃ ñāṇaṃ, paccuppanne appaṭihataṃ ñāṇaṃ, yāvatakaṃ neyyaṃ tāvatakaṃ ñāṇaṃ, yāvatakaṃ ñāṇaṃ tāvatakaṃ neyyaṃ. Neyyapariyantikaṃ ñāṇaṃ, ñāṇapariyantikaṃ neyyaṃ, neyyaṃ atikkamitvā ñāṇaṃ nappavattati, ñāṇaṃ atikkamitvā neyyapatho natthi. Aññamaññapariyantaṭṭhāyino te dhammā. Yathā dvinnaṃ samuggapaṭalānaṃ sammāphusitānaṃ heṭṭhimaṃ samuggapaṭalaṃ uparimaṃ nātivattati, uparimaṃ samuggapaṭalaṃ heṭṭhimaṃ nātivattati, aññamaññapariyantaṭṭhāyino; evameva buddhassa bhagavato neyyañca ñāṇañca aññamaññapariyantaṭṭhāyino. Yāvatakaṃ neyyaṃ tāvatakaṃ ñāṇaṃ, yāvatakaṃ ñāṇaṃ tāvatakaṃ neyyaṃ, neyyapariyantikaṃ ñāṇaṃ, ñāṇapariyantikaṃ neyyaṃ. Neyyaṃ atikkamitvā ñāṇaṃ nappavattati, ñāṇaṃ atikkamitvā neyyapatho natthi. Aññamaññapariyantaṭṭhāyino te dhammā.
All bodily action of the Buddha, the Blessed One, follows upon knowledge; all verbal action follows upon knowledge; all mental action follows upon knowledge. In the past, the knowledge of the Buddha, the Blessed One, was unobstructed; in the future, His knowledge is unobstructed; in the present, His knowledge is unobstructed. To the extent of the knowable, to that extent is the knowledge; to the extent of the knowledge, to that extent is the knowable. Knowledge is bounded by the knowable; the knowable is bounded by knowledge. Knowledge does not proceed beyond the knowable; there is no path for the knowable beyond knowledge. These phenomena stand as mutually bounded. Just as when the two lids of a casket are properly fitted, the lower lid does not exceed the upper lid, nor does the upper lid exceed the lower lid—they stand as mutually bounded; even so, for the Buddha, the Blessed One, the knowable and knowledge stand as mutually bounded. To the extent of the knowable, to that extent is the knowledge; to the extent of the knowledge, to that extent is the knowable. Knowledge is bounded by the knowable; the knowable is bounded by knowledge. Knowledge does not proceed beyond the knowable; there is no path for the knowable beyond knowledge. These phenomena stand as mutually bounded.
Tất cả thân nghiệp của Đức Phật, Thế Tôn, đều đi theo sau trí tuệ; tất cả khẩu nghiệp đều đi theo sau trí tuệ; tất cả ý nghiệp đều đi theo sau trí tuệ. Trí tuệ của Đức Phật, Thế Tôn, không bị ngăn ngại trong quá khứ; không bị ngăn ngại trong tương lai; không bị ngăn ngại trong hiện tại. Phạm vi của đối tượng cần biết đến đâu, thì trí tuệ đến đó; phạm vi của trí tuệ đến đâu, thì đối tượng cần biết đến đó. Trí tuệ có đối tượng cần biết làm giới hạn; đối tượng cần biết có trí tuệ làm giới hạn. Trí tuệ không vận hành vượt qua đối tượng cần biết; không có con đường nào cho đối tượng cần biết vượt qua trí tuệ. Hai pháp ấy đứng đó giới hạn lẫn nhau. Ví như hai nắp của một chiếc hộp vừa khít nhau, nắp dưới không vượt qua nắp trên, nắp trên không vượt qua nắp dưới, chúng đứng đó giới hạn lẫn nhau; cũng vậy, đối với Đức Phật, Thế Tôn, đối tượng cần biết và trí tuệ đứng đó giới hạn lẫn nhau. Phạm vi của đối tượng cần biết đến đâu, thì trí tuệ đến đó; phạm vi của trí tuệ đến đâu, thì đối tượng cần biết đến đó. Trí tuệ có đối tượng cần biết làm giới hạn; đối tượng cần biết có trí tuệ làm giới hạn. Trí tuệ không vận hành vượt qua đối tượng cần biết; không có con đường nào cho đối tượng cần biết vượt qua trí tuệ. Hai pháp ấy đứng đó giới hạn lẫn nhau.
Sabbadhammesu buddhassa bhagavato ñāṇaṃ pavattati. Sabbe dhammā buddhassa bhagavato āvajjanapaṭibaddhā ākaṅkhapaṭibaddhā manasikārapaṭibaddhā cittuppādapaṭibaddhā. Sabbasattesu buddhassa bhagavato ñāṇaṃ pavattati. Sabbesañca sattānaṃ bhagavā āsayaṃ jānāti, anusayaṃ jānāti, caritaṃ jānāti, adhimuttiṃ jānāti, apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye bhabbābhabbe satte jānāti. Sadevako loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā antobuddhañāṇe parivattati.
The knowledge of the Buddha, the Blessed One, extends to all phenomena. All phenomena are bound to the advertence, aspiration, attention, and arising of thought of the Buddha, the Blessed One. The knowledge of the Buddha, the Blessed One, extends to all beings. And of all beings, the Blessed One knows their inclination, their latent tendency, their conduct, and their disposition. He knows beings with little dust and those with much dust, those with keen faculties and those with dull faculties, those of good character and those of bad character, those easy to instruct and those difficult to instruct, capable and incapable beings. The world with its gods, its Māras, and its Brahmās, this generation with its ascetics and brahmins, with its gods and humans, revolves within the Buddha's knowledge.
Trí tuệ của đức Phật, của đức Thế Tôn vận hành trong tất cả các pháp. Tất cả các pháp được gắn liền với sự hướng tâm, được gắn liền với sự mong mỏi, được gắn liền với sự tác ý, được gắn liền với sự khởi sanh của tâm của đức Phật, của đức Thế Tôn. Trí tuệ của đức Phật, của đức Thế Tôn vận hành trong tất cả chúng sanh. Và đức Thế Tôn biết rõ khuynh hướng, biết rõ tùy miên, biết rõ hạnh kiểm, biết rõ sự quyết định của tất cả chúng sanh, biết rõ các chúng sanh ít bụi, nhiều bụi, căn bén nhạy, căn cùn lụt, có tướng tốt, có tướng xấu, dễ được thuyết phục, khó được thuyết phục, có khả năng, không có khả năng. Thế giới cùng với chư Thiên, cùng với Ma vương, cùng với Phạm thiên, chúng sanh cùng với Sa-môn và Bà-la-môn, cùng với chư Thiên và loài người đều xoay vần ở bên trong trí tuệ của đức Phật.
Yathā ye keci macchakacchapā antamaso timitimiṅgalaṃ † upādāya antomahāsamudde parivattanti, evameva sadevako loko samārako loko sabrahmako loko sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā antobuddhañāṇe parivattati. Yathā ye keci pakkhī antamaso garuḷaṃ venateyyaṃ upādāya ākāsassa padese parivattanti, evameva yepi te sāriputtasamā paññāya samannāgatā tepi buddhañāṇassa padese parivattanti; buddhañāṇaṃ devamanussānaṃ paññaṃ pharitvā abhibhavitvā tiṭṭhati.
Just as whatever fish and turtles there are, down to the timi and timiṅgala, revolve within the great ocean, so too the world with its devas, the world with its Māras, the world with its Brahmās, this generation with its ascetics and brahmins, devas and humans, revolves within the Buddha's knowledge. Just as whatever birds there are, down to the garuḷa, son of Vinatā, revolve in the region of the sky, so too even those endowed with wisdom equal to Sāriputta revolve in the region of the Buddha's knowledge; the Buddha's knowledge stands encompassing and surpassing the wisdom of devas and humans.
Ví như bất cứ loài cá và rùa nào, cho đến loài cá Timitimiṅgala, đều xoay vần ở bên trong biển lớn; tương tự y như thế, thế giới cùng với chư Thiên, thế giới cùng với Ma vương, thế giới cùng với Phạm thiên, chúng sanh cùng với Sa-môn và Bà-la-môn, cùng với chư Thiên và loài người đều xoay vần ở bên trong trí tuệ của đức Phật. Ví như bất cứ loài chim nào, cho đến chim thần Garuḷa Venateyya, đều xoay vần trong vùng không gian của hư không; tương tự y như thế, ngay cả những vị được thành tựu về trí tuệ tương đương với ngài Sāriputta cũng xoay vần trong vùng không gian của trí tuệ của đức Phật. Trí tuệ của đức Phật, sau khi đã lan khắp và đã vượt trội trí tuệ của chư Thiên và loài người, vẫn đứng vững.
Yepi te khattiyapaṇḍitā brāhmaṇapaṇḍitā gahapatipaṇḍitā samaṇapaṇḍitā nipuṇā kataparappavādā vālavedhirūpā vobhindantā † maññe caranti paññāgatena diṭṭhigatāni, te pañhe abhisaṅkharitvā abhisaṅkharitvā tathāgataṃ upasaṅkamitvā pucchanti gūḷhāni ca paṭicchannāni. Kathitā visajjitā ca te pañhā bhagavatā † honti niddiṭṭhakāraṇā. Upakkhittakā ca te bhagavato sampajjanti. Atha kho bhagavāva tattha atirocati – yadidaṃ paññāyāti. Evaṃ bhagavā paññācakkhunāpi cakkhumā.
Even those learned nobles, learned brahmins, learned householders, and learned ascetics—who are clever, skilled in refuting the doctrines of others, hair-splitters, and seem to wander about shattering views with their intellect—having carefully formulated questions, approach the Tathāgata and ask about matters both obscure and veiled. Those questions are answered and explained by the Blessed One, with their reasons made clear. And they themselves are refuted by the Blessed One. Then indeed the Blessed One surpasses them in that respect—that is, in wisdom. Thus, the Blessed One is one with vision, by means of the eye of wisdom.
Ngay cả những vị học giả Sát-đế-lỵ, học giả Bà-la-môn, học giả gia chủ, học giả Sa-môn là những người khôn khéo, đã thực hành các học thuyết của người khác, giống như người bắn trúng sợi lông, tôi nghĩ rằng các vị ấy đi đây đi đó phá vỡ các tà kiến bằng trí tuệ, các vị ấy sau khi đã chuẩn bị, đã chuẩn bị các câu hỏi rồi đi đến gần đức Như Lai và hỏi những điều sâu kín và che giấu. Và những câu hỏi ấy được đức Thế Tôn nói ra và giải đáp, có sự chỉ dẫn về nguyên nhân. Và các vị ấy trở thành những người được đức Thế Tôn chỉ dạy. Khi ấy, chính đức Thế Tôn tỏa sáng ở nơi đó, đó là về trí tuệ. Như thế, đức Thế Tôn có mắt, ngay cả với tuệ nhãn.
Kathaṃ bhagavā buddhacakkhunāpi cakkhumā? Bhagavā buddhacakkhunā lokaṃ volokento † addasa satte apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye appekacce paralokavajjabhayadassāvino † viharante. Seyyathāpi nāma uppaliniyaṃ vā paduminiyaṃ vā puṇḍarīkiniyaṃ vā appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṃvaḍḍhāni udakānuggatāni antonimuggaposīni †, appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṃvaḍḍhāni samodakaṃ ṭhitāni, appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṃvaḍḍhāni udakā accuggamma tiṭṭhanti anupalittāni udakena; evamevaṃ bhagavā buddhacakkhunā lokaṃ volokento addasa satte apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye appekacce paralokavajjabhayadassāvino viharante. Jānāti bhagavā – ‘‘ayaṃ puggalo rāgacarito, ayaṃ dosacarito, ayaṃ mohacarito, ayaṃ vitakkacarito, ayaṃ saddhācarito, ayaṃ ñāṇacarito’’ti. Rāgacaritassa bhagavā puggalassa asubhakathaṃ katheti; dosacaritassa bhagavā puggalassa mettābhāvanaṃ ācikkhati; mohacaritassa bhagavā puggalassa uddese paripucchāya kālena dhammassavane kālena dhammasākacchāya garusaṃvāse niveseti; vitakkacaritassa bhagavā puggalassa ānāpānassatiṃ ācikkhati; saddhācaritassa bhagavā puggalassa pasādanīyaṃ nimittaṃ ācikkhati buddhasubodhiṃ † dhammasudhammataṃ saṅghasuppaṭipattiṃ sīlāni ca; attano ñāṇacaritassa bhagavā puggalassa vipassanānimittaṃ ācikkhati aniccākāraṃ dukkhākāraṃ anattākāraṃ.
How is the Blessed One endowed with the Buddha-eye? The Blessed One, surveying the world with the Buddha-eye, saw beings with little dust in their eyes and with much dust in their eyes, with keen faculties and dull faculties, with good dispositions and bad dispositions, easy to instruct and hard to instruct, some of them dwelling, seeing fear and fault with regard to the next world. Just as in a pond of blue lotuses, or a pond of red lotuses, or a pond of white lotuses, some blue, red, or white lotuses are born in the water, grown in the water, submerged in the water and nourished beneath the surface; some blue, red, or white lotuses are born in the water, grown in the water, stand level with the water; some blue, red, or white lotuses are born in the water, grown in the water, rise out of the water and stand unsullied by the water—so too, the Blessed One, surveying the world with the Buddha-eye, saw beings with little dust in their eyes and with much dust in their eyes, with keen faculties and dull faculties, with good dispositions and bad dispositions, easy to instruct and hard to instruct, some of them dwelling, seeing fear and fault with regard to the next world. The Blessed One knows: 'This person is of a lustful temperament, this one of a hateful temperament, this one of a deluded temperament, this one of a discursive temperament, this one of a faithful temperament, this one of an intelligent temperament.' For a person of a lustful temperament, the Blessed One gives a discourse on the unattractive. For a person of a hateful temperament, the Blessed One teaches the development of loving-kindness. For a person of a deluded temperament, the Blessed One establishes them in recitation, questioning, timely listening to the Dhamma, timely discussion of the Dhamma, and residence with a teacher. For a person of a discursive temperament, the Blessed One teaches mindfulness of breathing. For a person of a faithful temperament, the Blessed One teaches an inspiring sign: the Buddha’s perfect enlightenment, the excellent nature of the Dhamma, the Sangha’s good practice, and the moral precepts. For a person of an intelligent temperament, the Blessed One teaches the sign for insight: the aspect of impermanence, the aspect of suffering, and the aspect of non-self.
Thế nào là đức Thế Tôn có mắt, ngay cả với Phật nhãn? Đức Thế Tôn, trong khi quan sát thế gian bằng Phật nhãn, đã nhìn thấy các chúng sanh ít bụi, nhiều bụi, căn bén nhạy, căn cùn lụt, có tướng tốt, có tướng xấu, dễ được thuyết phục, khó được thuyết phục, và một số vị đang trú ngụ trong khi nhìn thấy sự đáng sợ và đáng chê trách ở thế giới bên kia. Ví như trong hồ sen xanh, hoặc hồ sen hồng, hoặc hồ sen trắng, có một số hoa sen xanh, hoặc hoa sen hồng, hoặc hoa sen trắng được sanh ra trong nước, được lớn lên trong nước, được nuôi dưỡng ở dưới nước, vẫn còn chìm ở bên trong; có một số hoa sen xanh, hoặc hoa sen hồng, hoặc hoa sen trắng được sanh ra trong nước, được lớn lên trong nước, đang đứng ngang với mặt nước; có một số hoa sen xanh, hoặc hoa sen hồng, hoặc hoa sen trắng được sanh ra trong nước, được lớn lên trong nước, đang đứng vươn lên khỏi mặt nước, không bị dính bởi nước; tương tự y như thế, đức Thế Tôn, trong khi quan sát thế gian bằng Phật nhãn, đã nhìn thấy các chúng sanh ít bụi, nhiều bụi, căn bén nhạy, căn cùn lụt, có tướng tốt, có tướng xấu, dễ được thuyết phục, khó được thuyết phục, và một số vị đang trú ngụ trong khi nhìn thấy sự đáng sợ và đáng chê trách ở thế giới bên kia. Đức Thế Tôn biết rõ: ‘Hạng người này có tánh tham, hạng người này có tánh sân, hạng người này có tánh si, hạng người này có tánh tầm cầu, hạng người này có tánh tín, hạng người này có tánh trí.’ Đối với hạng người có tánh tham, đức Thế Tôn nói về câu chuyện bất tịnh; đối với hạng người có tánh sân, đức Thế Tôn chỉ dạy về sự tu tập tâm từ; đối với hạng người có tánh si, đức Thế Tôn đặt định trong sự học hỏi, sự hỏi han, sự nghe Pháp đúng thời, sự đàm luận về Pháp đúng thời, sự sống chung với bậc thầy; đối với hạng người có tánh tầm cầu, đức Thế Tôn chỉ dạy về niệm hơi thở vô hơi thở ra; đối với hạng người có tánh tín, đức Thế Tôn chỉ dạy về đối tượng đáng tịnh tín là sự giác ngộ tốt đẹp của đức Phật, là Pháp có bản chất tốt đẹp, là sự thực hành tốt đẹp của Tăng chúng, và các giới của chính mình. Đối với hạng người có tánh trí, đức Thế Tôn chỉ dạy về đối tượng của thiền tuệ là tướng trạng vô thường, tướng trạng khổ, tướng trạng vô ngã.
‘‘Sele yathā pabbatamuddhaniṭṭhito, yathāpi passe janataṃ samantato;
Tathūpamaṃ dhammamayaṃ sumedha, pāsādamāruyha samantacakkhu;
Sokāvatiṇṇaṃ † janatamapetasoko, avekkhassu jātijarābhibhūta’’nti.
As one standing on a mountain peak might see the people all around, so too, O wise Sumedha, all-seeing one, having ascended the palace of Dhamma, yourself free from sorrow, look upon the people immersed in sorrow, overcome by birth and old age.
‘Ví như người đứng trên đỉnh núi đá, có thể nhìn thấy dân chúng ở khắp xung quanh; tương tự y như thế, hỡi bậc trí tuệ, hỡi đấng Toàn nhãn, sau khi đã lên đến lâu đài được làm bằng Pháp, bậc đã thoát khỏi sầu muộn hãy nhìn xem chúng sanh đang chìm trong sầu muộn, bị sanh và già chinh phục.’
Evaṃ bhagavā buddhacakkhunāpi cakkhumā.
Thus, the Blessed One is one with vision, possessing even the Buddha-eye.
Như thế, đức Thế Tôn có mắt, ngay cả với Phật nhãn.
Kathaṃ bhagavā samantacakkhunāpi cakkhumā? Samantacakkhu vuccati sabbaññutañāṇaṃ. Bhagavā sabbaññutañāṇena upeto samupeto upāgato samupāgato upapanno samupapanno samannāgato.
How is the Blessed One one with vision, even with the all-seeing eye? The all-seeing eye is called the knowledge of omniscience. The Blessed One is furnished with, fully furnished with, endowed with, fully endowed with, possessed of, fully possessed of, replete with the knowledge of omniscience.
Thế nào là đức Thế Tôn có mắt, ngay cả với Toàn nhãn? Toàn nhãn được gọi là trí tuệ toàn tri. Đức Thế Tôn được đi đến, được đi đến trọn vẹn, được đạt đến, được đạt đến trọn vẹn, được thành tựu, được thành tựu trọn vẹn, được trang bị với trí tuệ toàn tri.
‘‘Na tassa addiṭṭhamidhatthi kiñci, atho aviññātamajānitabbaṃ;
Sabbaṃ abhiññāsi yadatthi neyyaṃ, tathāgato tena samantacakkhū’’ti.
Nothing here is unseen by him, nor is there anything unknown or unknowable. He has directly known everything that should be known. Therefore, the Tathāgata is all-seeing.
‘Đối với vị ấy, không có gì là không được nhìn thấy ở đời này, lại nữa, không có gì là không được biết đến, là không thể biết được. Vị ấy đã thắng tri tất cả những gì cần được biết. Do đó, đức Như Lai là đấng Toàn nhãn.’
Evaṃ bhagavā samantacakkhunāpi cakkhumāti – na me byākāsi cakkhumā.
Thus, the Blessed One is one with vision, even with the all-seeing eye. Yet, O one with vision, you did not answer me.
Như thế, đức Thế Tôn có mắt, ngay cả với Toàn nhãn. (Đây là sự giải thích cho từ) ‘bậc có mắt đã không giải thích cho tôi.’
Yāvatatiyañca devīsi, byākarotīti me sutanti yāvatatiyaṃ buddho sahadhammikaṃ pañhaṃ puṭṭho byākaroti no saṃsāretīti † – evaṃ mayā uggahitaṃ, evaṃ mayā upadhāritaṃ, evaṃ mayā upalakkhitaṃ. Devīsīti bhagavā ceva isi cāti – devīsi. Yathā rājā pabbajitā vuccanti rājisayo, brāhmaṇā pabbajitā vuccanti brāhmaṇisayo, evameva bhagavā devo ceva isi cāti – devīsi.
‘And up to the third time, O divine seer, He answered, so I have heard.’ This means: up to the third time, the Buddha, when asked a question in accordance with the Dhamma, would answer and not equivocate. Thus I have learned, thus I have understood, thus I have discerned. ‘Divine seer’: the Blessed One is both a deva and a seer—thus, ‘divine seer.’ Just as kings who have gone forth are called royal seers, and brahmins who have gone forth are called brahmin seers, so too the Blessed One is both a deva and a seer—thus, ‘divine seer.’
‘Và cho đến lần thứ ba, hỡi ngài Devīsi, ngài đã giải thích, tôi đã nghe như thế.’ (Điều này có nghĩa là) cho đến lần thứ ba, đức Phật sau khi được hỏi câu hỏi hợp với Pháp đã giải thích, đã không thoái thác. Như thế đã được tôi học thuộc, như thế đã được tôi ghi nhớ, như thế đã được tôi ghi nhận. ‘Devīsi’ (có nghĩa là) đức Thế Tôn vừa là chư Thiên vừa là bậc ẩn sĩ, vì thế là ‘Devīsi.’ Ví như các vị vua đã xuất gia được gọi là các ẩn sĩ hoàng gia, các vị Bà-la-môn đã xuất gia được gọi là các ẩn sĩ Bà-la-môn; tương tự y như thế, đức Thế Tôn vừa là chư Thiên vừa là bậc ẩn sĩ, vì thế là ‘Devīsi.’
Atha vā, bhagavā pabbajitotipi isi. Mahantaṃ sīlakkhandhaṃ esī gavesī pariyesītipi isi. Mahantaṃ samādhikkhandhaṃ…pe… mahantaṃ paññākkhandhaṃ… mahantaṃ vimuttikkhandhaṃ… mahantaṃ vimuttiñāṇadassanakkhandhaṃ esī gavesī pariyesītipi isi. Mahato tamokāyassa padālanaṃ esī gavesī pariyesītipi isi. Mahato vipallāsassa pabhedanaṃ esī gavesī pariyesītipi isi. Mahato taṇhāsallassa abbahanaṃ… mahato diṭṭhisaṅghāṭassa viniveṭhanaṃ… mahato mānaddhajassa papātanaṃ… mahato abhisaṅkhārassa vūpasamaṃ… mahato oghassa nittharaṇaṃ… mahato bhārassa nikkhepanaṃ… mahato saṃsāravaṭṭassa upacchedaṃ… mahato santāpassa nibbāpanaṃ… mahato pariḷāhassa paṭippassaddhiṃ… mahato dhammaddhajassa ussāpanaṃ esī gavesī pariyesītipi isi. Mahante satipaṭṭhāne… mahante sammappadhāne… mahantāni indriyāni… mahantāni balāni… mahante bojjhaṅge… mahantaṃ ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ… mahantaṃ paramatthaṃ amataṃ nibbānaṃ esī gavesī pariyesītipi isi. Mahesakkhehi vā sattehi esito gavesito pariyesito – ‘‘kahaṃ buddho, kahaṃ bhagavā, kahaṃ devadevo, kahaṃ narāsabho’’tipi isīti – yāvatatiyañca devīsi byākarotīti me sutaṃ. Tenāha so brāhmaṇo –
Or else, the Blessed One is a seer because he has gone forth. He is a seer because he seeks, searches, and strives for the great aggregate of virtue. He is a seer because he seeks, searches, and strives for the great aggregate of concentration… the great aggregate of wisdom… the great aggregate of liberation… the great aggregate of the knowledge and vision of liberation. He is a seer because he seeks, searches, and strives to pierce the great mass of darkness, to split apart the great distortion, to pull out the great dart of craving, to unravel the great tangle of views, to overthrow the great banner of conceit, to pacify the great formations, to cross over the great flood, to lay down the great burden, to cut off the great round of rebirth, to extinguish the great fever, to calm the great burning, to raise high the great banner of the Dhamma. He is a seer because he seeks the great foundations of mindfulness, the great right efforts, the great faculties, the great powers, the great factors of enlightenment, the great noble eightfold path, the great ultimate goal, the deathless Nibbāna. Or else, he is a seer because he is sought after, searched for, and pursued by beings of great power—"Where is the Buddha? Where is the Blessed One? Where is the god of gods? Where is the bull among men?"—thus up to the third time, O divine seer, he answers, so I have heard. Therefore, that brahmin said:
Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
‘‘Dvāhaṃ sakkaṃ apucchissaṃ, [iccāyasmā mogharājā]
Na me byākāsi cakkhumā;
Yāvatatiyañca devīsi, byākarotīti me suta’’nti.
“Twice I asked the Able One,” said the venerable Mogharāja, “but the one with vision did not answer me. I have heard that the divine seer answers upon the third time.”
‘Con đã hỏi đấng Sakka hai lần, (trưởng lão Mogharājā thưa) nhưng bậc Mắt Thần đã không trả lời cho con. Và con đã nghe rằng bậc Thiên-nhơn-sư sẽ trả lời đến lần thứ ba.’
86.
86.
86.
Ayaṃ loko paro loko, brahmaloko sadevako;
Diṭṭhiṃ te nābhijānāti, gotamassa yasassino.
This world, the other world, the Brahma-world with its devas; beings do not know what has been seen by you, O illustrious Gotama.
Thế giới này, thế giới bên kia, thế giới Phạm thiên cùng với chư thiên, (chúng sanh) không thể biết được tri kiến của ngài, của đấng Gotama lừng danh.
Ayaṃ loko paro lokoti. Ayaṃ lokoti manussaloko. Paro lokoti manussalokaṃ ṭhapetvā sabbo paro lokoti – ayaṃ loko paro loko.
‘This world, the other world’ – ‘This world’ means the human world. ‘The other world’ means all worlds other than the human world. Thus, ‘this world, the other world.’
(Về câu) ‘Thế giới này, thế giới bên kia.’ ‘Thế giới này’ là thế giới loài người. ‘Thế giới bên kia’ là ngoại trừ thế giới loài người, tất cả (còn lại) là thế giới bên kia – (đó là nghĩa của) ‘thế giới này, thế giới bên kia.’
Brahmaloko sadevakoti sadevako loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussāti – brahmaloko sadevako.
‘The Brahma-world with its devas’ means: the world (`loka`) with its devas, with Māra, and with Brahmā; the populace (`pajā`) with its recluses and brahmins, with its devas and humans. This is the meaning of ‘the Brahma-world with its devas’.
(Về câu) ‘Thế giới Phạm thiên cùng với chư thiên’ có nghĩa là thế giới cùng với chư thiên, cùng với Ma vương, cùng với Phạm thiên; chúng sanh cùng với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với chư thiên và loài người – (đó là nghĩa của) ‘thế giới Phạm thiên cùng với chư thiên.’
Diṭṭhiṃ te nābhijānātīti tuyhaṃ diṭṭhiṃ khantiṃ ruciṃ laddhiṃ ajjhāsayaṃ adhippāyaṃ loko na jānāti – ‘‘ayaṃ evaṃdiṭṭhiko evaṃkhantiko evaṃruciko evaṃladdhiko evaṃajjhāsayo evaṃadhippāyo’’ti na jānāti na passati na dakkhati nādhigacchati na vindati na paṭilabhatīti – diṭṭhiṃ te nābhijānāti.
‘The world does not understand your view’ – the world does not know your view, tolerance, liking, conviction, disposition, or aim: ‘This one has such a view, such tolerance, such a liking, such a conviction, such a disposition, such an aim.’ It does not know, see, discern, attain, find, or obtain it. Thus, ‘the world does not understand your view.’
(Về câu) ‘Không thể biết được tri kiến của ngài’ có nghĩa là thế gian không biết được tri kiến, sự kham nhẫn, sở thích, chủ thuyết, khuynh hướng, ý định của ngài – (thế gian) không biết, không thấy, không nhận ra, không đạt được, không tìm thấy, không thủ đắc được rằng: ‘Vị này có tri kiến như vậy, có sự kham nhẫn như vậy, có sở thích như vậy, có chủ thuyết như vậy, có khuynh hướng như vậy, có ý định như vậy’ – (đó là nghĩa của) ‘không thể biết được tri kiến của ngài.’
Gotamassa yasassinoti bhagavā yasappattoti yasassī. Atha vā, bhagavā sakkato garukato mānito pūjito apacito lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānantipi yasassīti – gotamassa yassino. Tenāha so brāhmaṇo –
‘Of Gotama, the glorious one’ – the Blessed One has attained fame, thus he is glorious. Or alternatively, the Blessed One is honored, respected, esteemed, venerated, revered, and is a recipient of robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick—thus he is glorious. This is the meaning of ‘of Gotama, the glorious one.’ Therefore, that brahmin said:
(Về câu) ‘Của đấng Gotama lừng danh.’ Đức Thế Tôn đã đạt được danh tiếng nên được gọi là ‘lừng danh.’ Hay lại nữa, đức Thế Tôn được tôn trọng, kính nể, tôn kính, cúng dường, đảnh lễ, là người nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và các dược phẩm vật dụng trị bệnh, nên cũng được gọi là ‘lừng danh’ – (đó là nghĩa của) ‘của đấng Gotama lừng danh.’ Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
‘‘Ayaṃ loko paro loko, brahmaloko sadevako;
Diṭṭhiṃ te nābhijānāti, gotamassa yasassino’’ti.
“This world, the other world, the Brahma-world with its devas; the world does not understand your view, O Gotama, the glorious one.”
‘Thế giới này, thế giới bên kia, thế giới Phạm thiên cùng với chư thiên, (chúng sanh) không thể biết được tri kiến của ngài, của đấng Gotama lừng danh.’
87.
87.
87.
Evaṃ abhikkantadassāviṃ, atthi pañhena āgamaṃ;
Kathaṃ lokaṃ avekkhantaṃ, maccurājā na passati.
To the one with such surpassing vision, I have come with a question; how must one view the world, so that the King of Death does not see one?
Con đến với một câu hỏi, hỏi bậc thấy biết siêu việt. Phải nhìn thế giới như thế nào, để Thần Chết không nhìn thấy?
Evaṃ abhikkantadassāvinti evaṃ abhikkantadassāviṃ aggadassāviṃ seṭṭhadassāviṃ viseṭṭhadassāviṃ pāmokkhadassāviṃ uttamadassāviṃ paramadassāvinti – evaṃ abhikkantadassāviṃ.
‘To the one with such surpassing vision’ means: to the one with such surpassing vision, one who sees the highest, sees the best, sees the distinguished, sees the foremost, sees the ultimate, sees the supreme. This is the meaning of ‘to the one with such surpassing vision’.
(Về câu) ‘Bậc thấy biết siêu việt.’ (Có nghĩa là) bậc thấy biết siêu việt như vậy, bậc thấy biết điều tối thượng, bậc thấy biết điều cao quý nhất, bậc thấy biết điều đặc biệt nhất, bậc thấy biết điều chủ yếu, bậc thấy biết điều tối cao, bậc thấy biết điều vô thượng – (đó là nghĩa của) ‘bậc thấy biết siêu việt.’
Atthi pañhena āgamanti pañhena atthiko āgatomhi…pe… vahassetaṃ bhāranti, evampi atthi pañhena āgamaṃ.
‘I have come with a question’ means: I have come as one who has need of a question… and so on… ‘Carry this burden.’ Thus also is the meaning of ‘I have come with a question’.
(Về câu) ‘Con đến với một câu hỏi.’ (Có nghĩa là) ‘Con đến đây vì có điều cần hỏi’ ... này đây ... ‘Xin hãy mang gánh nặng này,’ như vậy cũng là (nghĩa của) ‘con đến với một câu hỏi.’
Kathaṃ lokaṃ avekkhantanti kathaṃ lokaṃ avekkhantaṃ paccavekkhantaṃ tulayantaṃ tīrayantaṃ vibhāvayantaṃ vibhūtaṃ karontanti – kathaṃ lokaṃ avekkhantaṃ.
‘How must one view the world’ means: how must one view, review, weigh, investigate, analyze, and make manifest the world? This is the meaning of ‘how must one view the world’.
(Về câu) ‘Phải nhìn thế giới như thế nào.’ (Có nghĩa là) phải nhìn thế giới, phải quán xét, phải cân nhắc, phải thẩm sát, phải làm cho sáng tỏ, phải làm cho hiển lộ như thế nào – (đó là nghĩa của) ‘phải nhìn thế giới như thế nào.’
Maccurājā na passatīti maccurājā na passati na dakkhati nādhigacchati na vindati na paṭilabhatīti – maccurājā na passati. Tenāha so brāhmaṇo –
‘The King of Death does not see’ means: the King of Death does not see, does not discern, does not attain, does not find, does not obtain. This is the meaning of ‘the King of Death does not see.’ Therefore, that brahmin said:
(Về câu) ‘Để Thần Chết không nhìn thấy.’ (Có nghĩa là) Thần Chết không nhìn thấy, không nhận ra, không bắt được, không tìm thấy, không tóm được – (đó là nghĩa của) ‘để Thần Chết không nhìn thấy.’ Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
‘‘Evaṃ abhikkantadassāviṃ, atthi pañhena āgamaṃ;
Kathaṃ lokaṃ avekkhantaṃ, maccurājā na passatī’’ti.
“To the one with such surpassing vision, I have come with a question; how must one view the world, so that the King of Death does not see one?”
‘Con đến với một câu hỏi, hỏi bậc thấy biết siêu việt. Phải nhìn thế giới như thế nào, để Thần Chết không nhìn thấy?’
88.
88.
88.
Suññato lokaṃ avekkhassu, mogharāja sadā sato;
Attānudiṭṭhiṃ ūhacca, evaṃ maccutaro siyā;
Evaṃ lokaṃ avekkhantaṃ, maccurājā na passati.
Regard the world as empty, Mogharāja, ever mindful. Having uprooted the view of self, thus you may cross beyond death. One who regards the world thus, the King of Death does not see.
Này Mogharāja, hãy luôn chánh niệm, nhìn thế gian là trống không. Sau khi nhổ bỏ thân kiến, người ấy có thể vượt qua cái chết. Người nhìn thế gian như vậy, Thần Chết sẽ không nhìn thấy.
Suññato lokaṃ avekkhassūti. Lokoti nirayaloko tiracchānaloko pettivisayaloko manussaloko devaloko khandhaloko dhātuloko āyatanaloko ayaṃ loko paro loko brahmaloko sadevako †. Aññataro bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘loko lokoti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, lokoti vuccatī’’ti? ‘‘Lujjatīti kho, bhikkhu, tasmā lokoti vuccati. Kiñca lujjati? Cakkhu kho bhikkhu lujjati, rūpā lujjanti, cakkhuviñāṇaṃ lujjati, cakkhusamphasso lujjati, yampidaṃ † cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi lujjati; sotaṃ lujjati, gandhā lujjanti…pe… kāyo lujjati, phoṭṭhabbā lujjanti; mano lujjati, dhammā lujjanti, manoviññāṇaṃ lujjati, manosamphasso lujjati; yampidaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi lujjati. Lujjatīti kho, bhikkhu, tasmā lokoti vuccati’’.
Regarding 'Regard the world as empty': 'The world' means the hell world, the animal world, the realm of ghosts, the human world, the deva world, the world of the aggregates, the world of the elements, the world of the sense bases, this world, the other world, the Brahma-world with its devas. A certain monk said this to the Blessed One: “Venerable sir, it is said, ‘the world, the world.’ To what extent, venerable sir, is it called ‘the world’?” “It perishes, monk, therefore it is called ‘the world.’ And what perishes? The eye, monk, perishes. Forms perish. Eye-consciousness perishes. Eye-contact perishes. And whatever feeling arises conditioned by eye-contact—whether pleasant, painful, or neither-painful-nor-pleasant—that too perishes. The ear perishes, sounds perish… the body perishes, tangible objects perish… the mind perishes, mental objects perish, mind-consciousness perishes, mind-contact perishes; and whatever feeling arises conditioned by mind-contact—whether pleasant, painful, or neither-painful-nor-pleasant—that too perishes. Because it perishes, monk, therefore it is called ‘the world.’”
(Về câu) ‘Hãy nhìn thế gian là trống không.’ ‘Thế gian’ (loko) là: thế giới địa ngục, thế giới súc sanh, thế giới ngạ quỷ, thế giới loài người, thế giới chư thiên; thế giới của các uẩn, thế giới của các giới, thế giới của các xứ; thế giới này, thế giới bên kia, thế giới Phạm thiên cùng với chư thiên. Có một vị Tỳ khưu đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch Thế Tôn, người ta nói: ‘thế gian, thế gian.’ Bạch Thế Tôn, cho đến mức độ nào thì được gọi là ‘thế gian’?’ (Đức Phật đáp): ‘Này Tỳ khưu, vì nó hoại diệt (lujjati), nên được gọi là ‘thế gian’ (loko). Và cái gì hoại diệt? Này Tỳ khưu, con mắt hoại diệt, các sắc hoại diệt, nhãn thức hoại diệt, nhãn xúc hoại diệt, và bất cứ cảm thọ nào sanh khởi do duyên nhãn xúc – dù là lạc, khổ, hay không khổ không lạc – cảm thọ ấy cũng hoại diệt; tai hoại diệt, các mùi hương hoại diệt ... này đây ... thân hoại diệt, các vật xúc chạm hoại diệt; ý hoại diệt, các pháp hoại diệt, ý thức hoại diệt, ý xúc hoại diệt; và bất cứ cảm thọ nào sanh khởi do duyên ý xúc – dù là lạc, khổ, hay không khổ không lạc – cảm thọ ấy cũng hoại diệt. Này Tỳ khưu, vì nó hoại diệt, nên được gọi là ‘thế gian’.’
Suññato lokaṃ avekkhassūti dvīhi kāraṇehi suññato lokaṃ avekkhati – avasiyapavattasallakkhaṇavasena † vā tucchasaṅkhārasamanupassanāvasena vā. Kathaṃ avasiyapavattasallakkhaṇavasena suññato lokaṃ avekkhati? Rūpe vaso na labbhati, vedanāya vaso na labbhati, saññāya vaso na labbhati, saṅkhāresu vaso na labbhati, viññāṇe vaso na labbhati. Vuttañhetaṃ bhagavatā † – ‘‘rūpaṃ, bhikkhave, anattā. Rūpañca hidaṃ, bhikkhave, attā abhavissa, nayidaṃ rūpaṃ ābādhāya saṃvatteyya; labbhetha ca rūpe – ‘evaṃ me rūpaṃ hotu, evaṃ me rūpaṃ mā ahosī’ti. Yasmā ca kho, bhikkhave, rūpaṃ anattā, tasmā rūpaṃ ābādhāya saṃvattati na ca labbhati rūpe – ‘evaṃ me rūpaṃ hotu, evaṃ me rūpaṃ mā ahosī’ti.
‘Regard the world as empty’—one regards the world as empty for two reasons: either by way of noting the characteristic of being uncontrollable, or by way of thoroughly contemplating conditioned formations as void. How does one regard the world as empty by way of noting the characteristic of being uncontrollable? No control is found over form, no control is found over feeling, no control is found over perception, no control is found over formations, no control is found over consciousness. For this was said by the Blessed One: “Form, monks, is not-self. And if, monks, this form were self, then this form would not lead to affliction, and it could be obtained in form: ‘Let my form be thus, let my form not be thus.’ But because, monks, form is not-self, therefore form leads to affliction, and it cannot be obtained in form: ‘Let my form be thus, let my form not be thus.’”
“Hãy xem thế gian là trống không” có nghĩa là: Vị ấy xem thế gian là trống không do hai lý do – hoặc là do cách ghi nhận sự diễn tiến không theo ý muốn, hoặc là do cách tùy quán các hành là trống rỗng. Thế nào là vị ấy xem thế gian là trống không do cách ghi nhận sự diễn tiến không theo ý muốn? Quyền làm chủ không được tìm thấy ở sắc, quyền làm chủ không được tìm thấy ở thọ, quyền làm chủ không được tìm thấy ở tưởng, quyền làm chủ không được tìm thấy ở các hành, quyền làm chủ không được tìm thấy ở thức. Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: “Này các Tỳ khưu, sắc là vô ngã. Này các Tỳ khưu, nếu sắc này là tự ngã thì sắc này đã không dẫn đến khổ não; và người ta có thể có được (quyền năng) đối với sắc rằng: ‘Mong rằng sắc của tôi hãy là như thế này, mong rằng sắc của tôi đừng là như thế này.’ Và này các Tỳ khưu, chính vì sắc là vô ngã, cho nên sắc dẫn đến khổ não và người ta không thể có được (quyền năng) đối với sắc rằng: ‘Mong rằng sắc của tôi hãy là như thế này, mong rằng sắc của tôi đừng là như thế này.’”
‘‘Vedanā anattā. Vedanā ca hidaṃ, bhikkhave, attā abhavissa, nayidaṃ vedanā ābādhāya saṃvatteyya; labbhetha ca vedanāya – ‘evaṃ me vedanā hotu, evaṃ me vedanā mā ahosī’ti. Yasmā ca kho, bhikkhave, vedanā anattā, tasmā vedanā ābādhāya saṃvattati, na ca labbhati vedanāya – ‘evaṃ me vedanā hotu, evaṃ me vedanā mā ahosī’ti.
“Feeling is not-self. And if, monks, feeling were self, then feeling would not lead to affliction, and it could be obtained in feeling: ‘Let my feeling be thus, let my feeling not be thus.’ But because, monks, feeling is not-self, therefore feeling leads to affliction, and it cannot be obtained in feeling: ‘Let my feeling be thus, let my feeling not be thus.’”
“Thọ là vô ngã. Này các Tỳ khưu, nếu thọ này là tự ngã thì thọ này đã không dẫn đến khổ não; và người ta có thể có được (quyền năng) đối với thọ rằng: ‘Mong rằng thọ của tôi hãy là như thế này, mong rằng thọ của tôi đừng là như thế này.’ Và này các Tỳ khưu, chính vì thọ là vô ngã, cho nên thọ dẫn đến khổ não và người ta không thể có được (quyền năng) đối với thọ rằng: ‘Mong rằng thọ của tôi hãy là như thế này, mong rằng thọ của tôi đừng là như thế này.’”
‘‘Saññā anattā. Saññā ca hidaṃ, bhikkhave, attā abhavissa, nayidaṃ saññā ābādhāya saṃvatteyya; labbhetha ca saññāya – ‘evaṃ me saññā hotu, evaṃ me saññā mā ahosī’ti. Yasmā ca kho, bhikkhave, saññā anattā, tasmā saññā ābādhāya saṃvattati, na ca labbhati saññāya – ‘evaṃ me saññā hotu, evaṃ me saññā mā ahosī’ti.
“Perception is not-self. And if, monks, this perception were self, then this perception would not lead to affliction, and it could be obtained in perception: ‘Let my perception be thus, let my perception not be thus.’ But because, monks, perception is not-self, therefore perception leads to affliction, and it cannot be obtained in perception: ‘Let my perception be thus, let my perception not be thus.’”
“Tưởng là vô ngã. Này các Tỳ khưu, nếu tưởng này là tự ngã thì tưởng này đã không dẫn đến khổ não; và người ta có thể có được (quyền năng) đối với tưởng rằng: ‘Mong rằng tưởng của tôi hãy là như thế này, mong rằng tưởng của tôi đừng là như thế này.’ Và này các Tỳ khưu, chính vì tưởng là vô ngã, cho nên tưởng dẫn đến khổ não và người ta không thể có được (quyền năng) đối với tưởng rằng: ‘Mong rằng tưởng của tôi hãy là như thế này, mong rằng tưởng của tôi đừng là như thế này.’”
‘‘Saṅkhārā anattā. Saṅkhārā ca hidaṃ, bhikkhave, attā abhavissaṃsu, nayidaṃ saṅkhārā ābādhāya saṃvatteyyuṃ; labbhetha ca saṅkhāresu – ‘evaṃ me saṅkhārā hontu, evaṃ me saṅkhārā mā ahesu’nti. Yasmā ca kho, bhikkhave, saṅkhārā anattā, tasmā saṅkhārā ābādhāya saṃvattanti, na ca labbhati saṅkhāresu – ‘evaṃ me saṅkhārā hontu, evaṃ me saṅkhārā mā ahesu’nti.
“Formations are not-self. And if, monks, these formations were self, then these formations would not lead to affliction, and it could be obtained in formations: ‘Let my formations be thus, let my formations not be thus.’ But because, monks, formations are not-self, therefore formations lead to affliction, and it cannot be obtained in formations: ‘Let my formations be thus, let my formations not be thus.’”
“Các hành là vô ngã. Này các Tỳ khưu, nếu các hành này là tự ngã thì các hành này đã không dẫn đến khổ não; và người ta có thể có được (quyền năng) đối với các hành rằng: ‘Mong rằng các hành của tôi hãy là như thế này, mong rằng các hành của tôi đừng là như thế này.’ Và này các Tỳ khưu, chính vì các hành là vô ngã, cho nên các hành dẫn đến khổ não và người ta không thể có được (quyền năng) đối với các hành rằng: ‘Mong rằng các hành của tôi hãy là như thế này, mong rằng các hành của tôi đừng là như thế này.’”
‘‘Viññāṇaṃ anattā. Viññāṇañca hidaṃ, bhikkhave, attā abhavissa, nayidaṃ viññāṇaṃ ābādhāya saṃvatteyya; labbhetha ca viññāṇe – ‘evaṃ me viññāṇaṃ hotu, evaṃ me viññāṇaṃ mā ahosī’ti. Yasmā ca kho, bhikkhave, viññāṇaṃ anattā, tasmā viññāṇaṃ ābādhāya saṃvattati, na ca labbhati viññāṇe – ‘evaṃ me viññāṇaṃ hotu, evaṃ me viññāṇaṃ mā ahosī’’’ti.
“Consciousness is not-self. And if, monks, this consciousness were self, then this consciousness would not lead to affliction, and it could be obtained in consciousness: ‘Let my consciousness be thus, let my consciousness not be thus.’ But because, monks, consciousness is not-self, therefore consciousness leads to affliction, and it cannot be obtained in consciousness: ‘Let my consciousness be thus, let my consciousness not be thus.’”
“Thức là vô ngã. Này các Tỳ khưu, nếu thức này là tự ngã thì thức này đã không dẫn đến khổ não; và người ta có thể có được (quyền năng) đối với thức rằng: ‘Mong rằng thức của tôi hãy là như thế này, mong rằng thức của tôi đừng là như thế này.’ Và này các Tỳ khưu, chính vì thức là vô ngã, cho nên thức dẫn đến khổ não và người ta không thể có được (quyền năng) đối với thức rằng: ‘Mong rằng thức của tôi hãy là như thế này, mong rằng thức của tôi đừng là như thế này.’”
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘nāyaṃ, bhikkhave, kāyo tumhākaṃ, napi aññesaṃ †. Purāṇamidaṃ, bhikkhave, kammaṃ abhisaṅkhataṃ abhisañcetayitaṃ vedaniyaṃ daṭṭhabbaṃ. Tatra kho, bhikkhave, sutavā ariyasāvako paṭiccasamuppādaṃyeva sādhukaṃ yoniso manasi karoti – ‘iti imasmiṃ sati idaṃ hoti, imassuppādā idaṃ uppajjati; imasmiṃ asati idaṃ na hoti, imassa nirodhā idaṃ nirujjhati, yadidaṃ – avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ, nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ, saḷāyatanapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṃ, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti – evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti’’’.
This was said by the Blessed One: “Monks, this body is not yours, nor is it others’. Monks, this is old kamma, to be seen as formed, willed, and to be experienced. Here, monks, a learned noble disciple attends thoroughly and wisely to dependent origination itself: ‘When this exists, that is; with the arising of this, that arises. When this does not exist, that is not; with the cessation of this, that ceases. That is: with ignorance as condition, formations; with formations as condition, consciousness; with consciousness as condition, name-and-form; with name-and-form as condition, the six sense bases; with the six sense bases as condition, contact; with contact as condition, feeling; with feeling as condition, craving; with craving as condition, clinging; with clinging as condition, existence; with existence as condition, birth; with birth as condition, aging and death, sorrow, lamentation, pain, grief, and despair come to be. Thus is the origin of this whole mass of suffering.’”
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: “Này các Tỳ khưu, thân này không phải của các ông, cũng không phải của những người khác. Này các Tỳ khưu, nên xem nghiệp cũ này là đã được tạo tác, đã được chủ ý, là điều phải được cảm nhận. Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều khéo tác ý như lý về chính lý Duyên khởi rằng: ‘Do cái này có, cái kia có; do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt, tức là: do vô minh duyên các hành, do các hành duyên thức, do thức duyên danh sắc, do danh sắc duyên sáu xứ, do sáu xứ duyên xúc, do xúc duyên thọ, do thọ duyên ái, do ái duyên thủ, do thủ duyên hữu, do hữu duyên sanh, do sanh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này.’”
‘‘Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho, saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho …pe… jātinirodhā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti, evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’’ti. Evaṃ avasiyapavattasallakkhaṇavasena suññato lokaṃ avekkhati.
“From the remainderless fading away and cessation of ignorance indeed, there is the cessation of volitional formations; from the cessation of volitional formations, there is the cessation of consciousness [and so on]; from the cessation of birth, aging and death, sorrow, lamentation, pain, grief, and despair cease. Thus, there is the cessation of this entire mass of suffering.” In this way, one regards the world as empty by way of discerning the characteristic of non-control in its ongoing process.
“Do vô minh diệt tận không còn dư tàn, các hành diệt. Do các hành diệt, thức diệt... Do sanh diệt, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này.” Như vậy, vị ấy xem thế gian là trống không do cách ghi nhận sự diễn tiến không theo ý muốn.
Kathaṃ tucchasaṅkhārasamanupassanāvasena suññato lokaṃ avekkhati? Rūpe sāro na labbhati, vedanāya sāro na labbhati, saññāya sāro na labbhati, saṅkhāresu sāro na labbhati, viññāṇe sāro na labbhati; rūpaṃ assāraṃ nissāraṃ sārāpagataṃ niccasārasārena vā sukhasārasārena vā attasārasārena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā. Vedanā assārā nissārā sārāpagatā…pe… saññā assārā nissārā sārāpagatā… saṅkhārā assārā nissārā sārāpagatā… viññāṇaṃ assāraṃ nissāraṃ sārāpagataṃ niccasārasārena vā sukhasārasārena vā attasārasārena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā. Yathā naḷo assāro nissāro sārāpagato, yathā ca eraṇḍo…pe… yathā ca udumbaro assāro nissāro sārāpagato, yathā ca setagaccho † assāro nissāro sārāpagato, yathā ca pālibhaddako † assāro nissāro sārāpagato, yathā ca pheṇapiṇḍo † assāro nissāro sārāpagato, yathā ca udakapubbuḷaṃ † assāraṃ nissāraṃ sārāpagataṃ, yathā ca marīci assārā nissārā sārāpagatā, yathā kadalikkhandho assāro nissāro sārāpagato, yathā māyā assārā nissārā sārāpagatā – evameva rūpaṃ assāraṃ nissāraṃ sārāpagataṃ niccasārasārena vā sukhasārasārena vā attasārasārena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā. Vedanā assārā nissārā sārāpagatā…pe… saññā assārā nissārā sārāpagatā… saṅkhārā assārā nissārā sārāpagatā… viññāṇaṃ assāraṃ nissāraṃ sārāpagataṃ niccasārasārena vā sukhasārasārena vā attasārasārena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā. Evaṃ tucchasaṅkhārasamanupassanāvasena suññato lokaṃ avekkhati. Imehi dvīhi kāraṇehi suññato lokaṃ avekkhati.
How does one regard the world as empty by way of contemplating formations as void? No essence is found in form, no essence is found in feeling, no essence is found in perception, no essence is found in formations, no essence is found in consciousness. Form is essenceless, without essence, devoid of essence, either with an essence of permanence, an essence of pleasure, or an essence of self, or as permanent, stable, eternal, or as a state not subject to change. Feeling is essenceless, without essence, devoid of essence… and so on… perception is essenceless, without essence, devoid of essence… formations are essenceless, without essence, devoid of essence… consciousness is essenceless, without essence, devoid of essence, either with an essence of permanence, an essence of pleasure, or an essence of self, or as permanent, stable, eternal, or as a state not subject to change. Just as a reed is essenceless, without essence, devoid of essence; just as a castor-oil plant… and so on… just as a fig tree is essenceless, without essence, devoid of essence; just as a white-barked tree is essenceless, without essence, devoid of essence; just as a coral tree is essenceless, without essence, devoid of essence; just as a lump of foam is essenceless, without essence, devoid of essence; just as a water bubble is essenceless, without essence, devoid of essence; just as a mirage is essenceless, without essence, devoid of essence; just as a banana trunk is essenceless, without essence, devoid of essence; just as an illusion is essenceless, without essence, devoid of essence—so too, form is essenceless, without essence, devoid of essence, either with an essence of permanence, an essence of pleasure, or an essence of self, or as permanent, stable, eternal, or as a state not subject to change. Feeling is essenceless, without essence, devoid of essence… and so on… perception is essenceless, without essence, devoid of essence… formations are essenceless, without essence, devoid of essence… consciousness is essenceless, without essence, devoid of essence, either with an essence of permanence, an essence of pleasure, or an essence of self, or as permanent, stable, eternal, or as a state not subject to change. Thus, by way of contemplating formations as void, one regards the world as empty. For these two reasons, one regards the world as empty.
Làm thế nào vị ấy nhìn thấy thế gian là trống không do bởi sự tùy quán các pháp hữu vi là trống rỗng? Cốt lõi không được tìm thấy ở trong sắc, cốt lõi không được tìm thấy ở trong thọ, cốt lõi không được tìm thấy ở trong tưởng, cốt lõi không được tìm thấy ở trong các hành, cốt lõi không được tìm thấy ở trong thức; sắc là không có cốt lõi, không có tinh chất, đã lìa khỏi cốt lõi bởi cốt lõi của sự thường còn hoặc bởi cốt lõi của sự lạc hoặc bởi cốt lõi của tự ngã, hoặc bởi sự thường còn, hoặc bởi sự bền vững, hoặc bởi sự vĩnh hằng, hoặc bởi pháp không bị biến đổi. Thọ là không có cốt lõi, không có tinh chất, đã lìa khỏi cốt lõi ... cho đến ... tưởng là không có cốt lõi, không có tinh chất, đã lìa khỏi cốt lõi ... các hành là không có cốt lõi, không có tinh chất, đã lìa khỏi cốt lõi ... thức là không có cốt lõi, không có tinh chất, đã lìa khỏi cốt lõi bởi cốt lõi của sự thường còn hoặc bởi cốt lõi của sự lạc hoặc bởi cốt lõi của tự ngã, hoặc bởi sự thường còn, hoặc bởi sự bền vững, hoặc bởi sự vĩnh hằng, hoặc bởi pháp không bị biến đổi. Giống như cây sậy là không có cốt lõi, không có tinh chất, đã lìa khỏi cốt lõi, và giống như cây thầu dầu ... cho đến ... và giống như cây sung là không có cốt lõi, không có tinh chất, đã lìa khỏi cốt lõi, và giống như cây setagaccha là không có cốt lõi, không có tinh chất, đã lìa khỏi cốt lõi, và giống như cây pālibhaddaka là không có cốt lõi, không có tinh chất, đã lìa khỏi cốt lõi, và giống như khối bọt là không có cốt lõi, không có tinh chất, đã lìa khỏi cốt lõi, và giống như bong bóng nước là không có cốt lõi, không có tinh chất, đã lìa khỏi cốt lõi, và giống như ảo ảnh là không có cốt lõi, không có tinh chất, đã lìa khỏi cốt lõi, giống như thân cây chuối là không có cốt lõi, không có tinh chất, đã lìa khỏi cốt lõi, giống như trò ảo thuật là không có cốt lõi, không có tinh chất, đã lìa khỏi cốt lõi – cũng giống như thế, sắc là không có cốt lõi, không có tinh chất, đã lìa khỏi cốt lõi bởi cốt lõi của sự thường còn hoặc bởi cốt lõi của sự lạc hoặc bởi cốt lõi của tự ngã, hoặc bởi sự thường còn, hoặc bởi sự bền vững, hoặc bởi sự vĩnh hằng, hoặc bởi pháp không bị biến đổi. Thọ là không có cốt lõi, không có tinh chất, đã lìa khỏi cốt lõi ... cho đến ... tưởng là không có cốt lõi, không có tinh chất, đã lìa khỏi cốt lõi ... các hành là không có cốt lõi, không có tinh chất, đã lìa khỏi cốt lõi ... thức là không có cốt lõi, không có tinh chất, đã lìa khỏi cốt lõi bởi cốt lõi của sự thường còn hoặc bởi cốt lõi của sự lạc hoặc bởi cốt lõi của tự ngã, hoặc bởi sự thường còn, hoặc bởi sự bền vững, hoặc bởi sự vĩnh hằng, hoặc bởi pháp không bị biến đổi. Bằng cách ấy, vị ấy nhìn thấy thế gian là trống không do bởi sự tùy quán các pháp hữu vi là trống rỗng. Do bởi hai lý do này, vị ấy nhìn thấy thế gian là trống không.
Api ca, chahākārehi suññato lokaṃ avekkhati. Cakkhu suññaṃ † attena vā attaniyena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā, sotaṃ suññaṃ…pe… ghānaṃ suññaṃ… jivhā suññā… kāyo suñño… mano suñño attena vā attaniyena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā. Rūpā suññā…pe… saddā suññā… gandhā suññā… rasā suññā… phoṭṭhabbā suññā… dhammā suññā attena vā attaniyena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā. Cakkhuviññāṇaṃ suññaṃ…pe… manoviññāṇaṃ suññaṃ… cakkhusamphasso suñño … manosamphasso suñño… cakkhusamphassajā vedanā suññā… manosamphassajā vedanā suññā… rūpasaññā suññā… dhammasaññā suññā… rūpasañcetanā suññā… dhammasañcetanā suññā… rūpataṇhā suññā… rūpavitakko suñño… rūpavicāro suñño… dhammavicāro suñño attena vā attaniyena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā. Evaṃ chahākārehi suññato lokaṃ avekkhati.
Moreover, one contemplates the world as empty in six ways. The eye is empty of self or of what belongs to self, of permanence, of stability, of eternity, or of unchanging nature. The ear is empty... the nose is empty... the tongue is empty... the body is empty... the mind is empty of self or of what belongs to self, of permanence, of stability, of eternity, or of unchanging nature. Forms are empty... sounds are empty... smells are empty... tastes are empty... tactile objects are empty... mental phenomena are empty of self or of what belongs to self, of permanence, of stability, of eternity, or of unchanging nature. Eye-consciousness is empty... mind-consciousness is empty... eye-contact is empty... mind-contact is empty... feeling born of eye-contact is empty... feeling born of mind-contact is empty... perception of forms is empty... perception of mental phenomena is empty... intention regarding forms is empty... intention regarding mental phenomena is empty... craving for forms is empty... applied thought concerning forms is empty... sustained thought concerning forms is empty... sustained thought concerning mental phenomena is empty of self or of what belongs to self, of permanence, of stability, of eternity, or of unchanging nature. Thus, one contemplates the world as empty in six ways.
Lại nữa, vị ấy nhìn thấy thế gian là trống không theo sáu phương diện. Mắt là trống không đối với tự ngã hoặc đối với sở hữu của tự ngã, hoặc đối với sự thường còn, hoặc đối với sự bền vững, hoặc đối với sự vĩnh hằng, hoặc đối với pháp không bị biến đổi; tai là trống không ... cho đến ... mũi là trống không ... lưỡi là trống không ... thân là trống không ... ý là trống không đối với tự ngã hoặc đối với sở hữu của tự ngã, hoặc đối với sự thường còn, hoặc đối với sự bền vững, hoặc đối với sự vĩnh hằng, hoặc đối với pháp không bị biến đổi. Các sắc là trống không ... cho đến ... các tiếng là trống không ... các mùi là trống không ... các vị là trống không ... các vật xúc chạm là trống không ... các pháp là trống không đối với tự ngã hoặc đối với sở hữu của tự ngã, hoặc đối với sự thường còn, hoặc đối với sự bền vững, hoặc đối với sự vĩnh hằng, hoặc đối với pháp không bị biến đổi. Nhãn thức là trống không ... cho đến ... ý thức là trống không ... nhãn xúc là trống không ... ý xúc là trống không ... thọ sanh từ nhãn xúc là trống không ... thọ sanh từ ý xúc là trống không ... sắc tưởng là trống không ... pháp tưởng là trống không ... sắc tư là trống không ... pháp tư là trống không ... sắc ái là trống không ... sắc tầm là trống không ... sắc tứ là trống không ... pháp tứ là trống không đối với tự ngã hoặc đối với sở hữu của tự ngã, hoặc đối với sự thường còn, hoặc đối với sự bền vững, hoặc đối với sự vĩnh hằng, hoặc đối với pháp không bị biến đổi. Bằng cách ấy, vị ấy nhìn thấy thế gian là trống không theo sáu phương diện.
Api ca, dasahākārehi suññato lokaṃ avekkhati. Rūpaṃ rittato tucchato suññato anattato asārakato vadhakato vibhavato aghamūlato sāsavato saṅkhatato; vedanaṃ…pe… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ… cutiṃ… upapattiṃ… paṭisandhiṃ… bhavaṃ… saṃsāravaṭṭaṃ rittato tucchato suññato anattato asārakato vadhakato vibhavato aghamūlato sāsavato saṅkhatato. Evaṃ dasahākārehi suññato lokaṃ avekkhati.
Furthermore, one contemplates the world as empty in ten ways. Form is empty, hollow, void, not-self, without essence, deadly, perishing, the root of evil, defiled, and conditioned. Feeling... perception... volitional formations... consciousness... death... arising... re-linking... existence... the round of saṃsāra is empty, hollow, void, not-self, without essence, deadly, perishing, the root of evil, defiled, and conditioned. Thus, one contemplates the world as empty in ten ways.
Lại nữa, vị ấy nhìn thấy thế gian là trống không theo mười phương diện. Sắc là rỗng không, là hư ảo, là trống không, là vô ngã, là không có cốt lõi, là kẻ sát hại, là sự hoại diệt, là cội rễ của điều bất hạnh, là có lậu hoặc, là pháp hữu vi; thọ ... cho đến ... tưởng ... các hành ... thức ... sự chết ... sự tái sanh ... sự tái tục ... sự hiện hữu ... vòng luân hồi là rỗng không, là hư ảo, là trống không, là vô ngã, là không có cốt lõi, là kẻ sát hại, là sự hoại diệt, là cội rễ của điều bất hạnh, là có lậu hoặc, là pháp hữu vi. Bằng cách ấy, vị ấy nhìn thấy thế gian là trống không theo mười phương diện.
Api ca, dvādasahākārehi suññato lokaṃ avekkhati. Rūpaṃ na satto na jīvo na naro na māṇavo na itthī na puriso na attā na attaniyaṃ nāhaṃ na mama na koci na kassaci; vedanā…pe… saññā… saṅkhārā… viññāṇaṃ na satto na jīvo na naro na māṇavo na itthī na puriso na attā na attaniyaṃ nāhaṃ na mama na koci na kassaci. Evaṃ dvādasahākārehi suññato lokaṃ avekkhati.
Furthermore, one contemplates the world as empty in twelve aspects. Form is not a being, not a life-principle, not a person, not a youth, not a woman, not a man, not a self, not what belongs to a self, not 'I', not 'mine', not anyone, not belonging to anyone. Feeling… perception… volitional formations… consciousness is not a being, not a life-principle, not a person, not a youth, not a woman, not a man, not a self, not what belongs to a self, not 'I', not 'mine', not anyone, not belonging to anyone. Thus, one contemplates the world as empty in twelve aspects.
Lại nữa, vị ấy nhìn thấy thế gian là trống không theo mười hai phương diện. Sắc không phải là chúng sanh, không phải là sinh mạng, không phải là người nam, không phải là thanh niên, không phải là người nữ, không phải là người đàn ông, không phải là tự ngã, không phải là sở hữu của tự ngã, không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là một ai, không phải của một ai; thọ ... cho đến ... tưởng ... các hành ... thức không phải là chúng sanh, không phải là sinh mạng, không phải là người nam, không phải là thanh niên, không phải là người nữ, không phải là người đàn ông, không phải là tự ngã, không phải là sở hữu của tự ngã, không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là một ai, không phải của một ai. Bằng cách ấy, vị ấy nhìn thấy thế gian là trống không theo mười hai phương diện.
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘yaṃ, bhikkhave, na tumhākaṃ taṃ pajahatha. Taṃ vo pahīnaṃ dīgharattaṃ hitāya sukhāya bhavissati. Kiñca, bhikkhave, na tumhākaṃ? Rūpaṃ, bhikkhave, na tumhākaṃ; taṃ pajahatha. Taṃ vo pahīnaṃ dīgharattaṃ hitāya sukhāya bhavissati. Vedanā, bhikkhave, na tumhākaṃ; taṃ pajahatha. Sā vo pahīnā dīgharattaṃ hitāya sukhāya bhavissati. Saññā, bhikkhave, na tumhākaṃ; taṃ pajahatha. Sā vo pahīnā dīgharattaṃ hitāya sukhāya bhavissati. Saṅkhārā, bhikkhave, na tumhākaṃ; te pajahatha. Te vo pahīnā dīgharattaṃ hitāya sukhāya bhavissanti. Viññāṇaṃ, bhikkhave, na tumhākaṃ; taṃ pajahatha. Taṃ vo pahīnaṃ dīgharattaṃ hitāya sukhāya bhavissati. Seyyathāpi †, bhikkhave, yaṃ imasmiṃ jetavane tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṃ taṃ jano hareyya vā ḍaheyya vā yathāpaccayaṃ vā kareyya. Api nu tumhākaṃ evamassa – ‘amhe jano harati vā ḍahati vā yathāpaccayaṃ vā karotī’ti? ‘No hetaṃ, bhante’. ‘Taṃ kissa hetu’? ‘Na hi no etaṃ, bhante, attā vā attaniyaṃ vā’ti. Evameva kho, bhikkhave, yaṃ na tumhākaṃ taṃ pajahatha; taṃ vo pahīnaṃ dīgharattaṃ hitāya sukhāya bhavissati. Kiñca, bhikkhave, na tumhākaṃ? Rūpaṃ, bhikkhave, na tumhākaṃ; taṃ pajahatha. Taṃ vo pahīnaṃ dīgharattaṃ hitāya sukhāya bhavissati. Vedanā…pe… saññā… saṅkhārā… viññāṇaṃ, bhikkhave, na tumhākaṃ; taṃ pajahatha. Taṃ vo pahīnaṃ dīgharattaṃ hitāya sukhāya bhavissatī’’ti. Evampi suññato lokaṃ avekkhati.
For this was said by the Blessed One: "Monks, abandon what is not yours. Your abandoning of it will be for your welfare and happiness for a long time. And what, monks, is not yours? Form, monks, is not yours; abandon it. Your abandoning of it will be for your welfare and happiness for a long time. Feeling, monks, is not yours; abandon it. Your abandoning of it will be for your welfare and happiness for a long time. Perception, monks, is not yours; abandon it. Your abandoning of it will be for your welfare and happiness for a long time. Volitional formations, monks, are not yours; abandon them. Your abandoning of them will be for your welfare and happiness for a long time. Consciousness, monks, is not yours; abandon it. Your abandoning of it will be for your welfare and happiness for a long time. Just as, monks, if people were to carry away, burn, or do as they please with the grass, sticks, branches, and leaves in this Jeta's Grove, would you think, 'People are carrying us away, burning us, or doing as they please with us'?' 'Certainly not, venerable sir.' 'For what reason?' 'Because, venerable sir, that is neither our self nor what belongs to our self.' In the same way, monks, abandon what is not yours; your abandoning of it will be for your welfare and happiness for a long time. And what, monks, is not yours? Form, monks, is not yours; abandon it. Your abandoning of it will be for your welfare and happiness for a long time. Feeling... perception... volitional formations... consciousness, monks, is not yours; abandon it. Your abandoning of it will be for your welfare and happiness for a long time." In this way also, one regards the world as empty.
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, cái gì không phải của các ngươi, các ngươi hãy từ bỏ nó. Việc từ bỏ nó sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho các ngươi. Và này các tỳ khưu, cái gì không phải của các ngươi? Này các tỳ khưu, sắc không phải của các ngươi; các ngươi hãy từ bỏ nó. Việc từ bỏ nó sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho các ngươi. Này các tỳ khưu, thọ không phải của các ngươi; các ngươi hãy từ bỏ nó. Việc từ bỏ nó sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho các ngươi. Này các tỳ khưu, tưởng không phải của các ngươi; các ngươi hãy từ bỏ nó. Việc từ bỏ nó sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho các ngươi. Này các tỳ khưu, các hành không phải của các ngươi; các ngươi hãy từ bỏ chúng. Việc từ bỏ chúng sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho các ngươi. Này các tỳ khưu, thức không phải của các ngươi; các ngươi hãy từ bỏ nó. Việc từ bỏ nó sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho các ngươi. Ví như, này các tỳ khưu, bất cứ cỏ, củi, cành, lá nào trong khu vườn Jetavana này, người ta có thể mang đi, hoặc đốt, hoặc làm theo ý muốn. Liệu các ngươi có nghĩ rằng: ‘Người ta đang mang chúng tôi đi, hoặc đốt chúng tôi, hoặc làm theo ý muốn đối với chúng tôi’ không?’ ‘Bạch đức Thế Tôn, không phải vậy.’ ‘Vì sao vậy?’ ‘Bạch đức Thế Tôn, vì đó không phải là tự ngã của chúng con, cũng không phải là sở hữu của tự ngã.’ ‘Cũng vậy, này các tỳ khưu, cái gì không phải của các ngươi, các ngươi hãy từ bỏ nó; việc từ bỏ nó sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho các ngươi. Và này các tỳ khưu, cái gì không phải của các ngươi? Này các tỳ khưu, sắc không phải của các ngươi; các ngươi hãy từ bỏ nó. Việc từ bỏ nó sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho các ngươi. Thọ... này... tưởng... các hành... Này các tỳ khưu, thức không phải của các ngươi; các ngươi hãy từ bỏ nó. Việc từ bỏ nó sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho các ngươi.’ Như vậy, vị ấy quán xét thế gian là trống không.
Āyasmā ānando bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘‘suñño † loko, suñño loko’ti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, suñño lokoti vuccatī’’ti? ‘‘Yasmā ca kho, ānanda, suññaṃ attena vā attaniyena vā, tasmā suñño lokoti vuccati. Kiñcānanda, suññaṃ attena vā attaniyena vā? Cakkhu kho, ānanda, suññaṃ attena vā attaniyena vā. Rūpā suññā…pe… cakkhuviññāṇaṃ suññaṃ… cakkhusamphasso suñño… yampidaṃ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi suññaṃ attena vā attaniyena vā. Sotaṃ suññaṃ… saddā suññā… ghānaṃ suññaṃ… gandhā suññā… jivhā suññā… rasā suññā… kāyo suñño … phoṭṭhabbā suññā… mano suñño… dhammā suññā… manoviññāṇaṃ suññaṃ… manosamphasso suñño… yampidaṃ suññaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi suññaṃ attena vā attaniyena vā. Yasmā ca kho, ānanda, suññaṃ attena vā attaniyena vā, tasmā suñño lokoti vuccatī’’ti. Evampi suññato lokaṃ avekkhati.
Venerable Ānanda addressed the Blessed One: “‘The world is empty, the world is empty,’ it is said, venerable sir. To what extent, venerable sir, is it said that the world is empty?” “Because, Ānanda, it is empty of self or of what belongs to self, therefore it is said that the world is empty. And what, Ānanda, is empty of self or of what belongs to self? The eye, Ānanda, is empty of self or of what belongs to self. Forms are empty… eye-consciousness is empty… eye-contact is empty… whatever feeling arises dependent on eye-contact—pleasant, painful, or neither-painful-nor-pleasant—that too is empty of self or of what belongs to self. The ear is empty… sounds are empty… The nose is empty… odors are empty… The tongue is empty… tastes are empty… The body is empty… tactile objects are empty… The mind is empty… mental phenomena are empty… mind-consciousness is empty… mind-contact is empty… whatever feeling arises dependent on mind-contact—pleasant, painful, or neither-painful-nor-pleasant—that too is empty of self or of what belongs to self. Because, Ānanda, it is empty of self or of what belongs to self, therefore it is said that the world is empty.” Thus, one contemplates the world as empty.
Tôn giả Ānanda đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch đức Thế Tôn, người ta nói: ‘Thế gian trống không, thế gian trống không.’ Bạch đức Thế Tôn, thế nào được gọi là thế gian trống không?’ ‘Này Ānanda, vì trống không tự ngã hay sở hữu của tự ngã, nên được gọi là thế gian trống không. Và này Ānanda, cái gì trống không tự ngã hay sở hữu của tự ngã? Này Ānanda, mắt trống không tự ngã hay sở hữu của tự ngã. Các sắc trống không... này... nhãn thức trống không... nhãn xúc trống không... và cảm thọ nào sanh khởi do duyên nhãn xúc, dù là lạc, khổ, hay không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng trống không tự ngã hay sở hữu của tự ngã. Tai trống không... các tiếng trống không... mũi trống không... các mùi trống không... lưỡi trống không... các vị trống không... thân trống không... các vật xúc chạm trống không... ý trống không... các pháp trống không... ý thức trống không... ý xúc trống không... và cảm thọ nào sanh khởi do duyên ý xúc, dù là lạc, khổ, hay không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng trống không tự ngã hay sở hữu của tự ngã. Này Ānanda, vì trống không tự ngã hay sở hữu của tự ngã, nên được gọi là thế gian trống không.’ Như vậy, vị ấy quán xét thế gian là trống không.
‘‘Suddhaṃ dhammasamuppādaṃ, suddhasaṅkhārasantatiṃ;
Passantassa yathābhūtaṃ, na bhayaṃ hoti gāmaṇi.
For one who sees, as it really is, the pure arising of phenomena and the pure continuity of formations, there is no fear, headman.
‘Này Gāmaṇi, đối với người thấy như thật về sự sanh khởi thuần túy của các pháp, về dòng tương tục thuần túy của các hành, thì không có sự sợ hãi.
‘‘Tiṇakaṭṭhasamaṃ lokaṃ, yadā paññāya passati;
Nāññaṃ † patthayate kiñci, aññatrappaṭisandhiyā’’ti.
When one sees the world with wisdom as like grass and timber, one does not yearn for anything other than the cessation of rebirth.
‘Khi người ấy thấy bằng trí tuệ rằng thế gian này giống như cỏ và củi, vị ấy không mong cầu bất cứ điều gì khác, ngoại trừ việc không còn tái sanh.’
Evampi suññato lokaṃ avekkhati.
Thus, one regards the world as empty.
Như vậy, vị ấy quán xét thế gian là trống không.
Vuttañhetaṃ bhagavatā † – ‘‘evameva kho, bhikkhave, bhikkhu rūpaṃ samannesati yāvatā rūpassa gati, vedanaṃ samannesati yāvatā vedanāya gati, saññaṃ samannesati yāvatā saññāya gati, saṅkhāre samannesati yāvatā saṅkhārānaṃ gati, viññāṇaṃ samannesati yāvatā viññāṇassa gati. Tassa rūpaṃ † samannesato yāvatā rūpassa gati, vedanaṃ…pe… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ samannesato yāvatā viññāṇassa gati, yampissa taṃ hoti ahanti vā mamanti vā asmīti vā, tampi tassa na hotī’’ti. Evampi suññato lokaṃ avekkhati.
This was said by the Blessed One: 'In this very way, bhikkhus, a bhikkhu investigates form as far as the range of form extends, he investigates feeling as far as the range of feeling extends, he investigates perception as far as the range of perception extends, he investigates volitional formations as far as the range of volitional formations extends, he investigates consciousness as far as the range of consciousness extends. When he investigates form as far as the range of form extends, feeling… perception… volitional formations… consciousness as far as the range of consciousness extends, then whatever there is of 'I' or 'mine' or 'I am'—that too does not occur to him.' In this way also, he regards the world as empty.
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Cũng vậy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tìm xét sắc cho đến tận cùng phạm vi của sắc, tìm xét thọ cho đến tận cùng phạm vi của thọ, tìm xét tưởng cho đến tận cùng phạm vi của tưởng, tìm xét các hành cho đến tận cùng phạm vi của các hành, tìm xét thức cho đến tận cùng phạm vi của thức. Đối với vị ấy, trong khi tìm xét sắc cho đến tận cùng phạm vi của sắc, tìm xét thọ... này... tưởng... các hành... tìm xét thức cho đến tận cùng phạm vi của thức, thì cái gọi là ‘ta là’, hoặc ‘của ta là’, hoặc ‘ta hiện hữu’ cũng không còn tồn tại nữa.’ Như vậy, vị ấy quán xét thế gian là trống không.
Suññato lokaṃ avekkhassūti suññato lokaṃ avekkhassu paccavekkhassu dakkhassu tulehi tīrehi vibhāvehi vibhūtaṃ karohīti – suññato lokaṃ avekkhassu.
The meaning of the phrase 'Regard the world as empty' is this: Regard the world as empty, reflect upon it, see it, weigh it, investigate it, develop it, and make it clear.
‘Hãy quán xét thế gian là trống không’ có nghĩa là: hãy quán xét, hãy xem xét, hãy nhìn, hãy cân nhắc, hãy thẩm tra, hãy làm cho phát triển, hãy làm cho rõ ràng thế gian là trống không – (đó là ý nghĩa của) ‘hãy quán xét thế gian là trống không’.
Mogharāja sadā satoti. Mogharājāti bhagavā taṃ brāhmaṇaṃ nāmena ālapati. Sadāti sabbakālaṃ…pe… pacchime vayokhandhe. Satoti catūhi kāraṇehi sato – kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvento sato…pe… so vuccati satoti – mogharāja sadā sato.
‘Mogharāja, always mindful.’ The Blessed One addressed that brahmin by name, ‘Mogharāja.’ ‘Always’ means at all times… in the last stage of life. ‘Mindful’ means mindful for four reasons: mindful by developing the establishment of mindfulness on the body as body… he is called mindful—‘Mogharāja, always mindful.’
‘Này Mogharāja, hãy luôn chánh niệm.’ ‘Mogharāja’ là đức Thế Tôn gọi vị Bà-la-môn ấy bằng tên. ‘Luôn luôn’ là trong mọi lúc... này... trong giai đoạn cuối của cuộc đời. ‘Chánh niệm’ là có chánh niệm do bốn lý do – vị ấy có chánh niệm khi đang tu tập niệm xứ về quán thân trên thân... này... vị ấy được gọi là người có chánh niệm – (đó là ý nghĩa của) ‘này Mogharāja, hãy luôn chánh niệm’.
Attānudiṭṭhiṃ ūhaccāti attānudiṭṭhi vuccati vīsativatthukā sakkāyadiṭṭhi. Idha assutavā puthujjano ariyānaṃ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto sappurisānaṃ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto rūpaṃ attato samanupassati rūpavantaṃ vā attānaṃ attani vā rūpaṃ rūpasmiṃ vā attānaṃ, vedanaṃ…pe… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ attato samanupassati viññāṇavantaṃ vā attānaṃ attani vā viññāṇaṃ viññāṇasmiṃ vā attānaṃ. Yā evarūpā diṭṭhi diṭṭhigataṃ diṭṭhigahanaṃ diṭṭhikantāro diṭṭhivisūkāyikaṃ diṭṭhivipphanditaṃ diṭṭhisaṃyojanaṃ gāho paṭiggāho abhiniveso parāmāso kummaggo micchāpatho micchattaṃ titthāyatanaṃ vipariyesaggāho viparītaggāho vipallāsaggāho micchāgāho ayāthāvakasmiṃ yāthāvakanti gāho yāvatā dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni, ayaṃ attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhiṃ ūhaccāti attānudiṭṭhiṃ ūhacca samūhacca † uddharitvā samuddharitvā uppāṭayitvā samuppāṭayitvā pajahitvā vinodetvā byantīkaritvā anabhāvaṃ gametvāti – attānudiṭṭhiṃ ūhacca.
'Having uprooted the view of self.' The view of self is called the twentyfold personality-view. Here, an uninstructed ordinary person—who has not seen the Noble Ones, is not skilled in the Noble Dhamma, is not disciplined in the Noble Dhamma; who has not seen true persons, is not skilled in the Dhamma of true persons, is not disciplined in the Dhamma of true persons—regards form as self, or self as possessing form, or form in self, or self in form; he regards feeling… perception… formations… consciousness as self, or self as possessing consciousness, or consciousness in self, or self in consciousness. Whatever view is of such a kind—a view, a speculative view, a thicket of views, a wilderness of views, a spike of views, a writhing of views, a fetter of views; a grasping, a clinging, an adherence, a misapprehension, a wrong path, a wrong way, wrongness, a sectarian stronghold; a perverse grasping, a contrary grasping, a distorted grasping, a wrong grasping, grasping what is unreal as real—insofar as there are the sixty-two speculative views, this is the view of self. 'Having uprooted the view of self' means: having uprooted, thoroughly uprooted, extracted, thoroughly extracted, torn out, thoroughly torn out, abandoned, dispelled, made an end of, and brought to non-existence the view of self—thus, 'having uprooted the view of self'.
Về câu ‘Nhổ lên ngã kiến’: Ngã kiến được gọi là thân kiến có hai mươi đối tượng. Ở đây, kẻ phàm phu ít nghe, không thấy các bậc Thánh, không thuần thục Thánh pháp, không được rèn luyện trong Thánh pháp, không thấy các bậc chân nhân, không thuần thục pháp của bậc chân nhân, không được rèn luyện trong pháp của bậc chân nhân, quán sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc; (quán) thọ… (tưởng)… (các hành)… quán thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức. Bất cứ tà kiến nào như vậy, kiến chấp, rừng rậm tà kiến, hoang địa tà kiến, sự giãy giụa của tà kiến, sự rung động của tà kiến, triền phược tà kiến, sự nắm giữ, sự nắm giữ, sự cố chấp, sự chấp thủ, con đường sai lầm, tà đạo, sự sai lầm, cơ sở của ngoại đạo, sự nắm giữ sai lệch, sự nắm giữ trái ngược, sự nắm giữ điên đảo, sự nắm giữ sai lầm, sự nắm giữ cái không thật là thật, cho đến sáu mươi hai loại tà kiến, đây là ngã kiến. ‘Nhổ lên ngã kiến’ có nghĩa là: nhổ lên ngã kiến, nhổ lên hoàn toàn, nhấc lên, nhấc lên hoàn toàn, bứng gốc, bứng gốc hoàn toàn, từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn tồn tại nữa – (đó là ý nghĩa của) nhổ lên ngã kiến.
Evaṃ maccutaro siyāti evaṃ maccupi tareyyāsi, jarāpi tareyyāsi, maraṇampi tareyyāsi uttareyyāsi patareyyāsi samatikkameyyāsi vītivatteyyāsīti – evaṃ maccutaro siyā.
'Thus may one be a crosser-over of death.' Thus you may cross over Death, you may cross over old age, you may cross over dying; you may transcend, you may cross beyond, you may completely pass over, you may overcome—thus, 'thus may one be a crosser-over of death'.
Về câu ‘Như vậy sẽ vượt qua tử thần’: Như vậy, ngươi sẽ vượt qua tử thần, ngươi sẽ vượt qua già, ngươi sẽ vượt qua chết, ngươi sẽ vượt lên, ngươi sẽ vượt qua, ngươi sẽ hoàn toàn vượt qua, ngươi sẽ vượt khỏi – (đó là ý nghĩa của) như vậy sẽ vượt qua tử thần.
Evaṃ lokaṃ avekkhantanti evaṃ lokaṃ avekkhantaṃ paccavekkhantaṃ tulayantaṃ tīrayantaṃ vibhāvayantaṃ vibhūtaṃ karontanti – evaṃ lokaṃ avekkhantaṃ.
'Thus, observing the world.' Thus observing the world, reviewing it, weighing it, discerning it, making it clear, and making it manifest—thus, 'thus observing the world'.
Về câu ‘Người quán thế gian như vậy’: (nghĩa là) người quán thế gian như vậy, người xem xét, người cân nhắc, người thẩm xét, người làm cho sáng tỏ, người làm cho hiển lộ – (đó là ý nghĩa của) người quán thế gian như vậy.
Maccurājā na passatīti maccupi maccurājā, māropi maccurājā, maraṇampi maccurājā. Na passatīti maccurājā na passatī na dakkhati nādhigacchati na vindati na paṭilabhati. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘seyyathāpi, bhikkhave, āraññiko migo araññe pavane caramāno vissattho gacchati vissattho † tiṭṭhati vissattho nisīdati vissattho seyyaṃ kappeti. Taṃ kissa hetu? Anāpāthagato †, bhikkhave, luddassa. Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu andhamakāsi † māraṃ, apadaṃ vadhitvā māracakkhuṃ adassanaṃ gato pāpimato’.
'The King of Death does not see': Death also is the King of Death, Māra also is the King of Death, dying also is the King of Death. 'Does not see' means: the King of Death does not see, does not behold, does not reach, does not find, does not obtain. Indeed, this was said by the Blessed One: 'Just as, O bhikkhus, a wild deer wandering in the forest goes confidently, stands confidently, sits confidently, and lies down confidently. For what reason? Because, O bhikkhus, it is out of sight of the hunter. Even so, O bhikkhus, a bhikkhu, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unwholesome states, enters and abides in the first jhāna, which has applied thought and sustained thought, with rapture and happiness born of seclusion. This bhikkhu, O bhikkhus, is called one who has made an end of Māra; having destroyed the defilements, he has gone beyond the sight of the evil one's eye.'
Về câu ‘Tử vương không thấy’: Tử thần cũng là tử vương, Ma vương cũng là tử vương, cái chết cũng là tử vương. ‘Không thấy’ có nghĩa là: tử vương không thấy, không nhìn thấy, không đạt đến, không tìm thấy, không gặp được. Điều này đã được Thế Tôn nói: ‘Này các Tỳ khưu, ví như con nai rừng đi trong rừng, trong lùm cây, nó đi lại một cách an tâm, đứng một cách an tâm, ngồi một cách an tâm, nằm một cách an tâm. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, vì nó ở ngoài tầm (thấy) của người thợ săn. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này được gọi là: ‘đã làm cho Ma vương bị mù, đã hủy diệt dấu vết, đã đi đến chỗ mắt Ma không thấy được, kẻ ác ma’.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ…pe… tatiyaṃ jhānaṃ… catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu andhamakāsi māraṃ, apadaṃ vadhitvā māracakkhuṃ adassanaṃ gato pāpimato’.
'Again, furthermore, O bhikkhus, a bhikkhu, with the stilling of applied thought and sustained thought, enters and abides in the second jhāna, which has internal confidence and unification of mind, is without applied thought and without sustained thought, and is born of concentration with rapture and happiness... the third jhāna... the fourth jhāna. This bhikkhu, O bhikkhus, is called one who has made an end of Māra; having destroyed the defilements, he has gone beyond the sight of the evil one's eye.'
‘Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm… (chứng và trú) thiền thứ ba… (chứng và trú) thiền thứ tư. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này được gọi là: ‘đã làm cho Ma vương bị mù, đã hủy diệt dấu vết, đã đi đến chỗ mắt Ma không thấy được, kẻ ác ma’.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṃ samatikkamā, paṭighasaññānaṃ atthaṅgamā, nānattasaññānaṃ amanasikārā, ananto ākāsoti ākāsānañcāyatanaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu andhamakāsi māraṃ, apadaṃ vadhitvā māracakkhuṃ adassanaṃ gato pāpimato’.
'Again, furthermore, O bhikkhus, a bhikkhu, with the complete surmounting of perceptions of form, with the disappearance of perceptions of resistance, and by not attending to perceptions of diversity, aware that 'Space is infinite,' enters and abides in the base of infinite space. This bhikkhu, O bhikkhus, is called one who has made an end of Māra; having destroyed the defilements, he has gone beyond the sight of the evil one's eye.'
‘Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, chấm dứt các đối ngại tưởng, không tác ý đến các dị tưởng, với ý niệm ‘hư không là vô biên’, chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này được gọi là: ‘đã làm cho Ma vương bị mù, đã hủy diệt dấu vết, đã đi đến chỗ mắt Ma không thấy được, kẻ ác ma’.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṃ samatikkamma anantaṃ viññāṇanti viññāṇañcāyatanaṃ upasampajja viharati…pe….
'Again, furthermore, O bhikkhus, a bhikkhu, by completely surmounting the base of infinite space, aware that 'Consciousness is infinite,' enters and abides in the base of infinite consciousness... and so on.'
‘Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘thức là vô biên’, chứng và trú Thức Vô Biên Xứ… (v.v.)….
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, sabbaso viññāṇañcāyatanaṃ samatikkamma natthi kiñcīti ākiñcaññāyatanaṃ upasampajja viharati…pe….
Furthermore, bhikkhus, with the complete surmounting of the dimension of infinite consciousness, a bhikkhu, thinking, “There is nothing,” enters and dwells in the dimension of nothingness… and so on.
‘Lại nữa, này các Tỳ khưu, vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘không có gì cả’, chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ… (v.v.)….
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, sabbaso ākiñcaññāyatanaṃ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṃ upasampajja viharati…pe….
Furthermore, bhikkhus, with the complete surmounting of the dimension of nothingness, a bhikkhu enters and dwells in the dimension of neither perception nor non-perception… and so on.
‘Lại nữa, này các Tỳ khưu, vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, chứng và trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ… (v.v.)….
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṃ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṃ upasampajja viharati; paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu andhamakāsi māraṃ, apadaṃ vadhitvā māracakkhuṃ adassanaṃ gato pāpimato, tiṇṇo loke visattika’nti. So vissattho gacchati vissattho tiṭṭhati vissattho nisīdati vissattho seyyaṃ kappeti. Taṃ kissa hetu? Anāpāthagato bhikkhu pāpimato’’ti – maccurājā na passati. Tenāha bhagavā –
Furthermore, bhikkhus, with the complete surmounting of the dimension of neither perception nor non-perception, a bhikkhu enters and dwells in the cessation of perception and feeling. And, having seen with wisdom, his taints are utterly destroyed. This, bhikkhus, is called “a bhikkhu who has blinded Māra, slain him without trace, and gone beyond the sight of the Evil One, one who has crossed over attachment in the world.” He goes confidently, stands confidently, sits confidently, lies down confidently. Why is that? Because the bhikkhu has gone beyond the Evil One’s range.’ ‘The King of Death does not see.’ Thus spoke the Blessed One:
‘Lại nữa, này các Tỳ khưu, vượt qua hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng và trú Diệt Thọ Tưởng Định; và sau khi thấy bằng trí tuệ, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn tận. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này được gọi là: ‘đã làm cho Ma vương bị mù, đã hủy diệt dấu vết, đã đi đến chỗ mắt Ma không thấy được, kẻ ác ma, đã vượt qua ái trước ở đời’. Vị ấy đi lại một cách an tâm, đứng một cách an tâm, ngồi một cách an tâm, nằm một cách an tâm. Vì sao vậy? Vị Tỳ khưu ấy ở ngoài tầm (thấy) của kẻ ác ma’ – (đó là ý nghĩa của) tử vương không thấy. Vì vậy, Thế Tôn đã nói:
‘‘Suññato lokaṃ avekkhassu, mogharāja sadā sato;
Attānudiṭṭhiṃ ūhacca, evaṃ maccutaro siyā;
Look upon the world as empty, Mogharāja, always mindful; having abandoned the view of self, thus may you be one who crosses death.
‘Này Mogharāja, hãy luôn chánh niệm, Quán thế gian là không, Nhổ lên ngã kiến, Như vậy sẽ vượt qua tử thần;
Evaṃ lokaṃ avekkhantaṃ, maccurājā na passatī’’ti.
Thus, observing the world, the King of Death does not see him.
Người quán thế gian như vậy, Tử vương không thấy được.’”
Saha gāthāpariyosānā…pe… satthā me, bhante bhagavā, sāvakohamasmīti.
At the end of the verses… ‘The Blessed One, venerable sir, is my Teacher; I am his disciple.’
Ngay khi bài kệ kết thúc… (v.v.)… Bạch Thế Tôn, Ngài là Bậc Đạo Sư của con, con là đệ tử (của Ngài).
Mogharājamāṇavapucchāniddeso pannarasamo.
The Fifteenth Explanation of Mogharāja’s Question.
Phần giải thích câu hỏi của thanh niên Mogharāja, phẩm thứ mười lăm.