Bản dịch
CND 15 — Diễn Giải Kinh Jatukaṇṇī
11. Jatukaṇṇimāṇavapucchāniddesa
(Tôn giả Jatukaṇṇī nói rằng:) “Thưa bậc anh hùng, sau khi con nghe về vị không có ham muốn các dục, con đã đi đến để hỏi vị đã vượt qua dòng lũ, không có ham muốn. Thưa bậc có nhãn quan (trí Toàn Giác) đã được đồng sanh, xin ngài hãy nói về vị thế an tịnh. Thưa đức Thế Tôn, xin ngài hãy nói cho con về điều này đúng theo sự thật.
Bởi vì điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
“ Vị thế này là an tịnh, vị thế này là hảo hạng, tức là sự yên lặng của tất cả các pháp tạo tác, sự buông bỏ tất cả các mầm tái sanh, sự diệt trừ tham ái, sự lìa khỏi luyến ái, sự diệt tận, Niết Bàn .”
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
(Tôn giả Jatukaṇṇī nói rằng:) “Thưa bậc anh hùng, sau khi con nghe về vị không có ham muốn các dục, con đã đi đến để hỏi vị đã vượt qua dòng lũ, không có ham muốn. Thưa bậc có nhãn quan (trí Toàn Giác) đã được đồng sanh, xin ngài hãy nói về vị thế an tịnh. Thưa đức Thế Tôn, xin ngài hãy nói cho con về điều này đúng theo sự thật.
Bởi vì sau khi đã chế ngự các dục, đức Thế Tôn hành xử (các oai nghi) ví như thái dương có sức nóng (chế ngự) trái đất bằng sức nóng. Thưa bậc có tuệ bao la, đối với con là người có tuệ nhỏ nhoi, xin ngài hãy chỉ bảo về Giáo Pháp để con có thể nhận thức sự lìa bỏ đối với sanh và già ở nơi đây. ”
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
Bởi vì sau khi đã chế ngự các dục, đức Thế Tôn hành xử (các oai nghi) ví như thái dương có sức nóng (chế ngự) trái đất bằng sức nóng. Thưa bậc có tuệ bao la, đối với con là người có tuệ nhỏ nhoi, xin ngài hãy chỉ bảo về Giáo Pháp để con có thể nhận thức sự lìa bỏ đối với sanh và già ở nơi đây. ”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Jatukaṇṇī,) ngươi hãy dẹp bỏ sự thèm khát ở các dục để nhìn thấy sự xuất ly là an toàn. Dầu đã được nắm bắt hay đã được vứt bỏ, sự vướng bận chớ có hiện diện đối với ngươi .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
(Đức Thế Tôn nói: “Này Jatukaṇṇī,) ngươi hãy dẹp bỏ sự thèm khát ở các dục để nhìn thấy sự xuất ly là an toàn. Dầu đã được nắm bắt hay đã được vứt bỏ, sự vướng bận chớ có hiện diện đối với ngươi .
Điều (ô nhiễm) nào trước đây (quá khứ), ngươi hãy làm khô héo điều ấy. Chớ có bất cứ điều (ô nhiễm) gì sanh khởi đến ngươi sau này (vị lai). Nếu ngươi sẽ không nắm lấy (điều gì) ở khoảng giữa (hiện tại), ngươi sẽ sống, được an tịnh .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
Điều (ô nhiễm) nào trước đây (quá khứ), ngươi hãy làm khô héo điều ấy. Chớ có bất cứ điều (ô nhiễm) gì sanh khởi đến ngươi sau này (vị lai). Nếu ngươi sẽ không nắm lấy (điều gì) ở khoảng giữa (hiện tại), ngươi sẽ sống, được an tịnh .
Này Bà-la-môn, đối với vị đã xa lìa sự thèm khát ở danh và sắc về mọi phương diện, đối với vị này các lậu hoặc không hiện hữu, bởi vì chúng, con người rơi vào sự thống trị của Tử thần .”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Này Bà-la-môn, đối với vị đã xa lìa sự thèm khát ở danh và sắc về mọi phương diện, đối với vị này các lậu hoặc không hiện hữu, bởi vì chúng, con người rơi vào sự thống trị của Tử thần .”
Cùng với lúc kết thúc câu kệ ngôn, –nt– “Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc đạo sư của con, con là người đệ tử.”
Diễn Giải Kinh Jatukaṇṇī được hoàn tất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tiểu Diễn Giải (Cūḷaniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Virato idha sabbapāpakehi, nirayadukkhaṃ aticca vīriyavā † so;
So vīriyavā padhānavā, vīro tādi pavuccate tathattāti.
Abstaining here from all evil deeds, having transcended the suffering of hell, he is endowed with energy. That one, endowed with energy and the great effort of the path, is a hero; such a one is truly called so.
Vị ấy ở đời này đã từ bỏ tất cả điều ác, đã vượt qua khổ đau của địa ngục, là người có tinh tấn; vị ấy có tinh tấn, có sự nỗ lực, là bậc anh hùng, được gọi là như vậy vì có phẩm chất như thế.
Sutvānahaṃ vīra. Akāmakāminti. Kāmāti uddānato dve kāmā – vatthukāmā ca kilesakāmā ca…pe… ime vuccanti vatthukāmā…pe… ime vuccanti kilesakāmā. Buddhassa bhagavato vatthukāmā pariññātā, kilesakāmā pahīnā. Vatthukāmānaṃ pariññātattā kilesakāmānaṃ pahīnattā bhagavā na kāme kāmeti, na kāme pattheti, na kāme piheti, na kāme abhijappati. Ye kāme kāmenti, kāme patthenti, kāme pihenti, kāme abhijappanti, te kāmakāmino rāgarāgino saññāsaññino. Bhagavā na kāme kāmeti, na kāme pattheti, na kāme piheti, na kāme abhijappati. Tasmā buddho akāmo nikkāmo cattakāmo vantakāmo muttakāmo pahīnakāmo paṭinissaṭṭhakāmo vītarāgo vigatarāgo cattarāgo vantarāgo muttarāgo pahīnarāgo paṭinissaṭṭharāgo nicchāto nibbuto sītibhūto sukhappaṭisaṃvedī brahmabhūtena attanā viharatīti – sutvānahaṃ vīra amakāmakāmiṃ.
“Having heard, O Hero, of the one who desires no desires.” As for 'desires' (kāma), in summary, there are two kinds: sensual objects (vatthukāma) and defilement-desires (kilesakāma)... these are called sensual objects... these are called defilement-desires. For the Buddha, the Blessed One, sensual objects are fully comprehended, and defilement-desires are abandoned. Because sensual objects are fully comprehended and defilement-desires are abandoned, the Blessed One does not desire sensual pleasures, does not long for them, does not yearn for them, and does not speak out of longing for them. Those who desire sensual pleasures, long for them, yearn for them, and speak out of longing for them—they are desire-bound, lustful, bound by perceptions. The Blessed One does not desire sensual pleasures, does not long for them, does not yearn for them, and does not speak out of longing for them. Therefore, the Buddha is without desire, free from longing, has relinquished desire, has expelled desire, is freed from desire, has abandoned desire, has given up desire; he is devoid of passion, without passion, has relinquished passion, has expelled passion, is freed from passion, has abandoned passion, has given up passion; he is without craving, extinguished, cooled, experiencing bliss, and dwells with a self that has become sublime. Thus, “having heard, O Hero, of the one who desires no desires.”
(Trong câu) Sutvānahaṃ vīra. (Về từ) Akāmakāmiṃ. (Về từ) Kāmā, nói tóm lược có hai loại dục: dục đối tượng và dục phiền não… cho đến… những thứ này được gọi là dục đối tượng… cho đến… những thứ này được gọi là dục phiền não. Đối với đức Phật, đấng Thế Tôn, các dục đối tượng đã được liễu tri, các dục phiền não đã được đoạn tận. Do đã liễu tri các dục đối tượng, do đã đoạn tận các dục phiền não, nên đức Thế Tôn không ham muốn các dục, không mong cầu các dục, không khao khát các dục, không ước ao các dục. Những ai ham muốn các dục, mong cầu các dục, khao khát các dục, ước ao các dục, họ là những người ham muốn dục, tham đắm trong ái dục, có nhận thức về ái dục. Đức Thế Tôn không ham muốn các dục, không mong cầu các dục, không khao khát các dục, không ước ao các dục. Do đó, đức Phật là bậc không có dục, không còn dục, đã từ bỏ dục, đã từ khước dục, đã giải thoát khỏi dục, đã đoạn trừ dục, đã xả ly dục, đã ly tham, đã dứt sạch tham, đã từ bỏ tham, đã từ khước tham, đã giải thoát khỏi tham, đã đoạn trừ tham, đã xả ly tham, không còn khao khát, đã tịch tịnh, đã mát mẻ, cảm thọ lạc, sống với tự thân đã trở nên phạm thiên. – (đó là ý nghĩa của) sutvānahaṃ vīra akāmakāmiṃ.
Iccāyasmā jatukaṇṇīti. Iccāti padasandhi…pe… padānupubbatāpetaṃ – iccāti. Āyasmāti piyavacanaṃ sagāravasappatissādhivacanametaṃ āyasmāti. Jatukaṇṇīti tassa brāhmaṇassa gottaṃ saṅkhā samaññā paññatti vohāroti – iccāyasmā jatukaṇṇi.
“Thus, the Venerable Jatukaṇṇi.” As for 'Thus' (iccāti), it is a joining of words... it is a word that indicates the sequence of phrases. As for 'Venerable' (āyasmā), it is an affectionate term, a term of respect and reverence. As for 'Jatukaṇṇi', it is that brahmin’s clan name, his reckoning, designation, concept, and common appellation. Thus: “the Venerable Jatukaṇṇi.”
(Về câu) Iccāyasmā jatukaṇṇīti. (Từ) Iccā là sự nối kết các từ… cho đến… đây là sự nối tiếp của các từ – (đó là ý nghĩa của) iccāti. (Từ) Āyasmā là lời nói thân ái, là cách gọi thể hiện sự kính trọng và tôn kính – (đó là ý nghĩa của) āyasmāti. (Từ) Jatukaṇṇī là họ tộc, là tên gọi, là danh xưng, là khái niệm, là cách gọi thông thường của vị Bà-la-môn ấy – (đó là ý nghĩa của) iccāyasmā jatukaṇṇi.
Oghātigaṃ puṭṭhumakāmamāgamanti. Oghātiganti oghātigaṃ oghaṃ atikkantaṃ samatikkantaṃ vītivattanti – oghātigaṃ. Puṭṭhunti puṭṭhuṃ pucchituṃ yācituṃ ajjhesituṃ pasādetuṃ. Akāmamāgamanti akāmaṃ puṭṭhuṃ nikkāmaṃ cattakāmaṃ vantakāmaṃ muttakāmaṃ pahīnakāmaṃ paṭinissaṭṭhakāmaṃ vītarāgaṃ vigatarāgaṃ cattarāgaṃ vantarāgaṃ muttarāgaṃ pahīnarāgaṃ paṭinissaṭṭharāgaṃ āgamhā āgatamhā upāgatamhā sampattamhā tayā saddhiṃ samāgatamhāti – oghātigaṃ puṭṭhumakāmamāgamaṃ.
We have come to ask the flood-crosser, the desireless one. 'The flood-crosser' means one who has gone beyond the flood, crossed over the flood, completely transcended the flood, and overcome the flood—thus, 'the flood-crosser.' 'To ask' means to inquire, to request, to invite, to propitiate. 'We have come to the desireless one' means: we have come, we have approached, we have arrived, we have come together to the one who is without desire, free from craving, who has abandoned desire, vomited desire, is freed from desire, has discarded desire, has relinquished desire; who is without passion, rid of passion, has cast off passion, has vomited passion, is freed from passion, has discarded passion, has relinquished passion—thus, 'we have come to ask the flood-crosser, the desireless one.'
(Về câu) Oghātigaṃ puṭṭhumakāmamāgamaṃ. (Từ) Oghātigaṃ có nghĩa là bậc đã vượt qua bộc lưu, đã hoàn toàn vượt qua, đã đi qua – (đó là ý nghĩa của) oghātigaṃ. (Từ) Puṭṭhuṃ có nghĩa là để hỏi, để thỉnh cầu, để thỉnh mời, để làm cho hoan hỷ. (Về câu) Akāmamāgamaṃ có nghĩa là (chúng con) đã đến, đã đi đến, đã lại gần, đã đạt đến, đã cùng nhau hội ngộ với ngài để hỏi bậc không có dục, không còn dục, đã từ bỏ dục, đã từ khước dục, đã giải thoát khỏi dục, đã đoạn trừ dục, đã xả ly dục, đã ly tham, đã dứt sạch tham, đã từ bỏ tham, đã từ khước tham, đã giải thoát khỏi tham, đã đoạn trừ tham, đã xả ly tham. – (đó là ý nghĩa của) oghātigaṃ puṭṭhumakāmamāgamaṃ.
Santipadaṃ brūhi sahajanettāti. Santīti ekena ākārena santipi santipadampi † taṃyeva amataṃ nibbānaṃ. Yo so sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘santametaṃ padaṃ, paṇītametaṃ padaṃ, yadidaṃ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbāna’’nti. Athāparenākārena ye dhammā santādhigamāya santiphusanāya santisacchikiriyāya saṃvattanti, seyyathidaṃ – cattāro satipaṭṭhānā cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo – ime vuccanti santipadā. Santipadaṃ tāṇapadaṃ leṇapadaṃ saraṇapadaṃ abhayapadaṃ accutapadaṃ amatapadaṃ nibbānapadaṃ brūhi ācikkhāhi desehi paññapehi paṭṭhapehi vivarāhi vibhajāhi uttānīkarohi pakāsehi. Sahajanettāti nettaṃ vuccati sabbaññutañāṇaṃ. Buddhassa bhagavato nettañca jinabhāvo ca bodhiyā mūle apubbaṃ acarimaṃ ekasmiṃ khaṇe uppanno, tasmā buddho sahajanettoti – santipadaṃ brūhi sahajanetta.
Tell me the state of peace, O one with innate vision. 'Peaceful' refers in one sense to peace itself; the peaceful state is the deathless, Nibbāna. That is, the stilling of all formations, the relinquishment of all substrates of existence, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna. As the Blessed One has said: 'This is the peaceful state, this is the sublime state, namely, the stilling of all formations, the relinquishment of all substrates of existence, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna.' In another sense, the things that conduce to the attainment of peace, the experiencing of peace, the direct realization of peace—namely, the four foundations of mindfulness, the four right exertions, the four bases of spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, and the Noble Eightfold Path—these are called 'the states of peace.' The state of peace is the state of protection, the state of shelter, the state of refuge, the state of fearlessness, the imperishable state, the deathless state, the state of Nibbāna. 'Tell' means speak, explain, teach, make known, establish, reveal, analyze, clarify, and make manifest. 'One with innate vision': 'vision' refers to the all-knowing knowledge. For the Buddha, the Blessed One, his vision and his state as a Victor arose at the foot of the Bodhi tree, neither one before the other, in a single moment; thus, the Buddha is 'one with innate vision'—tell me the state of peace, O one with innate vision.
(Về câu) Santipadaṃ brūhi sahajanettāti. (Từ) Santi, theo một phương diện, cả santi (sự an tịnh) và santipada (trạng thái an tịnh) đều chỉ cho trạng thái bất tử, chính là Niết-bàn. Trạng thái ấy là sự lắng dịu của tất cả các pháp hữu vi, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Niết-bàn. Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: “Trạng thái này là an tịnh, trạng thái này là vi diệu, đó là sự lắng dịu của tất cả các pháp hữu vi, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Niết-bàn.” Lại nữa, theo một phương diện khác, những pháp nào dẫn đến sự chứng đắc an tịnh, sự xúc chạm an tịnh, sự chứng ngộ an tịnh, đó là: bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo tám ngành – những pháp này được gọi là các trạng thái an tịnh. Xin hãy nói về trạng thái an tịnh, trạng thái bảo hộ, trạng thái ẩn náu, trạng thái nương tựa, trạng thái vô úy, trạng thái bất biến, trạng thái bất tử, trạng thái Niết-bàn. Xin hãy nói, hãy chỉ dạy, hãy thuyết giảng, hãy làm cho biết, hãy thiết lập, hãy khai mở, hãy phân tích, hãy làm cho hiển lộ, hãy tuyên thuyết. (Về từ) Sahajanettāti, netta (con mắt) được gọi là trí tuệ toàn giác. Đối với đức Phật, đấng Thế Tôn, con mắt (trí tuệ) và quả vị Chánh Giác đã sanh khởi đồng thời trong cùng một sát-na, không trước không sau, tại cội Bồ-đề. Do đó, đức Phật được gọi là sahajanetto (bậc có con mắt sanh khởi đồng thời). – (đó là ý nghĩa của) santipadaṃ brūhi sahajanetta.
Yathātacchaṃ bhagavā brūhi metanti yathātacchaṃ vuccati amataṃ nibbānaṃ…pe… nirodho nibbānaṃ. Bhagavāti gāravādhivacanaṃ…pe… sacchikā paññatti, yadidaṃ bhagavāti. Brūhi metanti brūhi ācikkhāhi…pe… pakāsehīti – yathātacchaṃ bhagavā brūhi metaṃ. Tenāha so brāhmaṇo –
Regarding the phrase Yathātacchaṃ bhagavā brūhi metaṃ: Yathātacchaṃ (as it truly is) is said of the deathless, Nibbāna... the cessation, Nibbāna. Bhagavā (Blessed One) is a term of respect... a designation made manifest, that is, 'Bhagavā'. Brūhi me taṃ (Tell me this) means: 'Tell me that Nibbāna, declare... reveal it.' Therefore, that brahmin said:
(Về câu) Yathātacchaṃ bhagavā brūhi metaṃ, (từ) yathātacchaṃ được gọi là trạng thái bất tử, Niết-bàn… cho đến… sự đoạn diệt, Niết-bàn. (Từ) Bhagavā là cách gọi thể hiện sự kính trọng… cho đến… danh hiệu Bhagavā này là một chế định được chứng ngộ. (Về câu) Brūhi metaṃ có nghĩa là xin hãy nói, hãy chỉ dạy… cho đến… hãy tuyên thuyết điều ấy cho con. – (đó là ý nghĩa của) yathātacchaṃ bhagavā brūhi metaṃ. Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
‘‘Sutvānahaṃ vīra akāmakāmiṃ, [iccāyasmā jatukaṇṇi]
Oghātigaṃ puṭṭhumakāmamāgamaṃ;
Santipadaṃ brūhi sahajanetta, yathātacchaṃ bhagavā brūhi meta’’nti.
“Having heard, O Hero, of the one free from sensual desire, [thus spoke the venerable Jatukaṇṇi] I have come to question the desireless one who has crossed the flood. O one with the innate eye, tell me the state of peace; tell me this as it truly is, Blessed One.”
“Thưa bậc Anh Hùng, sau khi nghe về bậc không ham muốn dục, [đây là lời của tôn giả Jatukaṇṇi] con đã đến để hỏi bậc đã vượt qua bộc lưu, bậc không có dục; Thưa bậc có con mắt sanh khởi đồng thời, xin hãy nói về trạng thái an tịnh, thưa đức Thế Tôn, xin hãy nói cho con điều ấy đúng như thật.”
66.
66.
66.
Bhagavā hi kāme abhibhuyya iriyati, ādiccova pathaviṃ tejī tejasā;
Parittapaññassa me bhūripañño, ācikkha dhammaṃ yamahaṃ vijaññaṃ;
Jātijarāya idha vippahānaṃ.
The Blessed One indeed moves, having overcome sensual pleasures, like the radiant sun pervading the earth with its brilliance. To me of limited wisdom, O one of vast wisdom, declare the Dhamma that I may know: the abandonment of birth and aging here.
“Quả thật, đức Thế Tôn chế ngự các dục mà hành hoạt, cũng như mặt trời rực rỡ dùng ánh quang huy bao trùm mặt đất; thưa bậc có trí tuệ rộng lớn, xin hãy chỉ dạy cho con là người có trí tuệ nhỏ hẹp, xin hãy chỉ dạy pháp mà con có thể liễu tri, để từ bỏ sanh và già ở đời này.”
Bhagavā hi kāme abhibhuyya iriyatīti. Bhagavāti gāravādhivacanaṃ…pe… sacchikā paññatti, yadidaṃ bhagavāti. Kāmāti uddānato dve kāmā – vatthukāmā ca kilesakāmā ca…pe… ime vuccanti vatthukāmā…pe… ime vuccanti kilesakāmā. Bhagavā vatthukāme parijānitvā kilesakāme pahāya abhibhuyya abhibhavitvā ajjhottharitvā pariyādiyitvā carati viharati iriyati vatteti pāleti yapeti yāpetīti – bhagavā hi kāme abhibhuyya iriyati.
The Blessed One indeed moves, having overcome sensual pleasures: Bhagavā (Blessed One) is a term of respect... a designation made manifest, that is, 'Bhagavā'. Kāmā (sensual pleasures): in summary, there are two kinds of sensual pleasures—sensual objects and sensual defilements... these are called sensual objects... these are called sensual defilements. The Blessed One, having fully understood sensual objects and abandoned sensual defilements—having subdued, overcome, completely overwhelmed, and mastered them—fares, dwells, comports Himself, proceeds, protects, maintains, and sustains His life. Thus, the Blessed One indeed moves, having overcome sensual pleasures.
(Về câu) Bhagavā hi kāme abhibhuyya iriyati. (Từ) Bhagavā là cách gọi thể hiện sự kính trọng… cho đến… danh hiệu Bhagavā này là một chế định được chứng ngộ. (Về từ) Kāmā, nói tóm lược có hai loại dục: dục đối tượng và dục phiền não… cho đến… những thứ này được gọi là dục đối tượng… cho đến… những thứ này được gọi là dục phiền não. Đức Thế Tôn, sau khi liễu tri các dục đối tượng, đoạn trừ các dục phiền não, đã chế ngự, đã chinh phục, đã áp đảo, đã làm chủ rồi đi, trú, hành hoạt, thực hành, duy trì, bảo tồn, tiếp nối. – (đó là ý nghĩa của) bhagavā hi kāme abhibhuyya iriyati.
Ādiccova pathaviṃ tejī tejasāti ādicco vuccati sūriyo †. Pathavī vuccati jagatī †. Yathā sūriyo tejī tejena samannāgato pathaviṃ abhibhuyya abhibhavitvā ajjhottharitvā pariyādiyitvā santāpayitvā sabbaṃ ākāsagataṃ tamagataṃ abhivihacca andhakāraṃ vidhamitvā ālokaṃ dassayitvā ākāse antalikkhe gaganapathe † gacchati, evameva bhagavā ñāṇatejī ñāṇatejena samannāgato sabbaṃ abhisaṅkhārasamudayaṃ…pe… kilesatamaṃ avijjandhakāraṃ vidhamitvā ñāṇālokaṃ dassetvā vatthukāme parijānitvā kilesakāme pahāya abhibhuyya abhibhavitvā ajjhottharitvā pariyādiyitvā madditvā carati viharati iriyati vatteti pāleti yapeti yāpetīti – ādiccova pathaviṃ tejī tejasā.
Regarding 'Ādiccova pathaviṃ tejī tejasā': The sun is called 'ādicca'. The earth is called 'jagatī'. Just as the sun, powerful and endowed with radiance, having oppressed, overwhelmed, completely pervaded, consumed, and scorched the earth, and having destroyed all the gloom in the sky, having dispelled the darkness and revealed the light, travels in the sky, in the atmosphere, on the celestial path; even so, the Blessed One, powerful with wisdom and endowed with the radiance of wisdom, having dispelled the entire origin of formations... the gloom of defilements and the darkness of ignorance, having revealed the light of wisdom, having fully understood sensual objects and abandoned sensual defilements, oppresses, overwhelms, completely pervades, consumes, and crushes them, and fares, dwells, moves, maintains, protects, subsists, and carries on his life. This is the meaning of 'Ādiccova pathaviṃ tejī tejasā'.
(Như mặt trời rực rỡ chiếu soi trái đất bằng sức nóng). Mặt trời được gọi là ādicca. Trái đất được gọi là jagatī. Giống như mặt trời, có uy lực, đầy đủ sức nóng, đã chế ngự, áp đảo, bao trùm, chiếm đoạt, làm cho nóng bức trái đất, đã phá tan tất cả bóng tối trong hư không, đã xua tan bóng đêm, đã hiển thị ánh sáng, và di chuyển trên bầu trời, trong không trung, trên đường đi của chư thiên; cũng vậy, Đức Thế Tôn, có uy lực trí tuệ, đầy đủ uy lực trí tuệ, đã xua tan tất cả sự sanh khởi của các hành... cho đến... phiền não tối tăm, vô minh hắc ám, đã hiển thị ánh sáng trí tuệ, đã liễu tri các dục trưởng dưỡng, đã từ bỏ các dục phiền não, đã chế ngự, áp đảo, bao trùm, chiếm đoạt, nhiếp phục, Ngài đi, trú, cử động, duy trì, bảo hộ, nuôi mạng, làm cho nuôi mạng – (như vậy là ý nghĩa của câu) như mặt trời rực rỡ chiếu soi trái đất bằng sức nóng.
Parittapaññassa me bhūripaññoti ahamasmi parittapañño omakapañño lāmakapañño chatukkapañño. Tvampi mahāpañño puthupañño hāsapañño javanapañño tikkhapañño nibbedhikapañño. Bhūri vuccati pathavī. Bhagavā tāya pathavisamāya paññāya vipulāya vitthatāya samannāgatoti – parittapaññassa me bhūripañño.
Regarding 'Parittapaññassa me bhūripañño': I am of limited wisdom, of inferior wisdom, of base wisdom, of paltry wisdom. You, however, are of great wisdom, of extensive wisdom, of joyful wisdom, of swift wisdom, of sharp wisdom, of penetrating wisdom. The earth is called 'bhūri'. The Blessed One is endowed with wisdom similar to the earth. Thus, this is the meaning of 'parittapaññassa me bhūripañño'.
(Đối với con là kẻ trí tuệ nhỏ hẹp, Ngài là bậc trí tuệ rộng lớn). Tôi là người có trí tuệ nhỏ hẹp, trí tuệ thấp kém, trí tuệ tồi tệ, trí tuệ yếu ớt. Còn Ngài có trí tuệ vĩ đại, trí tuệ rộng lớn, trí tuệ hoan hỷ, trí tuệ nhanh nhạy, trí tuệ sắc bén, trí tuệ xuyên thấu. Đất được gọi là bhūri. Đức Thế Tôn đầy đủ trí tuệ rộng lớn, bao la như trái đất ấy – (như vậy là ý nghĩa của câu) đối với con là kẻ trí tuệ nhỏ hẹp, Ngài là bậc trí tuệ rộng lớn.
Ācikkha dhammaṃ yamahaṃ vijaññanti. Dhammanti ādikalyāṇaṃ majjhekalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ sātthaṃ sabyañjanaṃ kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ, cattāro satipaṭṭhāne…pe… nibbānañca nibbānagāminiñca paṭipadaṃ ācikkhāhi desehi paññapehi paṭṭhapehi vivarāhi vibhajāhi uttānīkarohi pakāsehi. Yamahaṃ vijaññanti yamahaṃ jāneyyaṃ ājāneyyaṃ vijāneyyaṃ paṭijāneyyaṃ paṭivijjheyyaṃ adhigaccheyyaṃ phasseyyaṃ sacchikareyyanti – ācikkha dhammaṃ yamahaṃ vijaññaṃ.
Regarding 'Ācikkha dhammaṃ yamahaṃ vijaññaṃ': 'Dhammaṃ' means the holy life which is good in the beginning, good in the middle, and good in the end, complete with meaning and phrasing, entirely perfect, and purified; the four foundations of mindfulness... Nibbāna and the path leading to Nibbāna. Declare it, teach it, make it known, establish it, reveal it, analyze it, make it plain, and illuminate it. 'Yamahaṃ vijaññaṃ' means: that which I may know, understand, discern, recognize, penetrate, attain, contact, and realize for myself. Thus, this is the meaning of 'ācikkha dhammaṃ yamahaṃ vijaññaṃ'.
(Xin hãy chỉ dạy Pháp để con có thể liễu tri). Pháp là phạm hạnh toàn hảo, thanh tịnh, tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, tốt đẹp ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; là bốn niệm xứ... cho đến... Niết-bàn và con đường đưa đến Niết-bàn, xin hãy chỉ dạy, thuyết giảng, làm cho biết, thiết lập, khai mở, phân tích, làm cho rõ ràng, tuyên thuyết. (Pháp nào mà con có thể liễu tri) là pháp nào mà con có thể biết, hiểu rõ, thắng tri, liễu tri, chứng ngộ, đạt đến, tiếp xúc, chứng thực – (như vậy là ý nghĩa của câu) xin hãy chỉ dạy Pháp để con có thể liễu tri.
Jātijarāya idha vippahānanti idheva jātijarāya maraṇassa pahānaṃ vūpasamaṃ paṭinissaggaṃ paṭippassaddhiṃ amataṃ nibbānanti – jātijarāya idha vippahānaṃ. Tenāha so brāhmaṇo –
The abandonment of birth and aging here. Here itself is the abandonment of birth, aging, and death, the pacifying, the relinquishment, the stilling, the deathless, Nibbāna—thus, 'the abandonment of birth and aging here.' Therefore, that brahmin said:
(Sự từ bỏ sanh và già ngay tại đây). Ngay tại đây, sự từ bỏ, sự an tịnh, sự xả ly, sự lắng dịu sanh, già, và chết, chính là bất tử, là Niết-bàn – (như vậy là ý nghĩa của câu) sự từ bỏ sanh và già ngay tại đây. Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói:
‘‘Bhagavā hi kāme abhibhuyya iriyati, ādiccova pathaviṃ tejī tejasā;
Parittapaññassa me bhūripañño, ācikkha dhammaṃ yamahaṃ vijaññaṃ;
Jātijarāya idha vippahāna’’nti.
The Blessed One indeed moves having overcome sensual pleasures, like the sun radiant with its light upon the earth; to me of limited wisdom, O one of vast wisdom, explain the Dhamma so that I may understand the abandonment of birth and aging here.
“Quả vậy, Đức Thế Tôn chế ngự các dục mà đi, như mặt trời rực rỡ chiếu soi trái đất bằng sức nóng; Đối với con là kẻ trí tuệ nhỏ hẹp, Ngài là bậc trí tuệ rộng lớn, xin hãy chỉ dạy Pháp để con có thể liễu tri, sự từ bỏ sanh và già ngay tại đây.”
67.
67.
67.
Kāmesu vinaya gedhaṃ, [jatukaṇṇīti bhagavā]
Nekkhammaṃ daṭṭhu khemato;
Uggahitaṃ nirattaṃ vā, mā te vijjittha kiñcanaṃ.
Dispel greed for sensual pleasures, [Jatukaṇṇī, said the Blessed One], seeing renunciation as safety; whether grasped or rejected, let there be no impediment for you.
(Đức Thế Tôn phán): “Này Jatukaṇṇī, hãy nhiếp phục tham ái trong các dục, hãy thấy sự xuất ly là an ổn; Dù là điều đã chấp thủ hay điều đã từ bỏ, mong rằng ngươi không còn chút vướng bận nào.”
Kāmesu vinaya gedhanti. Kāmāti uddānato dve kāmā – vatthukāmā ca kilesakāmā ca…pe… ime vuccanti vatthukāmā…pe… ime vuccanti kilesakāmā. Gedhanti gedho vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Kāmesu vinaya gedhanti kāmesu gedhaṃ vinaya paṭivinaya pajaha vinodehi byantīkarohi anabhāvaṃ gamehīti – kāmesu vinaya gedhaṃ. Jatukaṇṇīti bhagavā taṃ brāhmaṇaṃ gottena ālapati. Bhagavāti gāravādhivacanametaṃ…pe… sacchikā paññatti, yadidaṃ bhagavāti – jatukaṇṇīti bhagavā.
Remove greed for sensual pleasures. By way of summary, there are two kinds of sensual pleasures: sensual pleasures of objects and sensual pleasures of defilements... these are called sensual pleasures of objects... these are called sensual pleasures of defilements. Greed (`gedha`): 'Greed' is a term for craving (`taṇhā`). That lust, passion... covetousness, greed, the unwholesome root. 'Remove greed for sensual pleasures' means: remove, thoroughly remove, abandon, dispel, make an end of, and bring to non-existence the greed for sensual pleasures. 'Jatukaṇṇī': the Blessed One addressed that brahmin by his clan name. 'The Blessed One': this is a term of respect... a true designation, namely, 'the Blessed One'—thus, 'Jatukaṇṇī,' the Blessed One.
(Hãy nhiếp phục tham ái trong các dục). Dục, tóm lại có hai loại dục – dục trưởng dưỡng và dục phiền não... cho đến... những thứ này được gọi là dục trưởng dưỡng... cho đến... những thứ này được gọi là dục phiền não. (Tham ái) được gọi là gedha (sự tham ái). Sự tham, sự đắm say... cho đến... tham lam, tham, là gốc rễ của bất thiện. (Hãy nhiếp phục tham ái trong các dục) có nghĩa là: hãy nhiếp phục, hãy loại trừ, hãy từ bỏ, hãy xua tan, hãy chấm dứt, hãy làm cho không còn tồn tại sự tham ái trong các dục – (như vậy là ý nghĩa của câu) hãy nhiếp phục tham ái trong các dục. (Này Jatukaṇṇī), Đức Thế Tôn gọi vị Bà-la-môn ấy bằng tên dòng họ. (Đức Thế Tôn) 'Bhagavā' là một danh xưng tôn kính... cho đến... là một khái niệm được chứng thực, đó là danh hiệu 'Bhagavā' – (như vậy là ý nghĩa của câu) này Jatukaṇṇī, Đức Thế Tôn (phán).
Nekkhammaṃ daṭṭhu khematoti. Nekkhammanti sammāpaṭipadaṃ anulomapaṭipadaṃ apaccanīkapaṭipadaṃ anvatthapaṭipadaṃ dhammānudhammapaṭipadaṃ sīlesu paripūrakāritaṃ indriyesu guttadvārataṃ bhojane mattaññutaṃ jāgariyānuyogaṃ satisampajaññaṃ cattāro satipaṭṭhāne cattāro sammappadhāne cattāro iddhipāde pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅge ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ nibbānañca nibbānagāminiñca paṭipadaṃ khemato tāṇato leṇato saraṇato saraṇībhūtato abhayato accutato amatato nibbānato daṭṭhuṃ passitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvāti – nekkhammaṃ daṭṭhu khemato.
Seeing renunciation as security. Renunciation means the right practice, the conforming practice, the unopposed practice, the meaningful practice, the practice in accordance with the Dhamma, perfecting the precepts, guarding the sense doors, moderation in eating, devotion to wakefulness, mindfulness and clear comprehension, the four foundations of mindfulness, the four right exertions, the four bases of spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, the Noble Eightfold Path, and Nibbāna and the path leading to Nibbāna—seeing it as security, as protection, as shelter, as refuge, as freedom from fear, as the unshakeable, as the deathless, and as Nibbāna—having seen, weighed, examined, developed, and made manifest—thus, seeing renunciation as security.
(Hãy thấy sự xuất ly là an ổn). Sự xuất ly là chánh đạo, thuận đạo, đạo không đối nghịch, đạo thuận theo mục đích, đạo tùy thuận pháp; là sự viên mãn trong các giới, sự phòng hộ các căn, sự tiết độ trong ăn uống, sự chuyên tâm tỉnh thức, chánh niệm và tỉnh giác, bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo tám ngành, Niết-bàn và con đường đưa đến Niết-bàn. (Hãy thấy) một cách an ổn, như nơi nương tựa, như nơi ẩn náu, như nơi quy y, như nơi trú ẩn, như nơi vô úy, như nơi bất biến, như nơi bất tử, như Niết-bàn; thấy, xem xét, cân nhắc, thẩm định, phát triển, làm cho hiển lộ – (như vậy là ý nghĩa của câu) hãy thấy sự xuất ly là an ổn.
Uggahitaṃ nirattaṃ vāti. Uggahitanti taṇhāvasena diṭṭhivasena gahitaṃ parāmaṭṭhaṃ abhiniviṭṭhaṃ ajjhositaṃ adhimuttaṃ. Nirattaṃ vāti nirattaṃ vā muñcitabbaṃ vijahitabbaṃ vinoditabbaṃ byantīkātabbaṃ anabhāvaṃ gametabbanti – uggahitaṃ nirattaṃ vā.
What has been grasped, or what has been cast off. What has been grasped: 'grasped' means grasped through craving, grasped through views, clung to, strongly adhered to, fixated upon, resolved upon. Or what has been cast off: 'cast off' means to be released, abandoned, rejected, dispelled, eliminated, brought to non-existence—thus, what has been grasped, or what has been cast off.
(Dù là điều đã chấp thủ hay điều đã từ bỏ). Điều đã chấp thủ là điều đã nắm giữ, đã bám víu, đã cố chấp, đã chìm đắm, đã quyết tâm bởi năng lực của ái và kiến. (Hay điều đã từ bỏ) là điều cần được buông bỏ, cần được từ bỏ, cần được xua tan, cần được chấm dứt, cần được làm cho không còn tồn tại – (như vậy là ý nghĩa của câu) dù là điều đã chấp thủ hay điều đã từ bỏ.
Mā te vijjittha kiñcananti rāgakiñcanaṃ dosakiñcanaṃ mohakiñcanaṃ mānakiñcanaṃ diṭṭhikiñcanaṃ kilesakiñcanaṃ duccaritakiñcanaṃ. Idaṃ kiñcanaṃ † tuyhaṃ mā vijjittha mā pavijjittha mā saṃvijjittha pajaha vinodehi byantīkarohi anabhāvaṃ gamehīti – mā te vijjittha kiñcanaṃ. Tenāha bhagavā –
Let nothing be found in you. This refers to the impediment of lust, the impediment of hatred, the impediment of delusion, the impediment of conceit, the impediment of views, the impediment of defilements, the impediment of misconduct. 'Let this impediment not be found in you' means let it not be found, let it not be thoroughly found, let it not be constantly found. Abandon it, dispel it, eliminate it, bring it to non-existence—thus, 'let nothing be found in you.' Therefore the Blessed One said:
(Mong rằng ngươi không còn chút vướng bận nào). Sự vướng bận do tham, sự vướng bận do sân, sự vướng bận do si, sự vướng bận do mạn, sự vướng bận do kiến, sự vướng bận do phiền não, sự vướng bận do ác hạnh. Mong rằng sự vướng bận này không tồn tại, không hiện hữu, không có nơi ngươi; hãy từ bỏ, hãy xua tan, hãy chấm dứt, hãy làm cho nó không còn tồn tại – (như vậy là ý nghĩa của câu) mong rằng ngươi không còn chút vướng bận nào. Vì thế, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Kāmesu vinaya gedhaṃ, [jatukaṇṇīti bhagavā]
Nekkhammaṃ daṭṭhu khemato;
Uggahitaṃ nirattaṃ vā, mā te vijjittha kiñcana’’nti.
“Remove craving for sensual pleasures, [Jatukaṇṇī,” the Blessed One said,] “seeing renunciation as security. Whether grasped or cast off, let nothing be found in you.”
“Này Jatukaṇṇī, hãy nhiếp phục tham ái trong các dục, hãy thấy sự xuất ly là an ổn; Dù là điều đã chấp thủ hay điều đã từ bỏ, mong rằng ngươi không còn chút vướng bận nào.”
68.
68.
68.
Yaṃ pubbe taṃ visosehi, pacchā te māhu kiñcanaṃ;
Majjhe ce no gahessasi, upasanto carissasi.
“Do not be attached to what is past, let nothing be for you in the future. If you do not grasp in the middle, you will wander peacefully.”
“Cái gì ở quá khứ, hãy làm cho khô cạn, ở tương lai, mong ngươi không còn vướng bận; Nếu ở hiện tại, ngươi không chấp thủ, ngươi sẽ đi lại một cách an tịnh.”
Yaṃ pubbe taṃ visosehīti atīte saṅkhāre ārabbha ye kilesā uppajjeyyuṃ te kilese sosehi visosehi sukkhāpehi visukkhāpehi abījaṃ karohi pajaha vinodehi byantīkarohi anabhāvaṃ gamehīti – evampi yaṃ pubbe taṃ visosehi. Atha vā, ye atītā kammābhisaṅkhārā avipakkavipākā te kammābhisaṅkhāre sosehi visosehi sukkhāpehi visukkhāpehi abījaṃ † karohi pajaha vinodehi byantīkarohi anabhāvaṃ gamehīti – evampi yaṃ pubbe taṃ visosehi.
As for 'Dry up what is past': With regard to past formations, whatever defilements might arise, dry up those defilements, thoroughly dry them up, wither them, thoroughly wither them, make them seedless, abandon them, dispel them, eliminate them, bring them to non-existence. This too is the meaning of the phrase 'Dry up what is past.' Or alternatively: Regarding past volitional formations that have ripened with their results, dry up those volitional formations, thoroughly dry them up, wither them, thoroughly wither them, make them seedless, abandon them, dispel them, eliminate them, bring them to non-existence. This too is the meaning of the phrase 'Dry up what is past.'
“Hãy làm khô héo điều ở trước” có nghĩa là: Duyên theo các hành trong quá khứ, những phiền não nào có thể sanh khởi, hãy làm khô héo những phiền não ấy, hãy làm cho khô héo một cách đặc biệt, hãy làm cho khô cạn, hãy làm cho khô cạn một cách đặc biệt, hãy làm cho không có mầm mống, hãy từ bỏ, hãy loại trừ, hãy làm cho chấm dứt, hãy làm cho đi đến sự không tồn tại. – Như vậy cũng là ý nghĩa của câu: “Hãy làm khô héo điều ở trước”. Hoặc là, những nghiệp hành nào trong quá khứ chưa cho quả chín muồi, hãy làm khô héo những nghiệp hành ấy, hãy làm cho khô héo một cách đặc biệt, hãy làm cho khô cạn, hãy làm cho khô cạn một cách đặc biệt, hãy làm cho không có mầm mống, hãy từ bỏ, hãy loại trừ, hãy làm cho chấm dứt, hãy làm cho đi đến sự không tồn tại. – Như vậy cũng là ý nghĩa của câu: “Hãy làm khô héo điều ở trước”.
Pacchā te māhu kiñcananti pacchā vuccati anāgate saṅkhāre ārabbha rāgakiñcanaṃ dosakiñcanaṃ mohakiñcanaṃ mānakiñcanaṃ diṭṭhikiñcanaṃ kilesakiñcanaṃ duccaritakiñcanaṃ. Idaṃ kiñcanaṃ tuyhaṃ mā ahu mā ahosi mā janesi † mā sañjanesi mābhinibbattesi pajaha vinodehi byantīkarohi anabhāvaṃ gamehīti – pacchā te māhu kiñcanaṃ.
As for 'Let there be no impediment for you in the future': 'In the future' is spoken with regard to future formations, referring to the impediment of lust, the impediment of hatred, the impediment of delusion, the impediment of conceit, the impediment of views, the impediment of defilements, and the impediment of misconduct. Do not create this impediment for yourself, do not generate it, do not produce it, do not bring it into existence. Abandon it, dispel it, eliminate it, bring it to non-existence. This is the meaning of 'Let there be no impediment for you in the future.'
“Về sau, mong rằng không có chướng ngại nào cho ngươi” có nghĩa là: “Về sau” được nói đến là (phiền não) duyên theo các hành trong tương lai, (đó là) chướng ngại tham, chướng ngại sân, chướng ngại si, chướng ngại mạn, chướng ngại tà kiến, chướng ngại phiền não, chướng ngại ác hạnh. Chướng ngại này, mong rằng không có, mong rằng đừng có, mong rằng ngươi đừng làm cho sanh khởi, mong rằng ngươi đừng làm cho phát sanh, mong rằng ngươi đừng làm cho tái sanh đối với ngươi. Hãy từ bỏ, hãy loại trừ, hãy làm cho chấm dứt, hãy làm cho đi đến sự không tồn tại. – (Đây là ý nghĩa của câu:) “Về sau, mong rằng không có chướng ngại nào cho ngươi”.
Majjhe ce no gahessasīti majjhe vuccati paccuppannaṃ rūpaṃ vedanā saññā saṅkhārā viññāṇaṃ. Paccuppanne saṅkhāre taṇhāvasena diṭṭhivasena na gahessasi na taṇhissasi na parāmasissasi na nandissasi nābhinandissasi na ajjhosissasi. Abhinandanaṃ abhivadanaṃ ajjhosānaṃ gāhaṃ parāmāsaṃ abhinivesaṃ pajahissasi vinodessasi byantīkarissasi anabhāvaṃ gamessasīti – majjhe ce no gahessasi.
As for 'If you do not grasp in the middle': 'In the middle' refers to present form, feeling, perception, formations, and consciousness. You will not grasp present formations by means of craving or by means of views; you will not grasp them firmly; you will not misapprehend them; you will not delight in them; you will not greatly delight in them; you will not be attached to them. You will abandon great delight, praising, attachment, grasping, misapprehension, and insistence; you will dispel them, eliminate them, and bring them to non-existence. This is the meaning of 'If you do not grasp in the middle.'
“Và nếu ở giữa ngươi sẽ không nắm giữ” có nghĩa là: “Ở giữa” được nói đến là sắc, thọ, tưởng, các hành, thức ở hiện tại. Đối với các hành ở hiện tại, do năng lực của ái, do năng lực của tà kiến, ngươi sẽ không nắm giữ, sẽ không khao khát, sẽ không chấp thủ sai lầm, sẽ không hoan hỷ, sẽ không quá đỗi hoan hỷ, sẽ không đắm nhiễm. Ngươi sẽ từ bỏ, sẽ loại trừ, sẽ làm cho chấm dứt, sẽ làm cho đi đến sự không tồn tại đối với sự quá đỗi hoan hỷ, sự tán dương, sự đắm nhiễm, sự nắm giữ, sự chấp thủ sai lầm, sự quyết tâm. – (Đây là ý nghĩa của câu:) “Và nếu ở giữa ngươi sẽ không nắm giữ”.
Upasanto carissasīti rāgassa upasamitattā upasanto carissasi, dosassa…pe… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ santattā samitattā upasamitattā vūpasamitattā nijjhātattā nibbutattā vigatattā paṭippassaddhattā santo upasanto vūpasanto nibbuto paṭippassaddho carissasi viharissasi iriyissasi vattissasi pālessasi yapessasi yāpessasīti – upasanto carissasi. Tenāha bhagavā –
As for 'You will wander peacefully': Because lust has been pacified, you will wander peacefully; because hatred… and so on… because all unwholesome volitional formations have been calmed, stilled, pacified, thoroughly pacified, consumed, extinguished, departed, and tranquilized, you will, as one who is calm, pacified, thoroughly pacified, extinguished, and tranquilized, wander, dwell, move about, proceed, maintain, sustain, and continue on. This is the meaning of 'You will wander peacefully.' Therefore, the Blessed One said:
“Ngươi sẽ đi lại trong sự an tịnh” có nghĩa là: Do tham đã được làm cho lắng dịu nên ngươi sẽ đi lại trong sự an tịnh; do sân... do tất cả các bất thiện hành đã được an tịnh, đã được lắng dịu, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho lắng dịu một cách đặc biệt, đã được thiêu đốt, đã được dập tắt, đã được lìa khỏi, đã được làm cho hoàn toàn lắng dịu, nên là người an tịnh, là người lắng dịu, là người lắng dịu một cách đặc biệt, là người tịch tịnh, là người hoàn toàn lắng dịu, ngươi sẽ đi lại, sẽ trú ngụ, sẽ duy trì oai nghi, sẽ xoay vần, sẽ bảo hộ, sẽ duy trì, sẽ làm cho duy trì. – (Đây là ý nghĩa của câu:) “Ngươi sẽ đi lại trong sự an tịnh”. Do đó, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Yaṃ pubbe taṃ visosehi, pacchā te māhu kiñcanaṃ;
Majjhe ce no gahessasi, upasanto carissasī’’ti.
“Dry up what is past, let there be nothing for you in the future. If you do not grasp at what is in the middle, you will go about at peace.”
“Hãy làm khô héo điều ở trước, về sau, mong rằng không có chướng ngại nào cho ngươi; và nếu ở giữa ngươi không nắm giữ, ngươi sẽ đi lại trong sự an tịnh.”
69.
69.
69.
Sabbaso nāmarūpasmiṃ, vītagedhassa brāhmaṇa;
Āsavāssa na vijjanti, yehi maccuvasaṃ vaje.
For the brahmin who is in every way free from craving for name-and-form, there are no taints to be found by which he might come under Death’s sway.
“Này Bà-la-môn, đối với người đã lìa tham ái ở nơi danh và sắc một cách hoàn toàn, các lậu hoặc không hiện hữu, là những thứ mà do chúng người ta đi đến quyền lực của tử thần.”
Sabbaso nāmarūpasmiṃ vītagedhassa brāhmaṇāti. Sabbasoti sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ asesaṃ nissesaṃ pariyādiyanavacanametaṃ sabbasoti. Nāmanti cattāro arūpino khandhā. Rūpanti cattāro ca mahābhūtā catunnañca mahābhūtānaṃ upādāya rūpaṃ. Gedho vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Sabbaso nāmarūpasmiṃ vītagedhassa brāhmaṇāti sabbaso nāmarūpasmiṃ vītagedhassa vigatagedhassa cattagedhassa vantagedhassa muttagedhassa pahīnagedhassa paṭinissaṭṭhagedhassa vītarāgassa vigatarāgassa cattarāgassa vantarāgassa muttarāgassa pahīnarāgassa paṭinissaṭṭharāgassāti – sabbaso nāmarūpasmiṃ vītagedhassa brāhmaṇa.
‘For the brahmin who is in every way free from craving for name-and-form’: ‘In every way’ means completely, in all ways, in all respects, without exception, without remainder; ‘in every way’ is a term signifying exhaustiveness. ‘Name’ refers to the four immaterial aggregates. ‘Form’ refers to the four great elements and the form derived from the four great elements. ‘Gedha’ is said to be craving (taṇhā). That is, lust, passion… covetousness, greed, the unwholesome root. ‘For the brahmin who is in every way free from craving for name-and-form’ means one who, in regard to name-and-form, is in every way free from craving, devoid of craving, has abandoned craving, has vomited craving, is released from craving, has eliminated craving, has relinquished craving; is free from lust, devoid of lust, has abandoned lust, has vomited lust, is released from lust, has eliminated lust, has relinquished lust—thus, ‘for the brahmin who is in every way free from craving for name-and-form’.
(Câu) “Này Bà-la-môn, đối với người đã lìa tham ái ở nơi danh và sắc một cách hoàn toàn” (có nghĩa là): “Một cách hoàn toàn” là hoàn toàn, bằng mọi cách, tất cả, không còn sót lại, không có dư sót. “Một cách hoàn toàn” là từ ngữ có ý nghĩa bao trùm. “Danh” là bốn uẩn vô sắc. “Sắc” là bốn đại chủng và sắc được tạo ra từ bốn đại chủng. “Tham ái” được gọi là ái. Sự tham ái, sự tham ái mãnh liệt... sự tham lam, lòng tham, là cội rễ của bất thiện. “Này Bà-la-môn, đối với người đã lìa tham ái ở nơi danh và sắc một cách hoàn toàn” có nghĩa là: đối với người đã lìa tham ái, đã từ bỏ tham ái, đã xả ly tham ái, đã mửa ra tham ái, đã giải thoát khỏi tham ái, đã đoạn trừ tham ái, đã hoàn toàn xả ly tham ái ở nơi danh và sắc một cách hoàn toàn; đối với người đã lìa tham, đã từ bỏ tham, đã xả ly tham, đã mửa ra tham, đã giải thoát khỏi tham, đã đoạn trừ tham, đã hoàn toàn xả ly tham. – (Đây là ý nghĩa của câu:) “Này Bà-la-môn, đối với người đã lìa tham ái ở nơi danh và sắc một cách hoàn toàn”.
Āsavāssa na vijjantīti. Āsavāti cattāro āsavā – kāmāsavo, bhavāsavo, diṭṭhāsavo, avijjāsavo. Assāti arahato khīṇāsavassa. Na vijjantīti ime āsavā tassa natthi na santi na saṃvijjanti nupalabbhanti pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭippassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhāti – āsavāssa na vijjanti.
‘There are no taints to be found in him’: ‘Taints’ refers to the four taints: the taint of sensuality, the taint of existence, the taint of views, and the taint of ignorance. ‘In him’ refers to the Arahant, one whose taints are destroyed. ‘Are not to be found’ means that for him these taints are not, they do not exist, they are not present, they are not found; they are eliminated, cut off, pacified, tranquilized, incapable of arising again, and burned by the fire of knowledge—thus, ‘there are no taints to be found in him’.
“Các lậu hoặc không hiện hữu đối với vị ấy” (có nghĩa là): “Các lậu hoặc” là bốn lậu hoặc – dục lậu, hữu lậu, kiến lậu, vô minh lậu. “Đối với vị ấy” là đối với bậc A-la-hán, bậc đã tận diệt các lậu hoặc. “Không hiện hữu” có nghĩa là những lậu hoặc này đối với vị ấy không có, không tồn tại, không hiện hữu, không được tìm thấy; chúng đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho hoàn toàn lắng dịu, không có khả năng tái sanh, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. – (Đây là ý nghĩa của câu:) “Các lậu hoặc không hiện hữu đối với vị ấy”.
Yehi maccuvasaṃ vajeti yehi āsavehi maccuno vā vasaṃ gaccheyya, maraṇassa vā vasaṃ gaccheyya, mārapakkhassa vā vasaṃ gaccheyya; te āsavā tassa natthi na santi na saṃvijjanti nupalabbhanti pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭippassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhāti – yehi maccuvasaṃ vaje. Tenāha bhagavā –
‘By which he might come under Death’s sway’: This means by which taints one might come under the sway of Death, or under the sway of mortality, or into the faction of Māra. For him, those taints are not, they do not exist, they are not present, they are not found; they are eliminated, cut off, pacified, tranquilized, incapable of arising again, and burned by the fire of knowledge—thus, ‘by which he might come under Death’s sway.’ Therefore, the Blessed One said:
“Do những (lậu hoặc) ấy người ta đi đến quyền lực của tử thần” có nghĩa là: Do những lậu hoặc nào mà người ta có thể đi đến quyền lực của tử thần, hoặc có thể đi đến quyền lực của cái chết, hoặc có thể đi đến quyền lực của phe ma; những lậu hoặc ấy đối với vị ấy không có, không tồn tại, không hiện hữu, không được tìm thấy; chúng đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho hoàn toàn lắng dịu, không có khả năng tái sanh, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. – (Đây là ý nghĩa của câu:) “Do những (lậu hoặc) ấy người ta đi đến quyền lực của tử thần”. Do đó, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Sabbaso nāmarūpasmiṃ, vītagedhassa brāhmaṇa;
Āsavāssa na vijjanti, yehi maccuvasaṃ vaje’’ti.
For the brahmin who is entirely free from greed in all name-and-form, there exist no taints by which he might come under the sway of Death.
“Này Bà-la-môn, đối với người đã lìa tham ái ở nơi danh và sắc một cách hoàn toàn, các lậu hoặc không hiện hữu, là những thứ mà do chúng người ta đi đến quyền lực của tử thần.”
Saha gāthāpariyosānā…pe… satthā me bhante bhagavā, sāvakohamasmīti.
As soon as the verse ended... “Venerable sir, the Blessed One is my Teacher; I am a disciple.”
Cùng lúc với sự kết thúc của bài kệ... (vân vân)... “Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư của con, con là đệ tử.”
Jatukaṇṇimāṇavapucchāniddeso ekādasamo.
The Exposition on the Questions of the young man Jatukaṇṇi, the Eleventh.
Phần giải thích về câu hỏi của thanh niên Jatukaṇṇi, (chương) thứ mười một.
12. Bhadrāvudhamāṇavapucchāniddeso
12. The Exposition on the Questions of the young man Bhadrāvudha.
12. Phần giải thích về câu hỏi của thanh niên Bhadrāvudha
70.
70.
70.
Okañjahaṃ taṇhacchidaṃ anejaṃ, [iccāyasmā bhadrāvudho]
Nandiñjahaṃ oghatiṇṇaṃ vimuttaṃ;
Kappañjahaṃ abhiyāce sumedhaṃ, sutvāna nāgassa apanamissanti † ito.
I implore the one of good wisdom, who has abandoned the home, cut craving, is unshaken, has abandoned delight, crossed the flood, is liberated, and has abandoned concepts. Having heard the word of the Nāga, they will depart from here.
(Trưởng lão Bhadrāvudha thưa rằng:) “Con xin thỉnh cầu bậc đã từ bỏ nơi nương tựa, đã cắt đứt ái, không còn dao động, đã từ bỏ hỷ lạc, đã vượt qua bộc lưu, đã giải thoát, đã từ bỏ kappa, bậc có trí tuệ tốt đẹp; sau khi nghe lời của bậc Nāga, họ sẽ rời khỏi nơi đây.”
Okañjahaṃ taṇhacchidaṃ anejanti. Okañjahanti rūpadhātuyā yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upāyupādānā † cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā, te buddhassa bhagavato pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā. Tasmā buddho okañjaho. Vedanādhātuyā…pe… saññādhātuyā… saṅkhāradhātuyā… viññāṇadhātuyā yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upāyupādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā, te buddhassa bhagavato pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā. Tasmā buddho okañjaho.
‘He has abandoned the home, cut craving, and is unshaken.’ Herein, ‘he has abandoned the home’ means: whatever desire, passion, delight, craving, approaches and clingings, mental determinations, adherences, and underlying tendencies there are regarding the form element, these have been abandoned by the Buddha, the Blessed One, cut off at the root, made like a palm-tree stump, brought to non-existence, and are of a nature not to arise in the future. Therefore, the Buddha is one who has abandoned the home. Likewise, regarding the feeling element… the perception element… the formations element… the consciousness element, whatever desire, passion, delight, craving, approaches and clingings, mental determinations, adherences, and underlying tendencies there are, these have been abandoned by the Buddha, the Blessed One, cut off at the root, made like a palm-tree stump, brought to non-existence, and are of a nature not to arise in the future. Therefore, the Buddha is one who has abandoned the home.
(Câu) “Bậc đã từ bỏ nơi nương tựa, đã cắt đứt ái, không còn dao động” (có nghĩa là): “Bậc đã từ bỏ nơi nương tựa” có nghĩa là: ở nơi sắc giới, những dục, tham, hỷ, ái, những phương tiện và chấp thủ, những sự quyết định, thiên kiến, và tùy miên của tâm nào, những thứ ấy đã được đức Phật, đức Thế Tôn, đoạn trừ, cắt đứt tận gốc, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không còn tồn tại, có trạng thái không sanh khởi trong tương lai. Do đó, đức Phật là bậc đã từ bỏ nơi nương tựa. Ở nơi thọ giới... (vân vân)... ở nơi tưởng giới... ở nơi hành giới... ở nơi thức giới, những dục, tham, hỷ, ái, những phương tiện và chấp thủ, những sự quyết định, thiên kiến, và tùy miên của tâm nào, những thứ ấy đã được đức Phật, đức Thế Tôn, đoạn trừ, cắt đứt tận gốc, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không còn tồn tại, có trạng thái không sanh khởi trong tương lai. Do đó, đức Phật là bậc đã từ bỏ nơi nương tựa.