Bản dịch
CND 16 — Diễn Giải Kinh Bhadrāvudha
12. Bhadrāvudhamāṇavapucchāniddesa
(Tôn giả Bhadrāvudha nói rằng:) “Con khẩn cầu bậc khôn ngoan, bậc từ bỏ chỗ trú ngụ, bậc cắt đứt tham ái, bậc không còn dục vọng, bậc từ bỏ niềm vui, bậc đã vượt qua dòng lũ, bậc đã được giải thoát, bậc từ bỏ sự sắp đặt (do tham ái và tà kiến). Sau khi lắng nghe bậc Long Tượng, từ đây họ sẽ ra đi.
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
(Tôn giả Bhadrāvudha nói rằng:) “Con khẩn cầu bậc khôn ngoan, bậc từ bỏ chỗ trú ngụ, bậc cắt đứt tham ái, bậc không còn dục vọng, bậc từ bỏ niềm vui, bậc đã vượt qua dòng lũ, bậc đã được giải thoát, bậc từ bỏ sự sắp đặt (do tham ái và tà kiến). Sau khi lắng nghe bậc Long Tượng, từ đây họ sẽ ra đi.
Trong khi mong mỏi lời nói của Ngài, thưa bậc anh hùng, vô số người từ các xứ sở đã tụ hội lại. Xin Ngài hãy khéo léo giải thích cho họ, bởi vì pháp này đã được Ngài biết đúng theo bản thể. ”
1. Vị đã lánh xa tất cả các việc ác xấu ở đời này, đã vượt qua sự khổ đau ở địa ngục, có tinh tấn là nơi cư ngụ, vị ấy có sự nỗ lực, anh hùng, tự tại, có bản thể như thế, được gọi là ‘bậc có sự tinh tấn.’
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
Trong khi mong mỏi lời nói của Ngài, thưa bậc anh hùng, vô số người từ các xứ sở đã tụ hội lại. Xin Ngài hãy khéo léo giải thích cho họ, bởi vì pháp này đã được Ngài biết đúng theo bản thể .”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Bhadrāvudha,) nên dẹp bỏ mọi sự nắm giữ và tham ái ở bên trên, bên dưới, luôn cả bề ngang và khoảng giữa. Bởi vì, mỗi một điều gì họ chấp thủ ở thế gian, do chính điều ấy Ma Vương theo đuổi loài người.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
(Đức Thế Tôn nói: “Này Bhadrāvudha,) nên dẹp bỏ mọi sự nắm giữ và tham ái ở bên trên, bên dưới, luôn cả bề ngang và khoảng giữa. Bởi vì, mỗi một điều gì họ chấp thủ ở thế gian, do chính điều ấy Ma Vương theo đuổi loài người.
Bởi vậy, trong khi nhận biết, vị tỳ khưu, có niệm, không nên chấp thủ bất cứ điều gì ở khắp thế gian, trong khi xem xét chúng sanh bị dính mắc ở sự nắm giữ, nhân loại này bị vướng mắc ở lãnh địa của Thần Chết.’
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Bởi vậy, trong khi nhận biết, vị tỳ khưu, có niệm, không nên chấp thủ bất cứ điều gì ở khắp thế gian, trong khi xem xét chúng sanh bị dính mắc ở sự nắm giữ, nhân loại này bị vướng mắc ở lãnh địa của Thần Chết.’”
Cùng với lúc kết thúc câu kệ ngôn, –nt– “Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc đạo sư của con, con là người đệ tử.”
Diễn Giải Kinh Bhadrāvudha được hoàn tất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tiểu Diễn Giải (Cūḷaniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Taṇhacchidanti. Taṇhāti rūpataṇhā…pe… dhammataṇhā. Sā taṇhā buddhassa bhagavato chinnā ucchinnā samucchinnā vūpasantā paṭippassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhā. Tasmā buddho taṇhacchido. Anejoti ejā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo …pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Sā ejā taṇhā buddhassa bhagavato pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā. Tasmā buddho anejo. Ejāya pahīnattā anejo bhagavā lābhepi na iñjati, alābhepi na iñjati, yasepi na iñjati, ayasepi na iñjati, pasaṃsāyapi na iñjati, nindāyapi na iñjati, sukhepi na iñjati, dukkhepi na iñjati na calati na vedhati na pavedhati na sampavedhatīti. Tasmā buddho anejoti – okañjahaṃ taṇhacchidaṃ anejaṃ. Iccāyasmā bhadrāvudhoti. Iccāti padasandhi…pe… āyasmāti, piyavacanaṃ…pe… bhadrāvudhoti tassa brāhmaṇassa nāmaṃ…pe… abhilāpoti – iccāyasmā bhadrāvudho.
Regarding 'the cutter of craving' (Taṇhacchida): Craving refers to craving for forms…pe… craving for mental phenomena. That craving has been cut off, severed, completely uprooted, pacified, stilled, rendered incapable of arising again, and burned by the fire of knowledge by the Blessed One, the Buddha. Therefore, the Buddha is the cutter of craving. Regarding 'the unshaken one' (Aneja): Shaking (ejā) is said to be craving. Whatever lust, intense passion…pe… covetousness, greed, and the unwholesome root—this is called shaking. That shaking, that craving, has been abandoned by the Blessed One, the Buddha, cut off at the root, made like a palm-tree stump, brought to non-existence, and is of a nature not to arise in the future. Therefore, the Buddha is the unshaken one. Because shaking has been abandoned, the Blessed One is unshaken. He does not tremble at gain or at loss, at fame or at disgrace, at praise or at blame, at pleasure or at pain. He does not move, shake, tremble violently, or quiver exceedingly. Therefore, the Buddha is the unshaken one—‘one who has abandoned the dwelling, cutter of craving, unshaken one.’ Thus the Venerable Bhadrāvudha. ‘Thus’ (iccā) is a conjunction…pe… ‘Venerable’ (āyasmā) is a term of affection…pe… ‘Bhadrāvudha’ is the name of that brahmin…pe… an expression—thus, the Venerable Bhadrāvudha.
Về câu ‘người đã đoạn trừ ái dục’. Ái dục là sắc ái... cho đến... pháp ái. Ái dục ấy của đức Phật, bậc Thế Tôn, đã được cắt đứt, đã được nhổ bật gốc, đã được đoạn trừ hoàn toàn, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, đã trở thành không có khả năng sanh khởi, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. Do đó, đức Phật là người đã đoạn trừ ái dục. Về câu ‘người không còn dao động’. Dao động được gọi là ái dục. Sự tham ái, sự tham đắm... cho đến... sự thèm muốn, lòng tham, gốc rễ của bất thiện. Sự dao động ấy, ái dục ấy của đức Phật, bậc Thế Tôn, đã được từ bỏ, đã được nhổ tận gốc, đã được làm cho như cây thốt nốt bị chặt ngọn, đã được làm cho không còn hiện hữu, có trạng thái không sanh khởi trong tương lai. Do đó, đức Phật là người không còn dao động. Do đã từ bỏ sự dao động nên là người không còn dao động, bậc Thế Tôn không rung động khi được lợi, không rung động khi không được lợi, không rung động khi có danh, không rung động khi không có danh, không rung động khi được tán thán, không rung động khi bị chê bai, không rung động khi được an lạc, không rung động khi bị đau khổ, không lay chuyển, không chao đảo, không run rẩy, không rúng động. Do đó, đức Phật là người không còn dao động. (Câu kệ) ‘Người đã từ bỏ nơi nương náu, đã đoạn trừ ái dục, không còn dao động.’ Như vậy là Tôn giả Bhadrāvudha. ‘Như vậy’ là sự nối kết từ... cho đến... ‘Tôn giả’ là lời nói thân ái... cho đến... ‘Bhadrāvudha’ là tên của vị Bà-la-môn ấy... cho đến... là cách gọi. Như vậy là Tôn giả Bhadrāvudha.
Nandiñjahaṃ oghatiṇṇaṃ vimuttanti nandī vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Sā nandī sā taṇhā buddhassa bhagavato pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā. Tasmā buddho nandiñjaho. Oghatiṇṇanti bhagavā kāmoghaṃ tiṇṇo bhavoghaṃ tiṇṇo diṭṭhoghaṃ tiṇṇo avijjoghaṃ tiṇṇo sabbasaṃsārapathaṃ tiṇṇo uttiṇṇo nitthiṇṇo atikkanto samatikkanto vītivatto. So vutthavāso ciṇṇacaraṇo…pe… jātimaraṇasaṃsāro natthi tassa punabbhavoti – nandiñjahaṃ oghatiṇṇaṃ. Vimuttanti bhagavato rāgā cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttaṃ, dosā cittaṃ… mohā cittaṃ…pe… sabbākusalābhisaṅkhārehi cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttanti – nandiñjahaṃ oghatiṇṇaṃ vimuttaṃ.
Regarding 'one who has abandoned delight, crossed the flood, and is freed': 'Delight' is a name for craving. That is, whatever passion, intense passion... covetousness, greed, the unwholesome root—this is called 'delight'. That delight, that craving, has been abandoned by the Blessed One, the Buddha; it is uprooted, made like a palm-tree stump, brought to a state of non-existence, and is of a nature not to arise again in the future. Therefore, the Buddha is one who has abandoned delight. Regarding 'crossed the flood': the Blessed One has crossed the flood of sensuality, crossed the flood of existence, crossed the flood of views, crossed the flood of ignorance. He has crossed, especially crossed, crossed without remainder, gone beyond, well gone beyond, and passed beyond the entire path of saṃsāra. He has lived the holy life, perfected the practice... for him there is no saṃsāra of birth and death, and no further becoming. Thus, 'one who has abandoned delight, crossed the flood'. Regarding 'freed': the mind of the Blessed One is freed, especially freed, well freed from passion; the mind is freed from hatred... the mind is freed from delusion... the mind is freed, especially freed, well freed from all unwholesome formations. Thus, 'one who has abandoned delight, crossed the flood, and is freed'.
Về câu ‘người đã từ bỏ hỷ lạc, đã vượt qua bộc lưu, đã được giải thoát’. Hỷ lạc được gọi là ái dục. Sự tham ái, sự tham đắm... cho đến... sự thèm muốn, lòng tham, gốc rễ của bất thiện. Hỷ lạc ấy, ái dục ấy của đức Phật, bậc Thế Tôn, đã được từ bỏ, đã được nhổ tận gốc, đã được làm cho như cây thốt nốt bị chặt ngọn, đã được làm cho không còn hiện hữu, có trạng thái không sanh khởi trong tương lai. Do đó, đức Phật là người đã từ bỏ hỷ lạc. Về câu ‘đã vượt qua bộc lưu’. Bậc Thế Tôn đã vượt qua dục bộc, đã vượt qua hữu bộc, đã vượt qua kiến bộc, đã vượt qua vô minh bộc, đã vượt qua, đã hoàn toàn vượt qua, đã vượt qua không còn sót lại, đã đi qua, đã đi qua một cách tốt đẹp, đã vượt hẳn mọi con đường luân hồi. Vị ấy đã sống đời sống phạm hạnh, đã thực hành xong phận sự... cho đến... đối với vị ấy không còn có luân hồi sanh tử, không còn có tái sanh. Như vậy là ‘người đã từ bỏ hỷ lạc, đã vượt qua bộc lưu’. Về câu ‘đã được giải thoát’. Tâm của bậc Thế Tôn đã thoát khỏi, đã giải thoát, đã hoàn toàn giải thoát khỏi tham ái; tâm... khỏi sân hận; tâm... khỏi si mê... cho đến... tâm đã thoát khỏi, đã giải thoát, đã hoàn toàn giải thoát khỏi tất cả các hành bất thiện. Như vậy là ‘người đã từ bỏ hỷ lạc, đã vượt qua bộc lưu, đã được giải thoát’.
Kappañjahaṃ abhiyāce sumedhanti. Kappāti dve kappā – taṇhākappo ca diṭṭhikappo ca…pe… ayaṃ taṇhākappo…pe… ayaṃ diṭṭhikappo. Buddhassa bhagavato taṇhākappo pahīno diṭṭhikappo paṭinissaṭṭho. Taṇhākappassa pahīnattā diṭṭhikappassa paṭinissaṭṭhattā tasmā buddho kappañjaho. Abhiyāceti yācāmi abhiyācāmi ajjhesāmi sādiyāmi patthayāmi pihayāmi jappāmi abhijappāmi. Sumedhā vuccati paññā. Yā paññā pajānanā…pe… amoho dhammavicayo sammādiṭṭhi. Bhagavā imāya medhāya paññāya upeto samupeto upāgato samupāgato upapanno samupapanno samannāgato. Tasmā buddho sumedhoti – kappañjahaṃ abhiyāce sumedhaṃ.
Regarding 'the one who has abandoned speculations, I entreat the one of good wisdom': 'Speculations' refers to two kinds of speculations: speculations of craving and speculations of views... This is the speculation of craving... This is the speculation of views. For the Blessed One, the Buddha, the speculation of craving is abandoned, and the speculation of views is relinquished. Because the speculation of craving has been abandoned and the speculation of views has been relinquished, the Buddha is called 'one who has abandoned speculations'. 'I entreat' means: I ask, I entreat, I request, I welcome, I wish for, I desire, I murmur, I earnestly murmur. 'Good wisdom' is a name for wisdom. That which is wisdom, understanding... non-delusion, investigation of phenomena, right view. The Blessed One is endowed with, fully endowed with, has attained, has fully attained, is possessed of, is fully possessed of, and is furnished with this good wisdom, this wisdom. Therefore, the Buddha is called 'one of good wisdom'. Thus: 'the one who has abandoned speculations, I entreat the one of good wisdom'.
Về câu ‘con cầu xin bậc Trí Tuệ, người đã từ bỏ các tư duy’. Về ‘tư duy’. Có hai loại tư duy: tư duy ái dục và tư duy tà kiến... cho đến... đây là tư duy ái dục... cho đến... đây là tư duy tà kiến. Đối với đức Phật, bậc Thế Tôn, tư duy ái dục đã được từ bỏ, tư duy tà kiến đã được xả ly. Do đã từ bỏ tư duy ái dục, do đã xả ly tư duy tà kiến, nên đức Phật là người đã từ bỏ các tư duy. Về ‘con cầu xin’. Con xin, con cầu xin, con thỉnh cầu, con chấp nhận, con mong mỏi, con khao khát, con lặp lại lời cầu xin, con tha thiết cầu xin. Trí tuệ được gọi là ‘medhā’. Trí tuệ nào là sự hiểu biết... cho đến... là vô si, trạch pháp, chánh kiến. Bậc Thế Tôn đã đạt đến, đã hoàn toàn đạt đến, đã đi đến, đã hoàn toàn đi đến, đã thành tựu, đã hoàn toàn thành tựu, đã được trang bị trí tuệ này. Do đó, đức Phật là bậc Trí Tuệ. Như vậy là ‘con cầu xin bậc Trí Tuệ, người đã từ bỏ các tư duy’.
Sutvāna nāgassa apanamissanti itoti. Nāgassāti nāgo. Bhagavā āguṃ na karotīti nāgo, na gacchatīti nāgo, na āgacchatīti nāgo…pe… evaṃ bhagavā na gacchatīti nāgo. Sutvāna nāgassa apanamissanti itoti tuyhaṃ vacanaṃ byappathaṃ desanaṃ anusāsanaṃ anusiṭṭhaṃ sutvā suṇitvā uggahetvā upadhārayitvā upalakkhayitvā ito apanamissanti vajissanti pakkamissanti disāvidisaṃ gamissantīti – sutvāna nāgassa apanamissanti ito. Tenāha so brāhmaṇo –
Having heard the Nāga, they will depart from here. As for ‘Nāga’: The Blessed One does no evil (āguṃ), thus he is a Nāga; he does not go (to what should not be gone to), thus he is a Nāga; he does not come again (to existence), thus he is a Nāga… and so on… Thus, the Blessed One does not go (to what should not be gone to), thus he is a Nāga. ‘Having heard the Nāga, they will depart from here’ means: having heard, listened to, grasped, borne well in mind, and noted well your word, your reason for speaking, your teaching, your instruction, and your admonition, they will depart from this place, they will go, they will leave, they will go to the various directions. Thus: ‘Having heard the Nāga, they will depart from here.’ Therefore, that brahmin said:
Về câu ‘sau khi nghe bậc Nāga, họ sẽ rời khỏi nơi đây’. Về ‘bậc Nāga’. Bậc Thế Tôn không làm điều ác, vì thế là Nāga; không đi đến (các ác thú), vì thế là Nāga; không trở lại (với các hữu), vì thế là Nāga... cho đến... như vậy, bậc Thế Tôn không đi đến (các ác thú), vì thế là Nāga. Về câu ‘sau khi nghe bậc Nāga, họ sẽ rời khỏi nơi đây’. Sau khi đã nghe, đã lắng nghe, đã tiếp thu, đã ghi nhớ, đã nhận thức lời nói, lời trình bày, lời thuyết giảng, lời giáo huấn, lời chỉ dạy của ngài, họ sẽ rời khỏi, sẽ ra đi, sẽ bỏ đi từ nơi đây, sẽ đi đến các phương khác. Như vậy là ‘sau khi nghe bậc Nāga, họ sẽ rời khỏi nơi đây’. Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói:
‘‘Okañjahaṃ taṇhacchidaṃ anejaṃ, [iccāyasmā bhadrāvudho]
Nandiñjahaṃ oghatiṇṇaṃ vimuttaṃ;
Kappañjahaṃ abhiyāce sumedhaṃ, sutvāna nāgassa apanamissanti ito’’ti.
“The abandoner of the home, the cutter of craving, the unshaken, [thus said the venerable Bhadrāvudha] the abandoner of delight, who has crossed the flood, the liberated one; I entreat the one of good wisdom who has abandoned volitional formations. Having heard the Nāga, they will depart from here.”
‘Người đã từ bỏ nơi nương náu, đã đoạn trừ ái dục, không còn dao động, [Tôn giả Bhadrāvudha thưa rằng] người đã từ bỏ hỷ lạc, đã vượt qua bộc lưu, đã được giải thoát; con cầu xin bậc Trí Tuệ, người đã từ bỏ các tư duy, sau khi nghe bậc Nāga, họ sẽ rời khỏi nơi đây.’
71.
71.
71.
Nānājanā janapadehi saṅgatā, tava vīra vākyaṃ abhikaṅkhamānā;
Tesaṃ tuvaṃ sādhu viyākarohi, tathā hi te vidito esa dhammo.
“Various people from the provinces have gathered, O Hero, desiring your words. Please explain it well to them; for this Dhamma is truly known to you.”
Nhiều người từ các xứ đã tụ hội lại, mong mỏi lời nói của ngài, bậc Anh Hùng. Xin ngài hãy khéo giảng giải cho họ, vì rằng pháp này đã được ngài liễu tri như thật.
Nānājanā janapadehi saṅgatāti. Nānājanāti khattiyā ca brāhmaṇā ca vessā ca suddā ca gahaṭṭhā ca pabbajitā ca devā ca manussā ca. Janapadehi saṅgatāti aṅgā ca magadhā ca kaliṅgā ca kāsiyā ca kosalā ca vajjiyā ca mallā ca cetiyamhā ca † vaṃsā ca kurumhā ca pañcālā ca macchā ca surasenā ca assakā ca avantiyā ca yonā † ca kambojā ca. Saṅgatāti saṅgatā samāgatā samohitā sannipatitāti – nānājanā janapadehi saṅgatā.
‘Various people from the provinces have gathered.’ ‘Various people’ means: nobles, brahmins, merchants, commoners, householders, monastics, devas, and humans. ‘From the provinces have gathered’ means: from Aṅga, Magadha, Kaliṅga, Kāsī, Kosala, Vajjī, Malla, Cetiya, Vaṃsa, Kuru, Pañcāla, Maccha, Surasena, Assaka, Avantī, Yona, and Kamboja. ‘Gathered’ means: gathered, come together, united, assembled. Thus: ‘Various people from the provinces have gathered.’”
Về câu ‘nhiều người từ các xứ đã tụ hội lại’. ‘Nhiều người’ là các vị Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà, tại gia, xuất gia, chư thiên, và loài người. ‘Từ các xứ đã tụ hội lại’ là từ xứ Aṅga, Magadha, Kaliṅga, Kāsī, Kosala, Vajjī, Mallā, Ceti, Vaṃsa, Kuru, Pañcāla, Macchā, Surasena, Assaka, Avantī, Yona, và Kamboja. ‘Đã tụ hội lại’ là đã tụ tập, đã cùng đến, đã tập hợp, đã hội họp. Như vậy là ‘nhiều người từ các xứ đã tụ hội lại’.
Tava vīra vākyaṃ abhikaṅkhamānāti. Vīrāti vīro. Bhagavā vīriyavāti vīro, pahūti vīro, visavīti vīro, alamattoti vīro, vigatalomahaṃsotipi vīro.
‘Desiring your words, O Hero.’ As for ‘Hero’: The Blessed One is a hero because he is energetic; he is a hero because he possesses great energy; he is a hero because he is skilled; he is a hero because he has a capable mind; he is also a hero because he is without hair-raising fear.
Về câu ‘mong mỏi lời nói của ngài, bậc Anh Hùng’. Về ‘Anh Hùng’. Bậc Thế Tôn có tinh tấn, vì thế là Anh Hùng; có năng lực, vì thế là Anh Hùng; có uy lực, vì thế là Anh Hùng; có đủ năng lực, vì thế là Anh Hùng; không còn sợ hãi dựng tóc gáy, vì thế cũng là Anh Hùng.
Virato idha sabbapāpakehi, nirayadukkhaṃ aticca vīriyavā so;
So vīriyavā padhānavā, vīro tādi pavuccate tathattāti.
“He who abstains here from all evil, having transcended the suffering of hell, is energetic; that energetic one, striving—such a one is called a hero on account of that quality.”
Vị ấy ở đời này đã từ bỏ mọi điều ác, vị ấy có tinh tấn, đã vượt qua khổ đau địa ngục; vị ấy có tinh tấn, có sự nỗ lực, bậc như vậy được gọi là Anh Hùng, do bản chất ấy.
Tava vīra vākyaṃ abhikaṅkhamānāti tuyhaṃ vacanaṃ byappathaṃ desanaṃ anusāsanaṃ anusiṭṭhaṃ. Abhikaṅkhamānāti abhikaṅkhamānā icchamānā sādiyamānā patthayamānā pihayamānā abhijappamānāti – tava vīra vākyaṃ abhikaṅkhamānā.
'Longing for your, the Hero's, words' means: longing for your utterance, your discourse, your teaching, and your admonition. 'Longing' means: greatly desiring, wishing, delighting in, aspiring, yearning for, and speaking with longing. This is the meaning of the phrase 'longing for your, the Hero's, words'.
Về câu ‘mong mỏi lời nói của ngài, bậc Anh Hùng’. (Lời nói của ngài) là lời nói, lời trình bày, lời thuyết giảng, lời giáo huấn, lời chỉ dạy của ngài. Về ‘mong mỏi’. Là mong mỏi, ước muốn, vui thích, cầu mong, khao khát, tha thiết cầu mong. Như vậy là ‘mong mỏi lời nói của ngài, bậc Anh Hùng’.
Tesaṃ tuvaṃ sādhu viyākarohīti. Tesanti tesaṃ khattiyānaṃ brāhmaṇānaṃ vessānaṃ suddānaṃ gahaṭṭhānaṃ pabbajitānaṃ devānaṃ manussānaṃ. Tuvanti bhagavantaṃ bhaṇati. Sādhu viyākarohīti sādhu ācikkhāhi desehi paññapehi paṭṭhapehi vivarāhi vibhajāhi uttānīkarohi pakāsehīti – tesaṃ tuvaṃ sādhu viyākarohi.
'You should explain it well to them.' Here, 'them' refers to those nobles, brāhmaṇas, merchants, commoners, householders, renunciants, devas, and humans. 'You' refers to the Blessed One. 'Explain it well' means: please, teach, make known, establish, open up, analyze, make plain, and make clear. This is the meaning of the phrase 'You should explain it well to them'.
“Ngài hãy khéo giảng giải cho họ.” (Tesaṃ tuvaṃ sādhu viyākarohi). Ở đây, (tesaṃ) là cho những người ấy, (tức là) cho các vị Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la, tại gia, xuất gia, chư thiên, và loài người. (Tuvaṃ) là Ngài, (tức là) nói đến Đức Thế Tôn. (Sādhu viyākarohi) là “hãy khéo giảng giải,” (có nghĩa là) lành thay, xin hãy chỉ dạy, hãy thuyết giảng, hãy làm cho biết, hãy thiết lập, hãy khai mở, hãy phân tích, hãy làm cho rõ ràng, hãy hiển thị. – (Đây là ý nghĩa của) “Ngài hãy khéo giảng giải cho họ.”
Tathā hi te vidito esa dhammoti tathā hi te vidito tulito tīrito vibhūto vibhāvito esa dhammoti – tathā hi te vidito esa dhammo. Tenāha so brāhmaṇo –
'For thus is this Dhamma known to you.' Indeed, in such a way has this Dhamma been known by you—weighed, investigated, made manifest, and developed. This is the meaning of the phrase 'For thus is this Dhamma known to you.' Therefore, that brāhmaṇa said:
“Vì rằng pháp này đã được Ngài biết như thế.” (Tathā hi te vidito esa dhammo). (Nghĩa là) vì rằng, pháp này đã được Ngài biết, đã được cân nhắc, đã được thẩm xét, đã được làm cho hiển lộ, đã được làm cho phát triển. – (Đây là ý nghĩa của) “Vì rằng pháp này đã được Ngài biết như thế.” Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói:
‘‘Nānājanā janapadehi saṅgatā, tava vīra vākyaṃ abhikaṅkhamānā;
Tesaṃ tuvaṃ sādhu viyākarohi, tathā hi te vidito esa dhammo’’ti.
“People from various regions have gathered, O hero, longing for your words. Kindly explain it well to them, for this Dhamma is known to you.”
“Nhiều người từ các quốc độ đã tụ hội, mong mỏi lời nói của Ngài, bậc Anh Hùng. Xin Ngài hãy khéo giảng giải cho họ, vì rằng pháp này đã được Ngài biết như thế.”
72.
72.
72.
Ādānataṇhaṃ vinayetha sabbaṃ, [bhadrāvudhāti bhagavā]
Uddhaṃ adho tiriyañcāpi majjhe;
Yaṃ yañhi lokasmimupādiyanti, teneva māro anveti jantuṃ.
“Dispel all grasping-craving, [Bhadrāvudha, said the Blessed One,] in the future, the past, and also in the present; for whatever formative action beings grasp in the world, by that very action does Māra pursue the being.”
(Đức Thế Tôn phán:) “Này Bhadrāvudha, hãy loại bỏ tất cả ái chấp thủ, ở trên, ở dưới, và cả ở giữa theo chiều ngang. Quả thật, bất cứ điều gì họ chấp thủ trong thế gian, chính do điều ấy mà Ma theo đuổi chúng sanh.”
Ādānataṇhaṃ vinayetha sabbanti ādānataṇhaṃ vuccati rūpataṇhā…pe… ādānataṇhāti kiṃkāraṇā vuccati ādānataṇhā? Tāya taṇhāya rūpaṃ ādiyanti upādiyanti gaṇhanti parāmasanti abhinivisanti. Vedanaṃ…pe… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ… gatiṃ… upapattiṃ… paṭisandhiṃ… bhavaṃ… saṃsāraṃ… vaṭṭaṃ ādiyanti upādiyanti gaṇhanti parāmasanti abhinivisanti. Taṃkāraṇā vuccati ādānataṇhā. Ādānataṇhaṃ vinayetha sabbanti sabbaṃ ādānataṇhaṃ vinayeyya paṭivinayeyya pajaheyya vinodeyya byantīkareyya anabhāvaṃ gameyyāti – ādānataṇhaṃ vinayetha sabbaṃ. Bhadrāvudhāti bhagavāti. Bhadrāvudhāti bhagavā taṃ brāhmaṇaṃ nāmena ālapati. Bhagavāti gāravādhivacanametaṃ…pe… sacchikā paññatti, yadidaṃ bhagavāti – bhadrāvudhāti bhagavā.
Regarding the phrase, 'One should remove all craving that takes up': Craving for form is called 'craving that takes up.' ... For what reason is it called 'craving that takes up'? By that craving, they take up form, cling to it, grasp it firmly, misapprehend it, and are intent upon it. They take up feeling... perception... formations... consciousness... the five destinations... the three kinds of becoming... the two kinds of rebirth-linking... the nine kinds of existence... the wandering-on of saṃsāra... the three cycles; they cling to them, grasp them firmly, misapprehend them, and are intent upon them. For that reason, it is called 'craving that takes up.' As for 'One should remove all craving that takes up': one should remove all craving that takes up, one should dispel it, one should abandon it by way of distinction, one should get rid of it, one should make an end of it, one should cause it to reach non-existence. This is the meaning of the phrase, 'One should remove all craving that takes up.' 'O Bhadrāvudha': the Blessed One addresses him.
“Hãy loại bỏ tất cả ái chấp thủ” (Ādānataṇhaṃ vinayetha sabbaṃ): Ái chấp thủ được gọi là ái về sắc... v.v... Vì lý do gì được gọi là ái chấp thủ? Do ái ấy, họ nhận lấy, chấp thủ, nắm giữ, bám víu, quyết tâm vào sắc. (Họ nhận lấy, chấp thủ, nắm giữ, bám víu, quyết tâm vào) thọ... v.v... tưởng... các hành... thức... các cõi... sự tái sanh... sự kiết sanh... hữu... luân hồi... vòng luân chuyển. Vì lý do đó, nó được gọi là ái chấp thủ. “Hãy loại bỏ tất cả ái chấp thủ” (Ādānataṇhaṃ vinayetha sabbaṃ) có nghĩa là nên loại bỏ, nên trừ bỏ, nên từ bỏ, nên xua tan, nên chấm dứt, nên đưa đến chỗ không còn tồn tại tất cả ái chấp thủ. – (Đây là ý nghĩa của) “Hãy loại bỏ tất cả ái chấp thủ.” “Này Bhadrāvudha, Đức Thế Tôn” (Bhadrāvudhāti bhagavā): Đức Thế Tôn gọi vị Bà-la-môn ấy bằng tên “Bhadrāvudha.” “Bhagavā” là một danh xưng tôn kính... v.v... là một khái niệm thực chứng, đó là “Bhagavā.” – (Đây là ý nghĩa của) “Này Bhadrāvudha, Đức Thế Tôn.”
Uddhaṃ adho tiriyañcāpi majjheti. Uddhanti anāgataṃ; adhoti atītaṃ; tiriyañcāpi majjheti paccuppannaṃ. Uddhanti devaloko; adhoti nirayaloko; tiriyañcāpi majjheti manussaloko. Atha vā, uddhanti kusalā dhammā; adhoti akusalā dhammā; tiriyañcāpi majjheti abyākatā dhammā. Uddhanti arūpadhātu; adhoti kāmadhātu; tiriyañcāpi majjheti rūpadhātu. Uddhanti sukhā vedanā; adhoti dukkhā vedanā; tiriyañcāpi majjheti adukkhamasukhā vedanā. Uddhanti uddhaṃ pādatalā; adhoti adho kesamatthakā; tiriyañcāpi majjheti vemajjheti – uddhaṃ adho tiriyañcāpi majjhe.
Regarding the phrase, 'Above, below, and across and in the middle': 'Above' is called the future; 'below' is called the past; 'across and in the middle' is called the present. 'Above' is called wholesome states; 'below' is called unwholesome states; 'across and in the middle' is called indeterminate states. 'Below' is called the world of misery; 'across and in the middle' is called the human world. 'Above' is called pleasant feeling; 'below' is called painful feeling; 'across and in the middle' is called neither-painful-nor-pleasant feeling. 'Above' is called the formless realm; 'below' is called the sense-sphere realm; 'across and in the middle' is called the form realm. 'Above' is called that which is above the soles of the feet; 'below' is called that which is below the tips of the hair; 'across and in the middle' is called the middle. This is the meaning of the phrase, 'Above, below, and across and in the middle.'
“Ở trên, ở dưới, và cả ở giữa theo chiều ngang” (Uddhaṃ adho tiriyañcāpi majjhe). “Ở trên” là tương lai; “ở dưới” là quá khứ; “ở giữa theo chiều ngang” là hiện tại. “Ở trên” là cõi trời; “ở dưới” là cõi khổ; “ở giữa theo chiều ngang” là cõi người. Hoặc là, “ở trên” là các pháp thiện; “ở dưới” là các pháp bất thiện; “ở giữa theo chiều ngang” là các pháp vô ký. “Ở trên” là cõi vô sắc; “ở dưới” là cõi dục; “ở giữa theo chiều ngang” là cõi sắc. “Ở trên” là thọ lạc; “ở dưới” là thọ khổ; “ở giữa theo chiều ngang” là thọ bất khổ bất lạc. “Ở trên” là phía trên từ lòng bàn chân; “ở dưới” là phía dưới từ ngọn tóc; “ở giữa theo chiều ngang” là ở khoảng giữa. – (Đây là ý nghĩa của) “Ở trên, ở dưới, và cả ở giữa theo chiều ngang.”
Yaṃ yañhi lokasmimupādiyantīti yaṃ yaṃ rūpagataṃ vedanāgataṃ saññāgataṃ saṅkhāragataṃ viññāṇagataṃ ādiyanti upādiyanti gaṇhanti parāmasanti abhinivisanti. Lokasminti apāyaloke…pe… āyatanaloketi – yaṃ yañhi lokasmimupādiyanti.
As for 'Whatever in the world they cling to': Whatever form, feeling, perception, formations, or consciousness they take up, cling to, grasp firmly, misapprehend, or are intent upon. As for 'in the world': in the world of misery... up to... in the world of the twelve sense bases. This is the meaning of 'Whatever in the world they cling to.'
“Bất cứ điều gì họ chấp thủ trong thế gian” (Yaṃ yañhi lokasmimupādiyanti): Bất cứ điều gì liên quan đến sắc, liên quan đến thọ, liên quan đến tưởng, liên quan đến các hành, liên quan đến thức mà họ nhận lấy, chấp thủ, nắm giữ, bám víu, quyết tâm vào. “Trong thế gian” (Lokasmiṃ) là trong thế gian cõi khổ... v.v... trong thế gian xứ. – (Đây là ý nghĩa của) “Bất cứ điều gì họ chấp thủ trong thế gian.”
Teneva māro anveti jantunti teneva kammābhisaṅkhāravasena paṭisandhiko khandhamāro dhātumāro āyatanamāro gatimāro upapattimāro paṭisandhimāro bhavamāro saṃsāramāro vaṭṭamāro anveti anugacchati anvāyiko hoti. Jantunti sattaṃ janaṃ naraṃ māṇavaṃ † posaṃ puggalaṃ jīvaṃ jāguṃ jantuṃ indaguṃ manujanti – teneva māro anveti jantuṃ. Tenāha bhagavā –
“By that very [cause], Māra follows the being”: by the power of that very kamma-formation [arisen from the craving for grasping], the Māra of aggregates, the Māra of elements, the Māra of sense bases, the Māra of destiny, the Māra of arising, the Māra of rebirth, the Māra of becoming, the Māra of saṃsāra, the Māra of the round—all connected with rebirth—follows, goes after, and becomes a consequence. “Being” means a being (satta), a person (jana), a man (nara), a youth (māṇava), an individual (posa), a person (puggala), a living being (jīva), one who is born (jāgu), a creature (jantu), one who goes by the faculties (indagu), and a human (manuja). Thus: “By that very [cause], Māra follows the being.” Therefore, the Blessed One said:
“Chính do điều ấy mà Ma theo đuổi chúng sanh” (Teneva māro anveti jantuṃ): Chính do năng lực của nghiệp hành ấy mà uẩn ma, giới ma, xứ ma, thú ma, sanh ma, kiết sanh ma, hữu ma, luân hồi ma, vòng luân chuyển ma thuộc về kiết sanh, đã theo đuổi, đi theo sau, trở thành kẻ đi theo. “Chúng sanh” (Jantu) là chúng sanh, người, nhân, thanh niên, sinh linh, cá nhân, sinh vật, jāgu, chúng sanh, indagu, người. – (Đây là ý nghĩa của) “Chính do điều ấy mà Ma theo đuổi chúng sanh.” Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Ādānataṇhaṃ vinayetha sabbaṃ, [bhadrāvudhāti bhagavā]
Uddhaṃ adho tiriyañcāpi majjhe;
Yaṃ yañhi lokasmimupādiyanti, teneva māro anveti jantu’’nti.
“One should remove all craving for grasping, [O Bhadrāvudha,” said the Blessed One,] above, below, across, and in the middle; for whatever in the world they cling to, by that very [clinging] Māra follows the being.”
“Hãy loại bỏ tất cả ái chấp thủ, (này Bhadrāvudha, Đức Thế Tôn phán), ở trên, ở dưới, và cả ở giữa theo chiều ngang. Quả thật, bất cứ điều gì họ chấp thủ trong thế gian, chính do điều ấy mà Ma theo đuổi chúng sanh.”
73.
73.
73.
Tasmā pajānaṃ na upādiyetha, bhikkhu sato kiñcanaṃ sabbaloke;
Ādānasatte iti pekkhamāno, pajaṃ imaṃ maccudheyye visattaṃ.
Therefore, understanding, a mindful bhikkhu should not cling to anything in all the world, seeing this generation attached to grasping, ensnared in the realm of Death.
(Đức Thế Tôn phán:) “Do đó, người có trí tuệ, trong khi quán xét rằng: ‘Chúng sanh này bị dính mắc vào sự chấp thủ, bị ràng buộc trong lãnh địa của tử thần,’ vị tỳ khưu chánh niệm không nên chấp thủ bất cứ điều gì trong toàn thể thế gian.”
Tasmā pajānaṃ na upādiyethāti. Tasmāti tasmā taṃkāraṇā taṃhetu tappaccayā taṃnidānā, etaṃ ādīnavaṃ sampassamāno ādānataṇhāyāti – tasmā. Pajānanti jānanto pajānanto ājānanto vijānanto paṭivijānanto paṭivijjhanto ‘‘sabbe saṅkhārā aniccā’’ti…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti jānanto pajānanto ājānanto vijānanto paṭivijānanto paṭivijjhanto. Na upādiyethāti rūpaṃ nādiyeyya na upādiyeyya na gaṇheyya na parāmaseyya nābhiniviseyya; vedanaṃ…pe… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ… gatiṃ … upapattiṃ… paṭisandhiṃ… bhavaṃ… saṃsāraṃ… vaṭṭaṃ nādiyeyya na upādiyeyya na gaṇheyya na parāmaseyya nābhiniviseyyāti – tasmā pajānaṃ na upādiyetha.
“Therefore, understanding, one should not cling.” “Therefore” means for that reason, because of that cause, seeing this danger in the craving for grasping. Thus: “therefore.” “Understanding” means knowing, understanding, cognizing, discerning, thoroughly understanding, penetrating: “All conditioned things are impermanent”… up to… “Whatever is of the nature to arise, all that is of the nature to cease”—knowing, understanding, cognizing, discerning, thoroughly understanding, penetrating. “One should not cling” means one should not take up form, should not cling, should not grasp, should not misapprehend, should not be intent on; feeling… perception… formations… consciousness… destination… arising… rebirth… becoming… saṃsāra… the round—one should not take up, should not cling, should not grasp, should not misapprehend, should not be intent on. Thus: “therefore, understanding, one should not cling.”
“Do đó, người có trí tuệ không nên chấp thủ” (Tasmā pajānaṃ na upādiyetha). “Do đó” (Tasmā) là do đó, vì lý do đó, vì nguyên nhân đó, vì duyên đó, vì nhân duyên đó, trong khi thấy rõ sự nguy hại này của ái chấp thủ. – (Đây là ý nghĩa của) “do đó.” “Người có trí tuệ” (Pajānaṃ) là người biết, hiểu rõ, nhận biết, phân biệt, thấu hiểu, thông suốt rằng: “Tất cả các hành là vô thường”... v.v... “Bất cứ pháp nào có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có diệt tận,” (là người) biết, hiểu rõ, nhận biết, phân biệt, thấu hiểu, thông suốt. “Không nên chấp thủ” (Na upādiyetha) là không nên nhận lấy, không nên chấp thủ, không nên nắm giữ, không nên bám víu, không nên quyết tâm vào sắc; (không nên nhận lấy, không nên chấp thủ, không nên nắm giữ, không nên bám víu, không nên quyết tâm vào) thọ... v.v... tưởng... các hành... thức... các cõi... sự tái sanh... sự kiết sanh... hữu... luân hồi... vòng luân chuyển. – (Đây là ý nghĩa của) “Do đó, người có trí tuệ không nên chấp thủ.”
Bhikkhu sato kiñcanaṃ sabbaloketi. Bhikkhūti puthujjanakalyāṇako vā bhikkhu, sekkho vā bhikkhu. Satoti catūhi kāraṇehi sato – kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvento sato…pe… so vuccati satoti – bhikkhu sato. Kiñcananti kiñci rūpagataṃ vedanāgataṃ saññāgataṃ saṅkhāragataṃ viññāṇagataṃ. Sabbaloketi sabbaapāyaloke sabbamanussaloke sabbadevaloke sabbakhandhaloke sabbadhātuloke sabbaāyatanaloketi – bhikkhu sato kiñcanaṃ sabbaloke.
“A mindful bhikkhu… anything in all the world.” “Bhikkhu” means either a virtuous ordinary person or a trainee bhikkhu. “Mindful” means mindful in four ways: developing the establishment of mindfulness of the body in the body… up to… he is called mindful. Thus: a mindful bhikkhu. “Anything” means anything pertaining to form, feeling, perception, formations, or consciousness. “In all the world” means in all the world of the states of woe, all the human world, all the deva world, all the world of aggregates, all the world of elements, and all the world of sense bases. Thus: a mindful bhikkhu… anything in all the world.
“Vị tỳ khưu chánh niệm, bất cứ điều gì trong toàn thể thế gian” (Bhikkhu sato kiñcanaṃ sabbaloke). “Tỳ khưu” (Bhikkhu) là vị tỳ khưu thiện phàm phu, hoặc vị tỳ khưu hữu học. “Chánh niệm” (Sato) là chánh niệm do bốn lý do – trong khi tu tập niệm xứ quán thân trên thân, vị ấy có chánh niệm... v.v... người ấy được gọi là người có chánh niệm. – (Đây là ý nghĩa của) “vị tỳ khưu chánh niệm.” “Bất cứ điều gì” (Kiñcanaṃ) là bất cứ điều gì liên quan đến sắc, liên quan đến thọ, liên quan đến tưởng, liên quan đến các hành, liên quan đến thức. “Trong toàn thể thế gian” (Sabbaloke) là trong toàn thể thế gian cõi khổ, trong toàn thể thế gian cõi người, trong toàn thể thế gian cõi trời, trong toàn thể thế gian uẩn, trong toàn thể thế gian giới, trong toàn thể thế gian xứ. – (Đây là ý nghĩa của) “Vị tỳ khưu chánh niệm, bất cứ điều gì trong toàn thể thế gian.”
Ādānasatte iti pekkhamānoti ādānasattā vuccanti ye rūpaṃ ādiyanti upādiyanti gaṇhanti parāmasanti abhinivisanti; vedanaṃ…pe… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ… gatiṃ… upapattiṃ… paṭisandhiṃ… bhavaṃ… saṃsāraṃ… vaṭṭaṃ ādiyanti upādiyanti gaṇhanti parāmasanti abhinivisanti. Itīti padasandhi…pe… padānupubbatāpetaṃ itīti. Pekkhamānoti pekkhamāno dakkhamāno dissamāno passamāno olokayamāno nijjhāyamāno upaparikkhamānoti – ādānasatte iti pekkhamāno.
“Seeing beings attached to grasping.” “Beings attached to grasping” are those who take up, cling to, grasp, misapprehend, and are fixated on form; feeling… perception… formations… consciousness… destination… arising… rebirth… becoming… saṃsāra… the round—they take up, cling to, grasp, misapprehend, and are fixated on. “Thus” is a word-connection… up to… this is the sequence of words. “Seeing” means seeing, observing, discerning, viewing, surveying, considering, or examining. Thus: “seeing beings attached to grasping.”
Trong khi quán xét rằng ‘chúng sanh chấp thủ’: Được gọi là chúng sanh chấp thủ là những vị nào nắm giữ, chấp thủ, cầm lấy, sờ mó, quyết đoán về sắc; ... về thọ ... về tưởng ... về các hành ... về thức ... về sự đi đến ... về sự sanh khởi ... về sự tái sanh ... về sự hiện hữu ... về vòng luân hồi ... về vòng luân chuyển, họ nắm giữ, chấp thủ, cầm lấy, sờ mó, quyết đoán. ‘Iti’ là sự liên kết từ ... ‘iti’ này là sự nối tiếp của từ. ‘Pekkhamāno’ có nghĩa là đang nhìn, đang thấy, đang được thấy, đang quan sát, đang ngắm nhìn, đang chiêm nghiệm, đang quán xét. – (Đây là ý nghĩa của) trong khi quán xét rằng ‘chúng sanh chấp thủ’.
Pajaṃ imaṃ maccudheyye visattanti. Pajāti sattādhivacanaṃ maccudheyyā vuccanti kilesā ca khandhā ca abhisaṅkhārā ca. Pajā maccudheyye māradheyye maraṇadheyye sattā visattā āsattā laggā laggitā palibuddhā. Yathā bhittikhile vā nāgadante vā bhaṇḍaṃ sattaṃ visattaṃ āsattaṃ laggaṃ laggitaṃ palibuddhaṃ, evameva pajā maccudheyye māradheyye maraṇadheyye sattā visattā āsattā laggā laggitā palibuddhāti – pajaṃ imaṃ maccudheyye visattaṃ. Tenāha bhagavā –
“This generation is ensnared in the realm of Death.” “Generation” is a designation for beings. “The realm of Death” refers to the defilements, the aggregates, and the kamma-formations. Beings are ensnared, attached, clinging, and fettered in the realm of Death, the realm of Māra, the realm of mortality. Just as an item of property is ensnared, attached, clinging, and fettered to a wall peg or an elephant’s tusk, so too are beings ensnared, attached, clinging, and fettered in the realm of Death, the realm of Māra, the realm of mortality. Thus: “this generation is ensnared in the realm of Death.” Therefore, the Blessed One said:
Chúng sanh này bị dính mắc trong lãnh vực của tử thần: ‘Pajā’ là từ đồng nghĩa với chúng sanh. Được gọi là lãnh vực của tử thần là các phiền não, các uẩn, và các hành. Chúng sanh bị dính mắc, đặc biệt dính mắc, bám víu, vướng mắc, đặc biệt vướng mắc, bị trói buộc trong lãnh vực của tử thần, trong lãnh vực của ma vương, trong lãnh vực của sự chết. Giống như vật dụng bị dính mắc, đặc biệt dính mắc, bám víu, vướng mắc, đặc biệt vướng mắc, bị trói buộc vào cái chốt trên tường hay vào cái ngà voi, cũng vậy, chúng sanh bị dính mắc, đặc biệt dính mắc, bám víu, vướng mắc, đặc biệt vướng mắc, bị trói buộc trong lãnh vực của tử thần, trong lãnh vực của ma vương, trong lãnh vực của sự chết. – (Đây là ý nghĩa của) chúng sanh này bị dính mắc trong lãnh vực của tử thần. Do đó, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Tasmā pajānaṃ na upādiyetha, bhikkhu sato kiñcanaṃ sabbaloke;
Ādānasatte iti pekkhamāno, pajaṃ imaṃ maccudheyye visatta’’nti.
“Therefore, understanding, a mindful bhikkhu should not cling to anything in all the world, seeing beings attached to grasping and this generation ensnared in the realm of Death.”
‘Vì thế, không nên chấp thủ vào chúng sanh, vị tỳ khưu chánh niệm không chấp thủ bất cứ điều gì trong toàn thể thế gian; trong khi quán xét rằng ‘chúng sanh chấp thủ’, (thấy rằng) chúng sanh này bị dính mắc trong lãnh vực của tử thần.’
Saha gāthāpariyosānā…pe… satthā me bhante bhagavā, sāvakohamasmīti.
Simultaneously with the conclusion of the verse... “Venerable sir, the Blessed One is my Teacher; I am a disciple.”
Cùng với sự kết thúc của bài kệ ... (vị ấy đã nói rằng): ‘Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư của con, con là đệ tử.’
Bhadrāvudhamāṇavapucchāniddeso dvādasamo.
The Exposition of the Questions of the Young Man Bhadrāvudha: The Twelfth.
Phần giải thích câu hỏi của thanh niên Bhadrāvudha, chương thứ mười hai.