Bản dịch
CND 17 — Diễn Giải Kinh Udaya
13. Udayamāṇavapucchāniddesa
(Tôn giả Udaya nói rằng:) “Với ý định (hỏi) câu hỏi, con đã đi đến bậc có thiền chứng, không còn bụi bặm, đang ngồi, bậc đã làm xong phận sự, không còn lậu hoặc, đã đi đến bờ kia của tất cả các pháp, xin ngài hãy nói về sự giải thoát do trí giác ngộ, về sự phá vỡ vô minh.
1. Luyến ái là bụi bặm, nhưng không phải nói đến bụi đất,
từ ‘bụi bặm’ này là tên gọi của luyến ái.
Bậc Hữu Nhãn, sau khi dứt bỏ hẳn bụi bặm này,
vì thế, đấng Chiến Thắng được gọi là ‘bậc đã tách lìa bụi bặm .’
2. Sân hận là bụi bặm, nhưng không phải nói đến bụi đất,
từ ‘bụi bặm’ này là tên gọi của sân hận.
Bậc Hữu Nhãn, sau khi dứt bỏ hẳn bụi bặm này,
vì thế, đấng Chiến Thắng được gọi là ‘bậc đã tách lìa bụi bặm .’
3. Si mê là bụi bặm, nhưng không phải nói đến bụi đất,
từ ‘bụi bặm’ này là tên gọi của si mê.
Bậc Hữu Nhãn, sau khi dứt bỏ hẳn bụi bặm này,
vì thế, đấng Chiến Thắng được gọi là ‘bậc đã tách lìa bụi bặm .’”
- ‘không còn bụi bặm’ là như thế.
4. “ Các vị Thinh Văn, có ba Minh, có sự chiến thắng Thần Chết, hầu cận bậc Hiền Trí, vị đã đi đến bờ kia của khổ đau, đang ngồi ở sườn của ngọn núi .”
5. “ Đối với vị tỳ khưu nào không có tham ái, có dòng chảy đã được cắt đứt, có phận sự và không phải phận sự đã được dứt bỏ, sự bực bội (của vị ấy) không tìm thấy .”
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
(Tôn giả Udaya nói rằng:) “Với ý định (hỏi) câu hỏi, con đã đi đến bậc có thiền chứng, không còn bụi bặm, đang ngồi, bậc đã làm xong phận sự, không còn lậu hoặc, đã đi đến bờ kia của tất cả các pháp, xin Ngài hãy nói về sự giải thoát do trí giác ngộ, về sự phá vỡ vô minh .”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Udaya,) sự dứt bỏ đối với những mong muốn về dục và những nỗi ưu phiền, cả hai loại, việc xua đi sự dã dượi, và việc che lấp các trạng thái hối hận.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
(Đức Thế Tôn nói: “Này Udaya,) sự dứt bỏ đối với những mong muốn về dục và những nỗi ưu phiền, cả hai loại, việc xua đi sự dã dượi, và việc che lấp các trạng thái hối hận.
Ta nói về sự giải thoát do trí giác ngộ,
về sự phá vỡ vô minh
có xả và niệm hoàn toàn trong sạch,
có sự suy tầm đúng pháp đi trước .”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
Ta nói về sự giải thoát do trí giác ngộ,
về sự phá vỡ vô minh
có xả và niệm hoàn toàn trong sạch,
có sự suy tầm đúng pháp đi trước. ”
“ Thế gian có cái gì là sự ràng buộc?
Cái gì, đối với nó, là phương tiện xem xét?
Do lìa bỏ cái gì
được gọi là ‘Niết Bàn’? ”
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
“ Thế gian có cái gì là sự ràng buộc?
Cái gì, đối với nó, là phương tiện xem xét?
Do lìa bỏ cái gì
được gọi là ‘Niết Bàn’? ”
“Thế gian có vui thích là sự ràng buộc.
Suy tầm, đối với nó, là phương tiện xem xét.
Do lìa bỏ tham ái
được gọi là ‘Niết Bàn.’”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Thế gian có vui thích là sự ràng buộc.
Suy tầm, đối với nó, là phương tiện xem xét.
Do lìa bỏ tham ái
được gọi là ‘Niết Bàn .’”
“ Như thế nào đối với vị có niệm, trong lúc thực hành,
thức (của vị ấy) được đình chỉ?
Chúng con đã đi đến để hỏi đức Thế Tôn,
hãy cho chúng con nghe lời nói của Ngài .”
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
“ Như thế nào đối với vị có niệm, trong lúc thực hành,
thức (của vị ấy) được đình chỉ?
Chúng con đã đi đến để hỏi đức Thế Tôn,
hãy cho chúng con nghe lời nói ấy của Ngài .”
“ Đối với vị không thích t hú cảm thọ ở nội phần và ngoại phần, đối với vị có niệm như vậy, trong lúc thực hành, thức (của vị ấy) được đình chỉ .”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Đối với vị không thích thú cảm thọ
ở nội phần và ngoại phần,
đối với vị có niệm như vậy, trong lúc thực hành,
thức (của vị ấy) được đình chỉ .”
Cùng với lúc kết thúc câu kệ ngôn, –nt– “Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc đạo sư của con, con là người đệ tử.”
Diễn Giải Kinh Udaya được hoàn tất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tiểu Diễn Giải (Cūḷaniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Jhāyiṃ virajamāsīnanti. Jhāyinti jhāyī bhagavā. Paṭhamenapi jhānena jhāyī, dutiyenapi jhānena jhāyī, tatiyenapi jhānena jhāyī, catutthenapi jhānena jhāyī, savitakkasavicārenapi jhānena jhāyī, avitakkavicāramattenapi jhānena jhāyī, avitakkaavicārenapi jhānena jhāyī, sappītikenapi jhānena jhāyī, nippītikenapi jhānena jhāyī, sātasahagatenapi jhānena jhāyī, upekkhāsahagatenapi jhānena jhāyī, suññatenapi jhānena jhāyī, animittenapi jhānena jhāyī, appaṇihitenapi jhānena jhāyī, lokiyenapi jhānena jhāyī, lokuttarenapi jhānena jhāyī jhānarato ekattamanuyutto sadatthagarukoti – jhāyiṃ. Virajanti rāgo rajo, doso rajo, moho rajo, kodho rajo, upanāho rajo…pe… sabbākusalābhisaṅkhārā rajā. Te rajā buddhassa bhagavato pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā. Tasmā buddho arajo virajo nirajo rajāpagato rajavippahīno rajavippayutto sabbarajavītivatto.
Regarding 'To the one who meditates, the dust-free, who desires the welfare of beings'. 'One who meditates': The Blessed One is a meditator. He meditates with the first jhāna; he meditates with the second jhāna; he meditates with the third jhāna; he meditates with the fourth jhāna; he meditates with the jhāna accompanied by initial and sustained application; he meditates with the jhāna without initial application but with only sustained application; he meditates with the jhāna without initial and sustained application; he meditates with the jhāna accompanied by rapture; he meditates with the jhāna without rapture; he meditates with the jhāna accompanied by happiness; he meditates with the jhāna accompanied by equanimity; he meditates with the jhāna of emptiness; he meditates with the jhāna of signlessness; he meditates with the jhāna of the desireless; he meditates with mundane jhāna; he meditates with supramundane jhāna. He delights in jhāna, is devoted to solitude, and holds his own welfare as important—thus, 'one who meditates'. 'Dust-free': Passion is dust, hatred is dust, delusion is dust, anger is dust, resentment is dust… all unwholesome formations are dust. For the Buddha, the Blessed One, these dusts are abandoned, cut off at the root, made like a palm-tree stump, brought to non-existence, and are of a nature not to arise in the future. Therefore the Buddha is dust-free, without dust, devoid of dust, with dust departed, with dust abandoned, disjoined from dust, having overcome all dust.
Bậc Thiền định, không còn bụi bặm, đang ngự tọa: ‘Bậc Thiền định’ có nghĩa là đức Thế Tôn là bậc Thiền định. Ngài là bậc Thiền định với thiền thứ nhất, với thiền thứ hai, với thiền thứ ba, với thiền thứ tư, với thiền có tầm có tứ, với thiền chỉ có tứ không có tầm, với thiền không tầm không tứ, với thiền có hỷ, với thiền không có hỷ, với thiền đi kèm với lạc, với thiền đi kèm với xả, với thiền không tánh, với thiền vô tướng, với thiền vô nguyện, với thiền hiệp thế, với thiền siêu thế, Ngài thích thú trong thiền, chuyên tâm vào sự đơn độc, xem trọng lợi ích của bản thân. – (Đây là ý nghĩa của) ‘bậc Thiền định’. ‘Không còn bụi bặm’ có nghĩa là: tham là bụi bặm, sân là bụi bặm, si là bụi bặm, phẫn nộ là bụi bặm, oán hận là bụi bặm ... tất cả các bất thiện hành là bụi bặm. Những bụi bặm ấy đã được đức Phật, đức Thế Tôn đoạn trừ, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như cây thốt nốt bị chặt ngọn, làm cho không thể hiện hữu, có trạng thái không sanh khởi trong tương lai. Vì thế, đức Phật là bậc không bụi bặm, ly bụi bặm, không còn bụi bặm, đã từ bỏ bụi bặm, đã loại trừ bụi bặm, đã thoát khỏi bụi bặm, đã vượt qua tất cả bụi bặm.
Rāgo rajo na ca pana reṇu vuccati,
Rāgassetaṃ adhivacanaṃ rajoti;
Etaṃ rajaṃ vippajahitvā † cakkhumā, tasmā jino vigatarajoti vuccati.
Passion is dust, but it is not called fine dust (reṇu); 'Dust' is a designation for this passion. The One with Vision abides, having dispelled this dust; Therefore, the Conqueror is called 'dust-free'.
Tham là bụi bặm, chứ không được gọi là bụi đất, ‘bụi bặm’ này là tên gọi khác của tham. Bậc có Mắt đã từ bỏ bụi bặm ấy, vì thế, bậc Chiến Thắng được gọi là người đã ly bụi bặm.
Doso rajo na ca pana reṇu vuccati, dosassetaṃ adhivacanaṃ rajoti;
Etaṃ rajaṃ vippajahitvā cakkhumā, tasmā jino vigatarajoti vuccati.
Hatred is dust, but it is not called fine dust (reṇu); 'Dust' is a designation for this hatred. The One with Vision abides, having dispelled this dust; Therefore, the Conqueror is called 'dust-free'.
Sân là bụi bặm, chứ không được gọi là bụi đất, ‘bụi bặm’ này là tên gọi khác của sân. Bậc có Mắt đã từ bỏ bụi bặm ấy, vì thế, bậc Chiến Thắng được gọi là người đã ly bụi bặm.
Moho rajo na ca pana reṇu vuccati, mohassetaṃ adhivacanaṃ rajoti;
Etaṃ rajaṃ vippajahitvā cakkhumā, tasmā jino vigatarajoti vuccatīti. –
Delusion is called dust, but it is not called mere pollen; this 'dust' is a designation for delusion. Having abandoned this dust, the One with Vision abides; therefore, the Conqueror is called 'one free from dust'.
Si là bụi bặm, chứ không được gọi là bụi đất, ‘bụi bặm’ này là tên gọi khác của si. Bậc có Mắt đã từ bỏ bụi bặm ấy, vì thế, bậc Chiến Thắng được gọi là người đã ly bụi bặm.
Virajaṃ …pe….
This is the meaning of the word 'stainless' (`virajaṃ`).
Không còn bụi bặm ... (v.v.) ...
Āsīnanti nisinno bhagavā pāsāṇake cetiyeti – āsīno.
Regarding 'seated' (`āsīnaṃ`): The Blessed One, desiring the welfare of beings, was seated (`nisinno`) at the Pāsāṇaka Cetiya.
‘Đang ngự tọa’ có nghĩa là đức Thế Tôn đang ngồi ở Pāsāṇaka Cetiya. – (Đây là ý nghĩa của) ‘đang ngự tọa’.
Nagassa † passe āsīnaṃ, muniṃ dukkhassa pāraguṃ;
Sāvakā payirupāsanti, tevijjā maccuhāyinoti.
Disciples, possessors of the three knowledges who have overcome Death, attend upon the Sage—who has gone to the far shore of suffering and is seated beside the city, desiring the welfare of beings.
Các vị đệ tử, bậc Tam Minh, những người loại trừ tử thần, hầu cận bậc ẩn sĩ đang ngự tọa bên sườn núi, bậc đã đến bờ kia của khổ đau.
Evampi bhagavā āsīno. Atha vā, bhagavā sabbossukkapaṭippassaddhattā āsīno vutthavāso ciṇṇacaraṇo…pe… jātimaraṇasaṃsāro natthi tassa punabbhavoti. Evampi bhagavā āsīnoti – jhāyiṃ virajamāsīnaṃ.
In this way also, the Blessed One is seated, desiring the welfare of beings. Or alternatively, the Blessed One is seated—because all anxiety, which is the defilements, has subsided—seeking the welfare of beings; He has lived the holy life, has fulfilled the practice... for Him there is no saṃsāra of birth, aging, and death, no further becoming. In this way also, the Blessed One is seated. This is the meaning of the phrase 'the meditator, stainless, and seated' (`jhāyiṃ virajamāsīnaṃ`).
Như vậy, đức Thế Tôn cũng là bậc đang ngự tọa. Hoặc là, đức Thế Tôn là bậc đang ngự tọa do đã làm lắng dịu mọi nhiệt tâm, đã sống đời phạm hạnh, đã thực hành xong phận sự ... đối với Ngài không còn vòng luân hồi sanh tử, không còn tái sanh. Như vậy, đức Thế Tôn cũng là bậc đang ngự tọa. – (Đây là ý nghĩa của) ‘bậc Thiền định, không còn bụi bặm, đang ngự tọa’.
Iccāyasmā udayoti. Iccāti padasandhi…pe… āyasmāti piyavacanaṃ…pe… udayoti tassa brāhmaṇassa nāmaṃ…pe… abhilāpoti – iccāyasmā udayo.
Thus spoke the Venerable Udaya.
Tôn giả Udaya thưa rằng: ‘Iccā’ là sự liên kết từ ... ‘āyasmā’ là lời nói thân ái ... ‘udayo’ là tên của vị Bà-la-môn ấy ... là cách gọi. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Tôn giả Udaya thưa rằng’.
Katakiccaṃ anāsavanti buddhassa bhagavato kiccākiccaṃ karaṇīyākaraṇīyaṃ pahīnaṃ ucchinnamūlaṃ tālāvatthukataṃ anabhāvaṃkataṃ āyatiṃ anuppādadhammaṃ. Tasmā buddho katakicco.
Regarding 'one whose task is done, taintless': For the Buddha, the Blessed One, what is to be done and not done by the mind and what is to be done and not done by the body have been abandoned, cut off at the root, made like a palm-tree stump, brought to a state of non-existence, and are of a nature not to arise again in the future. Therefore, the Buddha is one whose task is done.
Bậc đã làm xong việc cần làm, không còn lậu hoặc: Đối với đức Phật, đức Thế Tôn, việc nên làm và không nên làm, việc cần thực hiện và không cần thực hiện đã được đoạn trừ, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như cây thốt nốt bị chặt ngọn, làm cho không thể hiện hữu, có trạng thái không sanh khởi trong tương lai. Vì thế, đức Phật là bậc đã làm xong việc cần làm.
Yassa ca visatā † natthi, chinnasotassa bhikkhuno;
Kiccākiccappahīnassa, pariḷāho na vijjatīti.
For whichever monk there is no spreading craving, for that monk whose stream of passion is cut, who has abandoned what is to be done and not done by the mind, for him there exists no burning fever of the defilements. Thus it should be understood.
Vị tỳ khưu nào đã cắt đứt dòng chảy, không còn tham ái lan tràn, đã từ bỏ việc nên làm và không nên làm, vị ấy không có sự phiền muộn.
Katakiccaṃ anāsavanti. Āsavāti cattāro āsavā – kāmāsavo, bhavāsavo, diṭṭhāsavo, avijjāsavo. Te āsavā buddhassa bhagavato pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā. Tasmā buddho anāsavoti – katakiccaṃ anāsavaṃ.
Regarding the passage 'one whose task is done, taintless': As for 'taints' (`āsavā`), there are four taints: the taint of sensual desire, the taint of becoming, the taint of views, and the taint of ignorance. For the Buddha, the Blessed One, these taints have been abandoned, cut off at the root, made like a palm-tree stump, brought to a state of non-existence, and are of a nature not to arise again in the future. Therefore, the Buddha is taintless. This is the meaning of 'one whose task is done, taintless'.
Bậc đã làm xong việc cần làm, không còn lậu hoặc: ‘Lậu hoặc’ có nghĩa là có bốn lậu hoặc: dục lậu, hữu lậu, kiến lậu, và vô minh lậu. Những lậu hoặc ấy đã được đức Phật, đức Thế Tôn đoạn trừ, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như cây thốt nốt bị chặt ngọn, làm cho không thể hiện hữu, có trạng thái không sanh khởi trong tương lai. Vì thế, đức Phật là bậc không còn lậu hoặc. – (Đây là ý nghĩa của) ‘bậc đã làm xong việc cần làm, không còn lậu hoặc’.
Pāraguṃ sabbadhammānanti bhagavā sabbadhammānaṃ abhiññāpāragū pariññāpāragū pahānapāragū bhāvanāpāragū sacchikiriyāpāragū samāpattipāragū. Abhiññāpāragū sabbadhammānaṃ, pariññāpāragū sabbadukkhānaṃ, pahānapāragū sabbakilesānaṃ, bhāvanāpāragū catunnaṃ maggānaṃ, sacchikiriyāpāragū nirodhassa, samāpattipāragū sabbasamāpattīnaṃ. So vasippatto pāramippatto ariyasmiṃ sīlasmiṃ; vasippatto pāramippatto ariyasmiṃ samādhismiṃ; vasippatto pāramippatto ariyāya paññāya; vasippatto pāramippatto ariyāya vimuttiyā. So pāragato pārappatto antagato antappatto koṭigato koṭippatto pariyantagato pariyantappatto vosānagato vosānappatto tāṇagato tāṇappatto leṇagato leṇappatto saraṇagato saraṇappatto abhayagato abhayappatto accutagato accutappatto amatagato amatappatto nibbānagato nibbānappatto. So vuttavāso ciṇṇacaraṇo…pe… jātimaraṇasaṃsāro natthi tassa punabbhavoti – pāraguṃ sabbadhammānaṃ.
‘One who has gone beyond all phenomena’ means: the Blessed One has gone beyond all phenomena through direct knowledge, gone beyond through full understanding, gone beyond through abandoning, gone beyond through development, gone beyond through realization, and gone beyond through attainment. He has gone beyond all phenomena through direct knowledge; gone beyond all suffering through full understanding; gone beyond all defilements through abandoning; gone beyond the four paths through development; gone beyond cessation through realization; and gone beyond all attainments through attainment. He has attained mastery and reached perfection in noble virtue; attained mastery and reached perfection in noble concentration; attained mastery and reached perfection in noble wisdom; attained mastery and reached perfection in noble liberation. He has gone to the beyond, reached the beyond; gone to the end, reached the end; gone to the summit, reached the summit; gone to the limit, reached the limit; gone to the consummation, reached the consummation; gone to protection, reached protection; gone to shelter, reached shelter; gone to refuge, reached refuge; gone to the fearless, reached the fearless; gone to the imperishable, reached the imperishable; gone to the deathless, reached the deathless; gone to Nibbāna, reached Nibbāna. He has lived the holy life… for him there is no further becoming. Thus, ‘one who has gone beyond all phenomena’.
Về câu "Người đã đến bờ kia của tất cả các pháp": Đức Thế Tôn là bậc đã đến bờ kia bằng thắng trí đối với tất cả các pháp, là bậc đã đến bờ kia bằng biến tri, là bậc đã đến bờ kia bằng đoạn trừ, là bậc đã đến bờ kia bằng tu tập, là bậc đã đến bờ kia bằng sự chứng ngộ, là bậc đã đến bờ kia bằng thiền chứng. Bậc đã đến bờ kia bằng thắng trí đối với tất cả các pháp, bậc đã đến bờ kia bằng biến tri đối với tất cả khổ, bậc đã đến bờ kia bằng đoạn trừ đối với tất cả phiền não, bậc đã đến bờ kia bằng tu tập đối với bốn đạo, bậc đã đến bờ kia bằng sự chứng ngộ đối với sự diệt, bậc đã đến bờ kia bằng thiền chứng đối với tất cả các thiền chứng. Vị ấy đã đạt đến sự thuần thục, đã đạt đến sự viên mãn trong thánh giới; đã đạt đến sự thuần thục, đã đạt đến sự viên mãn trong thánh định; đã đạt đến sự thuần thục, đã đạt đến sự viên mãn trong thánh tuệ; đã đạt đến sự thuần thục, đã đạt đến sự viên mãn trong thánh giải thoát. Vị ấy đã đi đến bờ kia, đã đạt đến bờ kia; đã đi đến tận cùng, đã đạt đến tận cùng; đã đi đến đỉnh cao, đã đạt đến đỉnh cao; đã đi đến giới hạn, đã đạt đến giới hạn; đã đi đến kết thúc, đã đạt đến kết thúc; đã đi đến nơi bảo hộ, đã đạt đến nơi bảo hộ; đã đi đến nơi ẩn náu, đã đạt đến nơi ẩn náu; đã đi đến nơi nương tựa, đã đạt đến nơi nương tựa; đã đi đến nơi vô úy, đã đạt đến nơi vô úy; đã đi đến nơi bất tử, đã đạt đến nơi bất tử; đã đi đến nơi bất tử, đã đạt đến nơi bất tử; đã đi đến Niết-bàn, đã đạt đến Niết-bàn. Vị ấy đã sống xong đời sống phạm hạnh, đã hoàn thành phận sự... (v.v.)... đối với vị ấy không còn có tái sanh nữa – (đó là ý nghĩa của) "Người đã đến bờ kia của tất cả các pháp."
Atthi pañhena āgamanti pañhena atthiko āgatomhi, pañhaṃ pucchitukāmo āgatomhi, pañhaṃ sotukāmo āgatomhīti, evampi atthi pañhena āgamaṃ. Atha vā, pañhatthikānaṃ pañhaṃ pucchitukāmānaṃ pañhaṃ sotukāmānaṃ āgamanaṃ abhikkamanaṃ upasaṅkamanaṃ payirupāsanaṃ atthīti, evampi atthi pañhena āgamaṃ. Atha vā, pañhāgamo tuyhaṃ atthi, tvampi pahu tvamasi alamatto mayā pucchitaṃ kathetuṃ visajjetuṃ, vahassetaṃ bhāranti, evampi atthi pañhena āgamaṃ.
‘I have come with a question’ means: I have come, being desirous of a question; I have come, wishing to ask a question; I have come, wishing to hear a question. Thus, ‘I have come with a question’. Or alternatively: there is the coming, approaching, drawing near, and attending of those who desire a question, who wish to ask a question, who wish to hear a question. Thus, ‘I have come with a question’. Or alternatively: a questioner has come to you; you are capable, you are competent to speak on and explain what is asked by me; please bear this burden. Thus, ‘I have come with a question’.
Về câu "Con đến đây với câu hỏi": (Có nghĩa là) "Con đã đến đây vì có nhu cầu về câu hỏi, con đã đến đây vì muốn hỏi câu hỏi, con đã đến đây vì muốn nghe câu hỏi," như vậy cũng là ý nghĩa của "Con đến đây với câu hỏi." Hoặc là: "Có sự đến, sự tiến đến, sự đi đến gần, sự hầu cận của những người có nhu cầu về câu hỏi, của những người muốn hỏi câu hỏi, của những người muốn nghe câu hỏi," như vậy cũng là ý nghĩa của "Con đến đây với câu hỏi." Hoặc là: "Có câu hỏi đến với ngài, ngài cũng là bậc có khả năng, ngài là bậc có đủ năng lực để nói, để giải đáp điều được tôi hỏi, xin ngài hãy gánh vác gánh nặng này," như vậy cũng là ý nghĩa của "Con đến đây với câu hỏi."
Aññāvimokkhaṃ pabrūhīti aññāvimokkho vuccati arahattavimokkho. Arahattavimokkhaṃ pabrūhi ācikkhāhi desehi paññapehi paṭṭhapehi vivarāhi vibhajāhi uttānīkarohi pakāsehīti – aññāvimokkhaṃ pabrūhi.
“Declare the liberation of final knowledge”—the liberation of final knowledge is called the liberation of arahantship. Declare the liberation of arahantship—teach, point out, describe, establish, disclose, analyze, clarify, reveal—thus, “declare the liberation of final knowledge.”
Về câu "Xin hãy nói về giải thoát bằng thắng trí": Giải thoát bằng thắng trí được gọi là giải thoát A-la-hán. (Có nghĩa là) "Xin hãy nói về giải thoát A-la-hán, xin hãy chỉ dạy, xin hãy thuyết giảng, xin hãy làm cho biết, xin hãy thiết lập, xin hãy mở ra, xin hãy phân tích, xin hãy làm cho hiển lộ, xin hãy làm cho rõ ràng" – (đó là ý nghĩa của) "Xin hãy nói về giải thoát bằng thắng trí."
Avijjāya pabhedananti avijjāya bhedanaṃ pabhedanaṃ pahānaṃ vūpasamaṃ paṭinissaggaṃ paṭippassaddhaṃ amataṃ nibbānanti – avijjāya pabhedanaṃ. Tenāha so brāhmaṇo –
“The breaking up of ignorance”—the breaking, breaking up, abandoning, quieting, relinquishing, pacifying, the deathless, Nibbāna of ignorance—thus, “the breaking up of ignorance.” Therefore that brahmin said:
Về câu "Sự phá vỡ vô minh": (Có nghĩa là) sự phá vỡ, sự phá vỡ hoàn toàn, sự đoạn trừ, sự làm cho an tịnh, sự từ bỏ, sự làm cho lắng dịu vô minh, là trạng thái bất tử, là Niết-bàn – (đó là ý nghĩa của) "Sự phá vỡ vô minh." Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói:
‘‘Jhāyiṃ virajamāsīnaṃ, [iccāyasmā udayo]
Katakiccaṃ anāsavaṃ;
Pāraguṃ sabbadhammānaṃ, atthi pañhena āgamaṃ;
“The meditator, stainless, seated, [thus spoke Venerable Udaya,] One whose task is done, taintless, Gone beyond all phenomena, I have come with a question;
“Bậc thiền định, không nhiễm trần, đang ngự, [Tôn giả Udaya thưa rằng] Bậc đã làm xong phận sự, bậc vô lậu; Bậc đã đến bờ kia của tất cả các pháp, con đến đây với câu hỏi;
Aññāvimokkhaṃ pabrūhi, avijjāya pabhedana’’nti.
Declare the liberation of final knowledge, the breaking up of ignorance.”
Xin hãy nói về giải thoát bằng thắng trí, về sự phá vỡ vô minh.”
75.
75.
75.
Pahānaṃ kāmacchandānaṃ, [udayāti bhagavā]
Domanassāna cūbhayaṃ;
Thinassa † ca panūdanaṃ, kukkuccānaṃ nivāraṇaṃ.
The abandoning of sensual desire, [Udaya, said the Blessed One,] And of mental pains, both; The removal of sloth, And the warding off of remorse.
Sự đoạn trừ các dục tham, [Đức Thế Tôn phán: Này Udaya] Và cả hai thứ là các ưu; Cùng sự xua tan hôn trầm, sự ngăn ngừa các trạo hối.
Pahānaṃ kāmacchandānanti. Chandoti yo kāmesu kāmacchando kāmarāgo kāmanandī kāmataṇhā kāmasineho kāmapipāsā kāmapariḷāho kāmamucchā kāmajjhosānaṃ kāmogho kāmayogo kāmupādānaṃ kāmacchandanīvaraṇaṃ. Pahānaṃ kāmacchandānanti kāmacchandānaṃ pahānaṃ vūpasamaṃ paṭinissaggaṃ paṭippassaddhiṃ amataṃ nibbānanti – pahānaṃ kāmacchandānaṃ. Udayāti bhagavāti. Udayāti bhagavā taṃ brāhmaṇaṃ nāmena ālapati. Bhagavāti gāravādhivacanametaṃ…pe… sacchikā paññatti, yadidaṃ bhagavāti – udayāti bhagavā.
“The abandoning of sensual desire.” “Desire” means whatever sensual desire there is for sensual pleasures: sensual lust, sensual delight, sensual craving, sensual affection, sensual thirst, sensual fever, sensual infatuation, sensual addiction, the flood of sensuality, the yoke of sensuality, sensual clinging, the hindrance of sensual desire. “The abandoning of sensual desire” means the abandoning, quieting, relinquishing, pacifying, the deathless, Nibbāna of sensual desire—thus, “the abandoning of sensual desire.” “Udaya, said the Blessed One.” “Udaya”: The Blessed One addresses that brahmin by name. “Blessed One” is a term of respect…[.] the designation of realization, namely, “Blessed One”—thus, “Udaya, said the Blessed One.”
Về câu "Sự đoạn trừ các dục tham": Về từ "tham", đó là bất cứ dục tham, dục ái, dục hỷ, dục ái, dục luyến, dục khát, dục nhiệt, dục mê, dục tham đắm, bộc lưu dục, ách phược dục, thủ trước dục, triền cái dục tham nào ở trong các dục. Về câu "Sự đoạn trừ các dục tham": (Có nghĩa là) sự đoạn trừ, sự làm cho an tịnh, sự từ bỏ, sự làm cho lắng dịu các dục tham, là trạng thái bất tử, là Niết-bàn – (đó là ý nghĩa của) "Sự đoạn trừ các dục tham." Về câu "Này Udaya, Đức Thế Tôn phán": Với từ "Udaya", Đức Thế Tôn gọi vị Bà-la-môn ấy bằng tên. "Bhagavā" là một danh xưng tôn kính... (v.v.)... là một khái niệm thực tại, đó là "Bhagavā" – (đó là ý nghĩa của) "Này Udaya, Đức Thế Tôn phán."
Domanassāna cūbhayanti. Domanassāti yaṃ cetasikaṃ asātaṃ cetasikaṃ dukkhaṃ cetosamphassajaṃ asātaṃ dukkhaṃ vedayitaṃ, cetosamphassajā asātā dukkhā vedanā. Domanassāna cūbhayanti kāmacchandassa ca domanassassa ca ubhinnaṃ pahānaṃ vūpasamaṃ paṭinissaggaṃ paṭippassaddhiṃ amataṃ nibbānanti – domanassāna cūbhayaṃ.
“And both mental pains.” “Mental pain” refers to whatever is mental displeasure, mental pain, unpleasant and painful feeling born of mind-contact, unpleasant and painful feeling born of mind-contact. “And both mental pains” means the abandoning, quieting, relinquishing, pacifying, the deathless, Nibbāna of both sensual desire and mental pain—thus, “and both mental pains.”
Về câu "Và cả hai thứ là các ưu": Về từ "ưu", đó là bất cứ sự không hài lòng thuộc về tâm, sự khổ thuộc về tâm, sự cảm thọ khổ không hài lòng sanh từ tâm xúc, thọ khổ không hài lòng sanh từ tâm xúc nào. Về câu "Và cả hai thứ là các ưu": (Có nghĩa là) sự đoạn trừ, sự làm cho an tịnh, sự từ bỏ, sự làm cho lắng dịu cả hai, tức là dục tham và ưu, là trạng thái bất tử, là Niết-bàn – (đó là ý nghĩa của) "Và cả hai thứ là các ưu."
Thinassa ca panūdananti. Thinanti yā cittassa akalyatā akammaññatā olīyanā sallīyanā līnā līyanā līyitattaṃ thinaṃ thiyanā † thiyitattaṃ cittassa. Panūdananti thinassa ca panūdanaṃ pahānaṃ vūpasamaṃ paṭinissaggaṃ paṭippassaddhiṃ amataṃ nibbānanti – thinassa ca panūdanaṃ.
And the removal of sloth. “Sloth” is whatever unfitness of mind, unworkability, sluggishness, shrinking, clinging, being sluggish, the state of being sluggish, sloth, slothfulness, the state of the mind being slothful. “The removal” is the removal of sloth, abandoning, calming, relinquishing, tranquilizing, the deathless, Nibbāna—this is the removal of sloth.
Về câu "Cùng sự xua tan hôn trầm": Về từ "hôn trầm", đó là bất cứ sự không lành mạnh, sự không kham nhẫn, sự co rút, sự co rúm, sự thụ động, sự co lại, trạng thái co lại, sự hôn trầm, trạng thái hôn trầm, trạng thái hôn trầm của tâm nào. Về từ "sự xua tan": (Có nghĩa là) sự xua tan, sự đoạn trừ, sự làm cho an tịnh, sự từ bỏ, sự làm cho lắng dịu hôn trầm, là trạng thái bất tử, là Niết-bàn – (đó là ý nghĩa của) "Cùng sự xua tan hôn trầm."
Kukkuccānaṃ nivāraṇanti. Kukkuccanti hatthakukkuccampi kukkuccaṃ, pādakukkuccampi kukkuccaṃ, hatthapādakukkuccampi kukkuccaṃ. Akappiye kappiyasaññitā, kappiye akappiyasaññitā…pe… avajje vajjasaññitā, vajje avajjasaññitā. Yaṃ evarūpaṃ kukkuccaṃ kukkuccāyanā kukkuccāyitattaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho, idaṃ vuccati kukkuccaṃ. Api ca, dvīhi kāraṇehi uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho – katattā ca akatattā ca. Kathaṃ katattā ca akatattā ca uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho? ‘‘Kataṃ me kāyaduccaritaṃ, akataṃ me kāyasucarita’’nti uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho. ‘‘Kataṃ me vacīduccaritaṃ, akataṃ me vacīsucarita’’nti…pe… ‘‘kataṃ me manoduccaritaṃ, akataṃ me manosucarita’’nti…pe… ‘‘kato me pāṇātipāto, akatā me pāṇātipātā veramaṇī’’ti…pe… ‘‘kataṃ me adinnādānaṃ, akatā me adinnādānā veramaṇī’’ti…pe… ‘‘kato me kāmesumicchācāro, akatā me kāmesumicchācārā veramaṇī’’ti…pe… ‘‘kato me musāvādo, akatā me musāvādā veramaṇī’’ti…pe… ‘‘katā me pisuṇā vācā †, akatā me pisuṇāya vācāya veramaṇī’’ti…pe… ‘‘katā me pharusā vācā, akatā me pharusāya vācāya veramaṇī’’ti…pe… ‘‘kato me samphappalāpo, akatā me samphappalāpā veramaṇī’’ti…pe… ‘‘katā me abhijjhā, akatā me anabhijjhā’’ti…pe… ‘‘kato me byāpādo, akato me abyāpādo’’ti…pe… ‘‘katā me micchādiṭṭhi, akatā me sammādiṭṭhī’’ti, uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho. Evaṃ katattā ca akatattā ca uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho.
The Hindrance of Remorse. Remorse is: remorse over an act of the hands is also remorse, remorse over an act of the feet is also remorse, and remorse over an act of both hands and feet is also remorse. It is the perception of what is unallowable as allowable, the perception of what is allowable as unallowable…pe… the perception of what is blameless as blameworthy, the perception of what is blameworthy as blameless. Whatever remorse of this sort, the state of being remorseful, the state of having been remorseful; mental regret; mental vexation—this is called remorse. Moreover, remorse—mental regret and mental vexation—arises from two causes: from having done something and from not having done something. And how does remorse—mental regret and mental vexation—arise from having done something and from not having done something? “I have done bad bodily conduct, I have not done good bodily conduct”—remorse arises, mental regret and mental vexation. “I have done bad verbal conduct, I have not done good verbal conduct”…pe… “I have done bad mental conduct, I have not done good mental conduct”…pe… “I have killed a living being, I have not abstained from killing living beings”…pe… “I have taken what was not given, I have not abstained from taking what was not given”…pe… “I have engaged in sexual misconduct, I have not abstained from sexual misconduct”…pe… “I have spoken falsely, I have not abstained from false speech”…pe… “I have spoken divisive speech, I have not abstained from divisive speech”…pe… “I have spoken harsh speech, I have not abstained from harsh speech”…pe… “I have engaged in idle chatter, I have not abstained from idle chatter”…pe… “I have been covetous, I have not been non-covetous”…pe… “I have been malicious, I have not been non-malicious”…pe… “I have held wrong view, I have not held right view”—remorse arises, mental regret and mental vexation. Thus, remorse—mental regret and mental vexation—arises from having done something and from not having done something.
Sự ngăn ngừa các hối hận (kukkuccānaṃ nivāraṇaṃ). Hối hận (kukkucca) là: hối hận về tay cũng là hối hận, hối hận về chân cũng là hối hận, hối hận về tay và chân cũng là hối hận. Tưởng rằng thích hợp ở điều không thích hợp, tưởng rằng không thích hợp ở điều thích hợp... cho đến... tưởng rằng có tội ở điều không có tội, tưởng rằng không có tội ở điều có tội. Sự hối hận, trạng thái hối hận, tính chất hối hận, sự hối tiếc của tâm, sự day dứt của ý có hình thức như vậy, điều này được gọi là hối hận. Hơn nữa, sự hối hận, sự hối tiếc của tâm, sự day dứt của ý sanh khởi do hai nguyên nhân: do đã làm và do đã không làm. Thế nào là sự hối hận, sự hối tiếc của tâm, sự day dứt của ý sanh khởi do đã làm và do đã không làm? ‘Thân ác hạnh đã được ta làm, thân thiện hạnh đã không được ta làm,’ do vậy sự hối hận, sự hối tiếc của tâm, sự day dứt của ý sanh khởi. ‘Khẩu ác hạnh đã được ta làm, khẩu thiện hạnh đã không được ta làm,’... cho đến... ‘ý ác hạnh đã được ta làm, ý thiện hạnh đã không được ta làm,’... cho đến... ‘sự sát sanh đã được ta thực hiện, sự từ bỏ sát sanh đã không được ta thực hiện,’... cho đến... ‘sự lấy của không cho đã được ta thực hiện, sự từ bỏ lấy của không cho đã không được ta thực hiện,’... cho đến... ‘sự tà hạnh trong các dục đã được ta thực hiện, sự từ bỏ tà hạnh trong các dục đã không được ta thực hiện,’... cho đến... ‘lời nói dối đã được ta nói, sự từ bỏ lời nói dối đã không được ta thực hiện,’... cho đến... ‘lời nói đâm thọc đã được ta nói, sự từ bỏ lời nói đâm thọc đã không được ta thực hiện,’... cho đến... ‘lời nói thô ác đã được ta nói, sự từ bỏ lời nói thô ác đã không được ta thực hiện,’... cho đến... ‘lời nói vô ích đã được ta nói, sự từ bỏ lời nói vô ích đã không được ta thực hiện,’... cho đến... ‘lòng tham đã được ta thực hiện, sự không tham đã không được ta thực hiện,’... cho đến... ‘sân hận đã được ta thực hiện, sự không sân hận đã không được ta thực hiện,’... cho đến... ‘tà kiến đã được ta thực hiện, chánh kiến đã không được ta thực hiện,’ do vậy sự hối hận, sự hối tiếc của tâm, sự day dứt của ý sanh khởi. Như vậy, sự hối hận, sự hối tiếc của tâm, sự day dứt của ý sanh khởi do đã làm và do đã không làm.
Atha vā, ‘‘sīlesumhi aparipūrakārī’’ti uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho; ‘‘indriyesumhi aguttadvāro’’ti…pe… ‘‘bhojane amattaññumhī’’ti… ‘‘jāgariyaṃ ananuyuttomhī’’ti… ‘‘na satisampajaññena samannāgatomhī’’ti… ‘‘abhāvitā me cattāro satipaṭṭhānāti, cattāro sammappadhānāti cattāro iddhipādāti, pañcindriyānīti, pañca balānīti, satta bojjhaṅgāti, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo’’ti… ‘‘dukkhaṃ me apariññātaṃ, samudayo me appahīno, maggo me abhāvito, nirodho me asacchikato’’ti uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho.
Or, worry, remorse of mind, and vexation of mind arise thus: 'I am one who does not fulfill the precepts of virtue'; 'I am one with unguarded sense-faculties'; 'I am one who does not know moderation in eating'; 'I am not devoted to wakefulness'; 'I am not endowed with mindfulness and clear comprehension'; 'The four foundations of mindfulness have not been developed by me, nor the four right strivings, the four bases of spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, nor the Noble Eightfold Path'; 'Suffering has not been fully understood by me, the origin has not been abandoned by me, the path has not been developed by me, cessation has not been realized by me'—thus worry, remorse of mind, and vexation of mind arise.
Hoặc là, ‘Ta là người không thực hành viên mãn các giới,’ do vậy sự hối hận, sự hối tiếc của tâm, sự day dứt của ý sanh khởi; ‘Ta là người không hộ trì các căn,’... cho đến... ‘Ta là người không biết tiết độ trong ăn uống,’... ‘Ta là người không chuyên tâm vào sự tỉnh thức,’... ‘Ta là người không có đầy đủ chánh niệm và tỉnh giác,’... ‘Bốn niệm xứ chưa được ta tu tập, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo Tám ngành,’... ‘Khổ chưa được ta liễu tri, Tập chưa được ta đoạn trừ, Đạo chưa được ta tu tập, Diệt chưa được ta chứng ngộ,’ do vậy sự hối hận, sự hối tiếc của tâm, sự day dứt của ý sanh khởi.
Kukkuccānaṃ nivāraṇanti kukkuccānaṃ āvaraṇaṃ nīvaraṇaṃ pahānaṃ upasamaṃ vūpasamaṃ paṭinissaggaṃ paṭippassaddhiṃ amataṃ nibbānanti – kukkuccānaṃ nivāraṇaṃ. Tenāha bhagavā –
The 'warding off of remorse' means: the covering of remorse, the hindrance, the abandoning, the calming, the complete calming, the relinquishment, the pacification, the deathless, Nibbāna. This is the warding off of remorse. Therefore the Blessed One said:
Sự ngăn ngừa các hối hận (kukkuccānaṃ nivāraṇaṃ) là sự che đậy, sự ngăn che, sự từ bỏ, sự làm cho lắng dịu, sự lắng dịu, sự xả ly, sự an tịnh, trạng thái bất tử, Nibbāna đối với các hối hận – (đó là) sự ngăn ngừa các hối hận. Do đó, đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Pahānaṃ kāmacchandānaṃ, [udayāti bhagavā]
Domanassāna cūbhayaṃ;
Thinassa ca panūdanaṃ, kukkuccānaṃ nivāraṇa’’nti.
“The abandoning of sensual desire, and both sorrow and discontent; the dispelling of sloth, and the warding off of remorse.”
‘Sự từ bỏ các dục tham, [này Udaya, đức Thế Tôn phán] và cả hai loại ưu; và sự xua tan hôn trầm, sự ngăn ngừa các hối hận.’
76.
76.
76.
Upekkhāsatisaṃsuddhaṃ, dhammatakkapurejavaṃ;
Aññāvimokkhaṃ pabrūmi, avijjāya pabhedanaṃ.
Purified by equanimity and mindfulness, with reasoned reflection on the Dhamma as its vanguard; I declare this to be the liberation through final knowledge, the sundering of ignorance.
‘(Trạng thái) được thanh tịnh bởi xả và niệm, có sự tầm về pháp đi trước; Ta tuyên bố là chánh trí giải thoát, là sự phá vỡ vô minh.’
Upekkhāsatisaṃsuddhanti. Upekkhāti yā catutthe jhāne upekkhā upekkhanā ajjhupekkhanā cittasamatā † cittappassaddhatā majjhattatā cittassa. Satīti yā catutthe jhāne upekkhaṃ ārabbha sati anussati…pe… sammāsati. Upekkhāsatisaṃsuddhanti catutthe jhāne upekkhā ca sati ca suddhā honti visuddhā saṃsuddhā parisuddhā pariyodātā anaṅgaṇā vigatūpakkilesā mudubhūtā kammaniyā ṭhitā āneñjappattāti – upekkhāsatisaṃsuddhaṃ.
“Purified by equanimity and mindfulness.” “Equanimity” is the equanimity in the fourth jhāna—equanimity, the state of being equanimous, the state of being thoroughly equanimous, balance of mind, tranquility of mind, and neutrality of mind. “Mindfulness” is the mindfulness in the fourth jhāna that has equanimity as its object—mindfulness, recollection… right mindfulness. “Purified by equanimity and mindfulness” means that in the fourth jhāna, both equanimity and mindfulness are pure, very pure, thoroughly pure, perfectly pure, luminous, spotless, free from corruptions, pliable, workable, established, and have attained imperturbability—thus, “purified by equanimity and mindfulness.”
Được thanh tịnh bởi xả và niệm (upekkhāsatisaṃsuddhaṃ). Xả (upekkhā) là: ở tầng thiền thứ tư, trạng thái nào là xả, sự thờ ơ, sự quán xả, sự quân bình của tâm, sự tĩnh lặng của tâm, sự trung lập của tâm. Niệm (sati) là: ở tầng thiền thứ tư, niệm, tùy niệm... cho đến... chánh niệm nào sanh khởi lấy xả làm đối tượng. Được thanh tịnh bởi xả và niệm (upekkhāsatisaṃsuddhaṃ) là: ở tầng thiền thứ tư, xả và niệm trở nên trong sạch, hoàn toàn trong sạch, rất trong sạch, thanh tịnh, trong trắng, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến bất động – (đó là) được thanh tịnh bởi xả và niệm.
Dhammatakkapurejavanti dhammatakko vuccati sammāsaṅkappo. So ādito hoti, purato hoti, pubbaṅgamo hoti aññāvimokkhassāti, evampi dhammatakkapurejavaṃ. Atha vā, dhammatakko vuccati sammādiṭṭhi. Sā ādito hoti, purato hoti, pubbaṅgamo hoti aññāvimokkhassāti, evampi dhammatakkapurejavaṃ. Atha vā, dhammatakko vuccati catunnaṃ maggānaṃ pubbabhāgavipassanā. Sā ādito hoti, purato hoti, pubbaṅgamo hoti aññāvimokkhassāti – evampi dhammatakkapurejavaṃ.
In the phrase, ‘with reasoned reflection on the Dhamma as its vanguard’: ‘Reasoned reflection on the Dhamma’ is called right thought. It is the beginning, it is in front, it is the forerunner of the liberation which is the fruit of Arahantship—thus it is ‘with reasoned reflection on the Dhamma as its vanguard.’ Alternatively, ‘reasoned reflection on the Dhamma’ is called right view. It is the beginning, it is in front, it is the forerunner of the liberation which is the fruit of Arahantship—thus it is ‘with reasoned reflection on the Dhamma as its vanguard.’ Alternatively, ‘reasoned reflection on the Dhamma’ is called the insight-knowledge which is the preliminary part of the four paths. It is the beginning, it is in front, it is the forerunner of the liberation which is the fruit of Arahantship—thus it is ‘with reasoned reflection on the Dhamma as its vanguard.’
Có sự tầm về pháp đi trước (dhammatakkapurejavaṃ): sự tầm về pháp được gọi là chánh tư duy. Vị ấy là ban đầu, là đi trước, là dẫn đầu của chánh trí giải thoát, như vậy cũng là có sự tầm về pháp đi trước. Hoặc là, sự tầm về pháp được gọi là chánh kiến. Vị ấy là ban đầu, là đi trước, là dẫn đầu của chánh trí giải thoát, như vậy cũng là có sự tầm về pháp đi trước. Hoặc là, sự tầm về pháp được gọi là tuệ quán giai đoạn đầu của bốn đạo. Vị ấy là ban đầu, là đi trước, là dẫn đầu của chánh trí giải thoát – như vậy cũng là có sự tầm về pháp đi trước.
Aññāvimokkhaṃ pabrūmīti aññāvimokkho vuccati arahattavimokkho. Arahattavimokkhaṃ pabrūmi ācikkhāmi desemi paññapemi paṭṭhapemi vivarāmi vibhajāmi uttānīkaromi pakāsemīti – aññāvimokkhaṃ pabrūmi.
‘I declare the liberation through final knowledge.’ ‘Liberation through final knowledge’ is called the fruit of Arahantship, which is the liberation from defilements. I declare, explain, teach, make known, establish, disclose, analyze, make plain, and reveal the liberation which is the fruit of Arahantship—thus, ‘I declare the liberation through final knowledge.’
Ta tuyên bố là chánh trí giải thoát (aññāvimokkhaṃ pabrūmi): chánh trí giải thoát được gọi là sự giải thoát của bậc A-la-hán. Ta tuyên bố, Ta nói, Ta thuyết, Ta trình bày, Ta thiết lập, Ta mở ra, Ta phân tích, Ta làm cho rõ ràng, Ta công bố sự giải thoát của bậc A-la-hán – (đó là) Ta tuyên bố là chánh trí giải thoát.
Avijjāya pabhedananti. Avijjāti dukkhe aññāṇaṃ…pe… avijjā moho akusalamūlaṃ. Pabhedananti avijjāya pabhedanaṃ pahānaṃ vūpasamaṃ paṭinissaggaṃ paṭippassaddhiṃ amataṃ nibbānanti – avijjāya pabhedanaṃ. Tenāha bhagavā –
‘The sundering of ignorance.’ ‘Ignorance’ is unknowing of suffering…pe… ignorance, delusion, the root of the unwholesome. ‘Sundering’ means the sundering of ignorance, the abandoning, the calming, the relinquishing, the tranquilizing, the deathless, Nibbāna—this is the sundering of ignorance. Therefore, the Blessed One said:
Sự phá vỡ vô minh (avijjāya pabhedanaṃ). Vô minh (avijjā) là: sự không biết về khổ... cho đến... vô minh, si, cội rễ bất thiện. Sự phá vỡ (pabhedanaṃ) là: sự phá vỡ, sự từ bỏ, sự lắng dịu, sự xả ly, sự an tịnh, trạng thái bất tử, Nibbāna đối với vô minh – (đó là) sự phá vỡ vô minh. Do đó, đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Upekkhāsatisaṃsuddhaṃ, dhammatakkapurejavaṃ;
Aññāvimokkhaṃ pabrūmi, avijjāya pabhedana’’nti.
“Purified by equanimity and mindfulness, with reasoned reflection on the Dhamma as its vanguard; I declare the liberation through final knowledge, the sundering of ignorance.”
‘(Trạng thái) được thanh tịnh bởi xả và niệm, có sự tầm về pháp đi trước; Ta tuyên bố là chánh trí giải thoát, là sự phá vỡ vô minh.’
77.
77.
77.
Kiṃsu saṃyojano loko, kiṃsu tassa vicāraṇaṃ;
Kissassa vippahānena, nibbānaṃ iti vuccati.
“What is the world’s fetter? What is its sphere of movement? By the abandoning of what is it called Nibbāna?”
‘Thế gian có gì là kiết sử, cái gì là sự khảo sát của nó? Do sự từ bỏ hoàn toàn cái gì, mà được gọi là Nibbāna?’
Kiṃsu saṃyojano lokoti lokassa saṃyojanaṃ lagganaṃ bandhanaṃ upakkileso. Kena loko yutto payutto āyutto samāyutto laggo laggito palibuddhoti – kiṃsu saṃyojano loko.
‘What fetters the world?’ The world’s fettering, clinging, binding, and defilement. By what is the world yoked, thoroughly yoked, firmly yoked, completely yoked, stuck, fastened, and repeatedly bound?—thus, ‘What fetters the world?’
Thế gian có gì là kiết sử (kiṃsu saṃyojano loko) là: sự trói buộc, sự dính mắc, sự ràng buộc, sự ô nhiễm của thế gian là gì? Thế gian bị trói buộc, bị trói buộc chặt, bị trói buộc vững chắc, bị trói buộc hoàn toàn, bị dính mắc, bị làm cho dính mắc, bị trói buộc khắp nơi bởi cái gì? – (đó là) thế gian có gì là kiết sử.
Kiṃsu tassa vicāraṇanti kiṃsu tassa cāraṇaṃ vicāraṇaṃ paṭivicāraṇaṃ. Kena loko carati vicarati paṭivicaratīti – kiṃsu tassa vicāraṇaṃ. Kissassa vippahānena nibbānaṃ iti vuccatīti kissassa vippahānena vūpasamena paṭinissaggena paṭippassaddhiyā nibbānaṃ iti vuccati pavuccati kathīyati bhaṇīyati dīpīyati voharīyatīti – kissassa vippahānena nibbānaṃ iti vuccati. Tenāha so brāhmaṇo –
"What is its moving about?" What is its roaming, its moving about, its moving about in various ways? By what does the world roam, move about, and move about in various ways?—thus, "What is its moving about?" "By the abandoning of what is it called Nibbāna?" By the abandoning of what, through calming, relinquishment, and thorough pacification, is Nibbāna called, proclaimed, declared, explained, elucidated, and expressed?—thus, "By the abandoning of what is it called Nibbāna?" Therefore, that brahmin said:
“Cái gì là sự khảo sát của nó?” (nghĩa là) cái gì là sự đi lại, sự khảo sát, sự khảo sát kỹ lưỡng của nó (thế gian)? Do cái gì thế gian đi lại, khảo sát, khảo sát kỹ lưỡng? – (Đây là ý nghĩa của) “Cái gì là sự khảo sát của nó?”. “Do đoạn trừ cái gì mà được gọi là Níp-bàn?” (nghĩa là) do đoạn trừ, do làm cho an tịnh, do từ bỏ, do làm cho lắng dịu cái gì mà được gọi là, được tuyên bố là, được nói đến là, được trình bày là, được làm cho rõ là, được gọi tên là Níp-bàn? – (Đây là ý nghĩa của) “Do đoạn trừ cái gì mà được gọi là Níp-bàn?”. Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói:
‘‘Kiṃsu saṃyojano loko, kiṃsu tassa vicāraṇaṃ;
Kissassa vippahānena, nibbānaṃ iti vuccatī’’ti.
“What is the world’s fetter? What is its moving about? By the abandoning of what is it called Nibbāna?”
“Thế gian có cái gì là dây trói buộc, cái gì là sự khảo sát của nó? Do đoạn trừ cái gì, mà được gọi là Níp-bàn?”
78.
78.
78.
Nandisaṃyojano loko, vitakkassa vicāraṇā;
Taṇhāya vippahānena, nibbānaṃ iti vuccati.
“The world has delight as its fetter; thought is its moving about. By the abandoning of craving, it is called Nibbāna.”
Thế gian có sự ưa thích làm dây trói buộc, tầm là sự khảo sát của nó. Do đoạn trừ ái, mà được gọi là Níp-bàn.
Nandisaṃyojano lokoti nandī vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ, ayaṃ vuccati nandī. Yā nandī lokassa saṃyojanaṃ lagganaṃ bandhanaṃ upakkileso, imāya nandiyā loko yutto payutto āyutto samāyutto laggo laggito palibuddhoti – nandisaṃyojano loko.
“‘The world has delight as its fetter.’ ‘Delight’ is a term for craving. Whatever passion, strong passion… and so on… covetousness, greed, the unwholesome root: this is called ‘delight.’ This delight is the world’s fetter, its clinging, its bondage, its defilement. By this delight, the world is yoked, variously yoked, specially yoked, firmly yoked, stuck, fastened, and firmly bound—thus, ‘the world has delight as its fetter.’”
Về câu “Thế gian có sự ưa thích làm dây trói buộc”: Ái được gọi là sự ưa thích. Cái nào là tham, tham luyến,... cho đến... tham lam, tham, căn bất thiện, cái ấy được gọi là sự ưa thích. Sự ưa thích nào là dây trói buộc, sự dính mắc, sự ràng buộc, sự phiền não của thế gian, do sự ưa thích này mà thế gian bị cột vào, bị cột chặt vào, bị cột kỹ vào, bị cột vững chắc vào, bị dính mắc, bị làm cho dính mắc, bị trói buộc – (đây là ý nghĩa của) “Thế gian có sự ưa thích làm dây trói buộc”.
Vitakkassa vicāraṇāti. Vitakkāti nava vitakkā – kāmavitakko, byāpādavitakko, vihiṃsāvitakko, ñātivitakko janapadavitakko, amarāvitakko, parānudayatāpaṭisaṃyutto vitakko, lābhasakkārasilokapaṭisaṃyutto vitakko, anavaññattipaṭisaṃyutto vitakko. Ime vuccanti nava vitakkā. Ime nava vitakkā lokassa cāraṇā vicāraṇā paṭivicāraṇā. Imehi navahi vitakkehi loko carati vicarati paṭivicaratīti – vitakkassa vicāraṇā.
“‘Thought is its moving about.’ ‘Thought’ refers to nine kinds of thoughts: thought of sensuality, thought of ill will, thought of harmfulness, thought concerning relatives, thought concerning the country, thought concerning immortality, thought connected with compassion for others, thought connected with gain, honor, and fame, and thought connected with not being despised. These are called the nine thoughts. These nine thoughts are the world’s means of roaming, of moving about, and of moving about in various ways. By these nine thoughts the world roams, moves about, and moves about in various ways—thus, ‘thought is its moving about.’”
Về câu “Tầm là sự khảo sát của nó”: Về tầm, có chín loại tầm – dục tầm, sân tầm, hại tầm, tầm về quyến thuộc, tầm về quốc độ, tầm về sự bất tử, tầm liên hệ đến lòng thương người khác, tầm liên hệ đến lợi lộc-cung kính-danh tiếng, tầm liên hệ đến sự không bị khinh rẻ. Những điều này được gọi là chín loại tầm. Chín loại tầm này là sự đi lại, sự khảo sát, sự khảo sát kỹ lưỡng của thế gian. Do chín loại tầm này mà thế gian đi lại, khảo sát, khảo sát kỹ lưỡng – (đây là ý nghĩa của) “Tầm là sự khảo sát của nó”.
Taṇhāya vippahānena nibbānaṃ iti vuccatīti. Taṇhāti rūpataṇhā…pe… dhammataṇhā. Taṇhāya vippahānena nibbānaṃ iti vuccatīti taṇhāya vippahānena vūpasamena paṭinissaggena paṭippassaddhiyā nibbānaṃ iti vuccati pavuccati kathīyati bhaṇīyati dīpīyati voharīyatīti – taṇhāya vippahānena nibbānaṃ iti vuccati. Tenāha bhagavā –
“By the abandoning of craving, it is called Nibbāna.” “Craving” is craving for forms…pe… craving for mental phenomena. “By the abandoning of craving, it is called Nibbāna” means that by the abandoning, complete calming, relinquishment, and pacification of craving, Nibbāna is called, proclaimed, declared, explained, elucidated, and expressed—thus, “By the abandoning of craving, it is called Nibbāna.” Thus spoke the Blessed One:
Về câu “Do đoạn trừ ái mà được gọi là Níp-bàn”: Về ái, (có) sắc ái,... cho đến... pháp ái. Về câu “Do đoạn trừ ái mà được gọi là Níp-bàn” (nghĩa là) do đoạn trừ, do làm cho an tịnh, do từ bỏ, do làm cho lắng dịu ái mà được gọi là, được tuyên bố là, được nói đến là, được trình bày là, được làm cho rõ là, được gọi tên là Níp-bàn – (đây là ý nghĩa của) “Do đoạn trừ ái mà được gọi là Níp-bàn”. Do đó, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Nandisaṃyojano loko, vitakkassa vicāraṇā;
Taṇhāya vippahānena, nibbānaṃ iti vuccatī’’ti.
“The world is fettered by delight, with thought as its sphere of activity; by the abandoning of craving, it is called Nibbāna.”
“Thế gian có sự ưa thích làm dây trói buộc, tầm là sự khảo sát của nó. Do đoạn trừ ái, mà được gọi là Níp-bàn.”
79.
79.
79.
Kathaṃ satassa carato, viññāṇaṃ uparujjhati;
Bhagavantaṃ puṭṭhumāgamā, taṃ suṇoma vaco tava.
“How, for one who lives mindfully, does consciousness cease? We have come to ask the Blessed One; let us hear your words.”
Đối với người có chánh niệm, đang hành trì, thì như thế nào thức bị đoạn diệt? Chúng con đã đến để hỏi đức Thế Tôn, chúng con xin lắng nghe lời dạy ấy của Ngài.
Kathaṃ satassa caratoti kathaṃ satassa sampajānassa carato viharato iriyato vattayato pālayato yapayato yāpayatoti – kathaṃ satassa carato.
“How, for one who lives mindfully?” How does one, mindful and clearly comprehending, live, dwell, move, maintain, sustain, carry on, and pass one’s life?—thus, “How, for one who lives mindfully?”
Về câu “Đối với người có chánh niệm, đang hành trì, thì như thế nào?” (nghĩa là) như thế nào đối với người có chánh niệm, có tỉnh giác, đang đi, đang trú, đang thực hành oai nghi, đang xoay vần, đang hộ trì, đang duy trì, đang bảo dưỡng? – (Đây là ý nghĩa của) “Đối với người có chánh niệm, đang hành trì, thì như thế nào?”.
Viññāṇaṃ uparujjhatīti viññāṇaṃ nirujjhati vūpasammati atthaṃ gacchati paṭippassambhatīti – viññāṇaṃ uparujjhati.
“Does consciousness cease?” Consciousness ceases, completely calms down, goes to an end, and is pacified—thus, “Does consciousness cease?”
Về câu “Thức bị đoạn diệt” (nghĩa là) thức diệt, an tịnh, đi đến chỗ biến mất, lắng dịu – (đây là ý nghĩa của) “Thức bị đoạn diệt”.
Bhagavantaṃ puṭṭhumāgamāti buddhaṃ bhagavantaṃ puṭṭhuṃ pucchituṃ yācituṃ ajjhesituṃ pasādetuṃ āgamhā āgatamhā upāgatamhā sampattamhā, ‘‘tayā saddhiṃ samāgatamhā’’ti – bhagavantaṃ puṭṭhumāgamā.
“We have come to ask the Blessed One” means: we have come, arrived, approached, and reached to ask, question, request, invite, and please the Buddha, the Blessed One. It also means: “We have come together with you”—thus, “we have come to ask the Blessed One.”
Về câu “Chúng con đã đến để hỏi đức Thế Tôn” (nghĩa là) chúng con đã đến, đã tới, đã lại gần, đã đạt đến đức Phật, đức Thế Tôn để hỏi, để thỉnh cầu, để thỉnh mời, để làm cho hoan hỷ, “chúng con đã hội họp cùng với Ngài” – (đây là ý nghĩa của) “Chúng con đã đến để hỏi đức Thế Tôn”.
Taṃ suṇoma vaco tavāti. Tanti tuyhaṃ vacanaṃ byappathaṃ desanaṃ anusāsanaṃ anusiṭṭhaṃ suṇoma uggaṇhāma dhārema upadhārema upalakkhemāti – taṃ suṇoma vaco tava. Tenāha so brāhmaṇo –
“Let us hear that word of yours” means: we hear, learn, retain, bear in mind, and discern your speech, explanation, teaching, instruction, and advice. Therefore, that brahmin said:
Về câu “Chúng con xin lắng nghe lời dạy ấy của Ngài”: Về “ấy” (nghĩa là) chúng con xin lắng nghe, xin tiếp thu, xin ghi nhớ, xin thọ trì, xin ghi nhận lời nói, lời trình bày, lời thuyết giảng, lời giáo huấn, lời chỉ dạy của Ngài – (đây là ý nghĩa của) “Chúng con xin lắng nghe lời dạy ấy của Ngài”. Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói:
‘‘Kathaṃ satassa carato, viññāṇaṃ uparujjhati;
Bhagavantaṃ puṭṭhumāgamā, taṃ suṇoma vaco tavā’’ti.
“How, for one who lives mindfully, does consciousness cease? We have come to ask the Blessed One; let us hear your words.”
“Đối với người có chánh niệm, đang hành trì, thì như thế nào thức bị đoạn diệt? Chúng con đã đến để hỏi đức Thế Tôn, chúng con xin lắng nghe lời dạy ấy của Ngài.”
80.
80.
80.
Ajjhattañca bahiddhā ca, vedanaṃ nābhinandato;
Evaṃ satassa carato, viññāṇaṃ uparujjhati.
For one who does not delight in feeling, internal or external, for one who lives thus mindful, consciousness ceases.
Không hoan hỷ với cảm thọ, cả bên trong lẫn bên ngoài. Đối với người có chánh niệm, đang hành trì như vậy, thức bị đoạn diệt.
Ajjhattañca bahiddhā ca vedanaṃ nābhinandatoti ajjhattaṃ vedanāsu vedanānupassī viharanto vedanaṃ nābhinandati nābhivadati na ajjhoseti †, abhinandanaṃ abhivadanaṃ ajjhosānaṃ gāhaṃ parāmāsaṃ abhinivesaṃ pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gameti; bahiddhā vedanāsu vedanānupassī viharanto vedanaṃ nābhinandati nābhivadati na ajjhoseti, abhinandanaṃ abhivadanaṃ ajjhosānaṃ gāhaṃ parāmāsaṃ abhinivesaṃ pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gameti; ajjhattabahiddhā vedanāsu vedanānupassī viharanto vedanaṃ nābhinandati nābhivadati na ajjhoseti, abhinandanaṃ abhivadanaṃ ajjhosānaṃ gāhaṃ parāmāsaṃ abhinivesaṃ pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gameti. Ajjhattaṃ samudayadhammānupassī vedanāsu vedanānupassī † viharanto vedanaṃ nābhinandati nābhivadati na ajjhoseti, abhinandanaṃ abhivadanaṃ ajjhosānaṃ gāhaṃ parāmāsaṃ abhinivesaṃ pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gameti; ajjhattaṃ vayadhammānupassī vedanāsu vedanānupassī viharanto…pe… ajjhattaṃ samudayavayadhammānupassī vedanāsu vedanānupassī viharanto…pe… bahiddhā samudayadhammānupassī vedanāsu vedanānupassī viharanto vedanaṃ nābhinandati nābhivadati na ajjhoseti, abhinandanaṃ abhivadanaṃ ajjhosānaṃ gāhaṃ parāmāsaṃ abhinivesaṃ pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gameti; bahiddhā vayadhammānupassī vedanāsu vedanānupassī viharanto…pe… bahiddhā samudayavayadhammānupassī vedanāsu vedanānupassī viharanto…pe… ajjhattabahiddhā samudayadhammānupassī vedanāsu vedanānupassī viharanto…pe… ajjhattabahiddhā vayadhammānupassī vedanāsu vedanānupassī viharanto…pe… ajjhattabahiddhā samudayavayadhammānupassī vedanāsu vedanānupassī viharanto vedanaṃ nābhinandati nābhivadati na ajjhoseti, abhinandanaṃ abhivadanaṃ ajjhosānaṃ gāhaṃ parāmāsaṃ abhinivesaṃ pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gameti. Imehi dvādasahi ākārehi vedanāsu vedanānupassī viharanto…pe… anabhāvaṃ gameti.
‘He does not delight in feeling internally or externally’ means: dwelling contemplating feelings in feelings internally, he does not delight in feeling, does not welcome it, does not cling to it. He abandons, dispels, eliminates, and makes an end of delighting, welcoming, clinging, grasping, misapprehension, and insistence. Dwelling contemplating feelings in feelings externally, he does not delight in feeling, does not welcome it, does not cling to it. He abandons, dispels, eliminates, and makes an end of delighting, welcoming, clinging, grasping, misapprehension, and insistence. Dwelling contemplating feelings in feelings both internally and externally, he does not delight in feeling, does not welcome it, does not cling to it. He abandons, dispels, eliminates, and makes an end of delighting, welcoming, clinging, grasping, misapprehension, and insistence. Dwelling contemplating feelings in feelings internally as subject to arising, he does not delight in feeling, does not welcome it, does not cling to it. He abandons, dispels, eliminates, and makes an end of delighting, welcoming, clinging, grasping, misapprehension, and insistence. Dwelling contemplating feelings in feelings internally as subject to vanishing... Dwelling contemplating feelings in feelings internally as subject to both arising and vanishing... Dwelling contemplating feelings in feelings externally as subject to arising, he does not delight in feeling, does not welcome it, does not cling to it. He abandons, dispels, eliminates, and makes an end of delighting, welcoming, clinging, grasping, misapprehension, and insistence. Dwelling contemplating feelings in feelings externally as subject to vanishing... Dwelling contemplating feelings in feelings externally as subject to both arising and vanishing... Dwelling contemplating feelings in feelings both internally and externally as subject to arising... Dwelling contemplating feelings in feelings both internally and externally as subject to vanishing... Dwelling contemplating feelings in feelings both internally and externally as subject to both arising and vanishing, he does not delight in feeling, does not welcome it, does not cling to it. He abandons, dispels, eliminates, and makes an end of delighting, welcoming, clinging, grasping, misapprehension, and insistence. In these twelve ways, dwelling contemplating feelings in feelings... he makes an end of them.
“Không hoan hỷ cảm thọ ở bên trong và bên ngoài” có nghĩa là: Vị đang trú, tùy quán cảm thọ ở các cảm thọ bên trong, không hoan hỷ, không tán dương, không bị ràng buộc vào cảm thọ; vị ấy từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn tồn tại sự hoan hỷ, sự tán dương, sự ràng buộc, sự nắm giữ, sự chấp thủ sai lầm, sự quyết đoán. Vị đang trú, tùy quán cảm thọ ở các cảm thọ bên ngoài, không hoan hỷ, không tán dương, không bị ràng buộc vào cảm thọ; vị ấy từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn tồn tại sự hoan hỷ, sự tán dương, sự ràng buộc, sự nắm giữ, sự chấp thủ sai lầm, sự quyết đoán. Vị đang trú, tùy quán cảm thọ ở các cảm thọ bên trong và bên ngoài, không hoan hỷ, không tán dương, không bị ràng buộc vào cảm thọ; vị ấy từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn tồn tại sự hoan hỷ, sự tán dương, sự ràng buộc, sự nắm giữ, sự chấp thủ sai lầm, sự quyết đoán. Vị đang trú, tùy quán pháp sanh khởi ở các cảm thọ bên trong, không hoan hỷ, không tán dương, không bị ràng buộc vào cảm thọ; vị ấy từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn tồn tại sự hoan hỷ, sự tán dương, sự ràng buộc, sự nắm giữ, sự chấp thủ sai lầm, sự quyết đoán. Vị đang trú, tùy quán pháp diệt tận ở các cảm thọ bên trong... cho đến... Vị đang trú, tùy quán pháp sanh diệt ở các cảm thọ bên trong... cho đến... Vị đang trú, tùy quán pháp sanh khởi ở các cảm thọ bên ngoài, không hoan hỷ, không tán dương, không bị ràng buộc vào cảm thọ; vị ấy từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn tồn tại sự hoan hỷ, sự tán dương, sự ràng buộc, sự nắm giữ, sự chấp thủ sai lầm, sự quyết đoán. Vị đang trú, tùy quán pháp diệt tận ở các cảm thọ bên ngoài... cho đến... Vị đang trú, tùy quán pháp sanh diệt ở các cảm thọ bên ngoài... cho đến... Vị đang trú, tùy quán pháp sanh khởi ở các cảm thọ bên trong và bên ngoài... cho đến... Vị đang trú, tùy quán pháp diệt tận ở các cảm thọ bên trong và bên ngoài... cho đến... Vị đang trú, tùy quán pháp sanh diệt ở các cảm thọ bên trong và bên ngoài, không hoan hỷ, không tán dương, không bị ràng buộc vào cảm thọ; vị ấy từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn tồn tại sự hoan hỷ, sự tán dương, sự ràng buộc, sự nắm giữ, sự chấp thủ sai lầm, sự quyết đoán. Bằng mười hai phương diện này, vị đang trú, tùy quán cảm thọ ở các cảm thọ... cho đến... làm cho không còn tồn tại.
Atha vā, vedanaṃ aniccato passanto vedanaṃ nābhinandati nābhivadati na ajjhoseti, abhinandanaṃ abhivadanaṃ ajjhosānaṃ gāhaṃ parāmāsaṃ abhinivesaṃ pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gameti. Vedanaṃ dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato…pe… nissaraṇato passanto vedanaṃ nābhinandati nābhivadati na ajjhoseti, abhinandanaṃ abhivadanaṃ ajjhosānaṃ gāhaṃ parāmāsaṃ abhinivesaṃ pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gameti. Imehi cattālīsāya † ākārehi vedanāsu vedanānupassī viharanto vedanaṃ nābhinandati nābhivadati na ajjhoseti, abhinandanaṃ abhivadanaṃ ajjhosānaṃ gāhaṃ parāmāsaṃ abhinivesaṃ pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gametīti – ajjhattañca bahiddhā ca vedanaṃ nābhinandato.
Alternatively, one who sees feeling as impermanent does not greatly delight in feeling, does not greatly welcome it, and does not greatly adhere to it. One abandons, dispels, makes an end of, and brings to non-existence great delight, great welcoming, great adherence, grasping, misapprehension, and adherence. One who sees feeling as suffering, as a disease, as a boil, as a dart, as a misfortune, as an affliction… as an escape, does not greatly delight in feeling, does not greatly welcome it, and does not greatly adhere to it. One abandons, dispels, makes an end of, and brings to non-existence great delight, great welcoming, great adherence, grasping, misapprehension, and adherence. Dwelling contemplating feeling in feelings by these forty aspects, one does not greatly delight in feeling, does not greatly welcome it, and does not greatly adhere to it. One abandons, dispels, makes an end of, and brings to non-existence great delight, great welcoming, great adherence, grasping, misapprehension, and adherence. This is the meaning of ‘not delighting in feeling either internally or externally.’
Hoặc là, vị đang thấy cảm thọ là vô thường, không hoan hỷ, không tán dương, không bị ràng buộc vào cảm thọ; vị ấy từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn tồn tại sự hoan hỷ, sự tán dương, sự ràng buộc, sự nắm giữ, sự chấp thủ sai lầm, sự quyết đoán. Vị đang thấy cảm thọ là khổ, là bệnh hoạn, là ung nhọt, là mũi tên, là điều xấu xa, là tai ương... cho đến... là sự giải thoát, không hoan hỷ, không tán dương, không bị ràng buộc vào cảm thọ; vị ấy từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn tồn tại sự hoan hỷ, sự tán dương, sự ràng buộc, sự nắm giữ, sự chấp thủ sai lầm, sự quyết đoán. Bằng bốn mươi phương diện này, vị đang trú, tùy quán cảm thọ ở các cảm thọ, không hoan hỷ, không tán dương, không bị ràng buộc vào cảm thọ; vị ấy từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn tồn tại sự hoan hỷ, sự tán dương, sự ràng buộc, sự nắm giữ, sự chấp thủ sai lầm, sự quyết đoán. Đây là ý nghĩa của câu “không hoan hỷ cảm thọ ở bên trong và bên ngoài”.
Evaṃ satassa caratoti evaṃ satassa sampajānassa carato viharato iriyato vattayato pālayato yapayato yāpayatoti – evaṃ satassa carato.
‘Thus, for one who acts mindfully’ means: thus for one who is mindful and clearly comprehending, acting, dwelling, moving, behaving, protecting, sustaining, and continuing. This is the meaning of ‘thus, for one who acts mindfully’.
“Đối với người có chánh niệm, đang hành trì như vậy” có nghĩa là: Đối với người có chánh niệm, có tỉnh giác, đang hành trì, đang trú, đang đi trong oai nghi, đang thực hành, đang hộ trì, đang duy trì, đang làm cho duy trì như vậy. Đây là ý nghĩa của câu “đối với người có chánh niệm, đang hành trì như vậy”.
Viññāṇaṃ uparujjhatīti puññābhisaṅkhārasahagataṃ viññāṇaṃ apuññābhisaṅkhārasahagataṃ viññāṇaṃ āneñjābhisaṅkhārasahagataṃ viññāṇaṃ nirujjhati vūpasammati atthaṃ gacchati paṭippassambhatīti – viññāṇaṃ uparujjhatī. Tenāha bhagavā –
‘Consciousness ceases’ means: consciousness accompanied by meritorious volitional formations, consciousness accompanied by demeritorious volitional formations, and consciousness accompanied by imperturbable volitional formations ceases, is pacified, comes to an end, and is stilled. This is the meaning of ‘consciousness ceases’. Therefore, the Blessed One said:
“Thức bị đoạn diệt” có nghĩa là: Thức tương ưng với phước hành, thức tương ưng với phi phước hành, thức tương ưng với bất động hành bị diệt, được lắng dịu, đi đến sự biến mất, được an tịnh trở lại. Đây là ý nghĩa của câu “thức bị đoạn diệt”. Do đó, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Ajjhattañca bahiddhā ca, vedanaṃ nābhinandato;
Evaṃ satassa carato, viññāṇaṃ uparujjhatī’’ti.
“For one not delighting in feeling, either internally or externally; for one thus acting mindfully, consciousness ceases.”
“Đối với người không hoan hỷ cảm thọ, ở bên trong và cả bên ngoài; đối với người có chánh niệm, đang hành trì như vậy, thức bị đoạn diệt.”
Saha gāthāpariyosānā…pe… satthā me, bhante bhagavā, sāvakohamasmīti.
Simultaneously with the end of the verse… “Venerable sir, the Blessed One is my Teacher; I am a disciple.”
Cùng với lúc kết thúc bài kệ... cho đến... “Bạch ngài Thế Tôn, ngài là bậc Đạo Sư của con, con là đệ tử.”
Udayamāṇavapucchāniddeso terasamo.
The Thirteenth Exposition on the Questions of the Young Man Udaya.
Phần giải thích câu hỏi của thanh niên Udaya, thứ mười ba.