Bản dịch
CND 14 — Diễn Giải Kinh Kappa
10. Kappamāṇavapucchāniddesa
(Tôn giả Kappa nói rằng:) “Thưa ngài, xin ngài hãy nói về hòn đảo cho những người đang bị chế ngự bởi sanh và tử, cho những người đang đứng giữa hồ nước, ở dòng lũ có sự nguy hiểm lớn đã được sanh ra. Và xin ngài hãy nói ra cho con về hòn đảo để cho cái (khổ) khác giống như cái (khổ) này không thể xảy ra.”
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: “ Này các tỳ khưu, luân hồi này là không biết điểm khởi đầu. Điểm đầu tiên không được biết đến đối với các chúng sanh – có sự che lấp bởi vô minh, có sự ràng buộc bởi tham ái – đang chạy quanh, đang chuyển dịch. Một thời gian dài lâu như vậy, quả thật, này các tỳ khưu, khổ đau được trải nghiệm, khổ não được trải nghiệm, sự tổn hại được trải nghiệm, các nghĩa trang được tăng thêm. Cho đến chừng ấy, này các tỳ khưu, thật quá đủ để nhàm chán về các pháp tạo tác, quá đủ để xa lìa luyến ái, quá đủ để giải thoát ;” - ‘điểm đầu tiên của luân hồi không được biết đến’ là như vậy.
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
(Tôn giả Kappa nói rằng:) “Thưa ngài, xin ngài hãy nói về hòn đảo cho những người đang bị chế ngự bởi sanh và tử, cho những người đang đứng giữa hồ nước, ở dòng lũ có sự nguy hiểm lớn đã được sanh ra. Và xin ngài hãy nói ra cho con về hòn đảo để cho cái (khổ) khác giống như cái (khổ) này không thể xảy ra.”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Kappa,) Ta sẽ nói với ngươi về hòn đảo cho những người đang bị chế ngự bởi sanh và tử, cho những người đang đứng giữa hồ nước, ở dòng lũ có sự nguy hiểm lớn đã được sanh ra, này Kappa.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
(Đức Thế Tôn nói: “Này Kappa,) Ta sẽ nói với ngươi về hòn đảo cho những người đang bị chế ngự bởi sanh và tử, cho những người đang đứng giữa hồ nước, ở dòng lũ có sự nguy hiểm lớn đã được sanh ra, này Kappa.
Hòn đảo này là không vướng bận, không nắm giữ, không có cái nào khác, Ta gọi cái ấy là ‘Niết Bàn,’ sự đoạn diệt hoàn toàn sanh và tử.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
Hòn đảo này là không vướng bận, không nắm giữ, không có cái nào khác, Ta gọi cái ấy là ‘Niết Bàn,’ sự đoạn diệt hoàn toàn sanh và tử .
Sau khi hiểu thông điều này, những người nào có niệm, đã nhận thức được Giáo Pháp, đã được diệt tắt, những người ấy không đi theo quyền lực của Ma Vương, những người ấy không là nô bộc của Ma Vương.”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
Sau khi hiểu thông điều này, những người nào có niệm, đã nhận thức được Giáo Pháp, đã được diệt tắt, những người ấy không đi theo quyền lực của Ma Vương, những người ấy không là nô bộc của Ma Vương. ”
Cùng với lúc kết thúc câu kệ ngôn, –nt– “Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc đạo sư của con, con là người đệ tử.”
Diễn Giải Kinh Kappa được hoàn tất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tiểu Diễn Giải (Cūḷaniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Kathaṃ saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati? Ettakā jātiyo vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakāni jātisatāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakāni jātisahassāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakāni jātisatasahassāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakā jātikoṭiyo vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakāni jātikoṭisatāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakāni jātikoṭisahassāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti, hevaṃ natthi. Evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakāni jātikoṭisatasahassāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati.
How is the prior limit of saṃsāra not discerned? There is no such limit as: ‘The round has turned for so many births, and beyond that it does not turn’—thus the prior limit of saṃsāra is not discerned. There is no such limit as: ‘The round has turned for so many hundreds of births, and beyond that it does not turn’—thus the prior limit of saṃsāra is not discerned. There is no such limit as: ‘The round has turned for so many thousands of births, and beyond that it does not turn’—thus the prior limit of saṃsāra is not discerned. There is no such limit as: ‘The round has turned for so many hundreds of thousands of births, and beyond that it does not turn’—thus the prior limit of saṃsāra is not discerned. There is no such limit as: ‘The round has turned for so many koṭis of births, and beyond that it does not turn’—thus the prior limit of saṃsāra is not discerned. There is no such limit as: ‘The round has turned for so many hundreds of koṭis of births, and beyond that it does not turn’—thus the prior limit of saṃsāra is not discerned. There is no such limit as: ‘The round has turned for so many thousands of koṭis of births, and beyond that it does not turn’—thus the prior limit of saṃsāra is not discerned. There is no such limit as: ‘The round has turned for so many hundreds of thousands of koṭis of births, and beyond that it does not turn’—thus the prior limit of saṃsāra is not discerned.
Bằng cách nào điểm khởi đầu của vòng luân hồi không được nhận rõ? Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy kiếp sanh, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy trăm kiếp sanh, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy ngàn kiếp sanh, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy trăm ngàn kiếp sanh, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy ức kiếp sanh, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy trăm ức kiếp sanh, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy ngàn ức kiếp sanh, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy trăm ngàn ức kiếp sanh, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ.
Ettakāni vassāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakāni vassasatāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakāni vassasahassāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakāni vassasatasahassāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakā vassakoṭiyo vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakāni vassakoṭisatāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakāni vassakoṭisahassāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakāni vassakoṭisatasahassāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati.
There is no such limit as: ‘The round has turned for so many years, and beyond that it does not turn’—even so, the prior limit of saṃsāra is not discerned. There is no such limit as: ‘The round has turned for so many hundreds of years, and beyond that it does not turn’—even so, the prior limit of saṃsāra is not discerned. There is no such limit as: ‘The round has turned for so many thousands of years, and beyond that it does not turn’—even so, the prior limit of saṃsāra is not discerned. There is no such limit as: ‘The round has turned for so many hundreds of thousands of years, and beyond that it does not turn’—even so, the prior limit of saṃsāra is not discerned. There is no such limit as: ‘The round has turned for so many koṭis of years, and beyond that it does not turn’—even so, the prior limit of saṃsāra is not discerned. There is no such limit as: ‘The round has turned for so many hundreds of koṭis of years, and beyond that it does not turn’—even so, the prior limit of saṃsāra is not discerned. There is no such limit as: ‘The round has turned for so many thousands of koṭis of years, and beyond that it does not turn’—even so, the prior limit of saṃsāra is not discerned. There is no such limit as: ‘The round has turned for so many hundreds of thousands of koṭis of years, and beyond that it does not turn’—even so, the prior limit of saṃsāra is not discerned.
Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy năm, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy trăm năm, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy ngàn năm, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy trăm ngàn năm, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy ức năm, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy trăm ức năm, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy ngàn ức năm, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy trăm ngàn ức năm, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ.
Ettakāni kappāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakāni kappasatāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakāni kappasahassāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakāni kappasatasahassāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakā kappakoṭiyo vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakāni kappakoṭisatāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakāni kappakoṭisahassāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Ettakāni kappakoṭisatasahassāni vaṭṭaṃ vatti, tato paraṃ na vattatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati.
There is no such thing as: ‘The round has turned for so many aeons, and beyond that it does not turn’—thus the prior point of saṃsāra is not discerned. There is no such thing as: ‘The round has turned for so many hundreds of aeons, and beyond that it does not turn’—thus the prior point of saṃsāra is not discerned. There is no such thing as: ‘The round has turned for so many thousands of aeons, and beyond that it does not turn’—thus the prior point of saṃsāra is not discerned. There is no such thing as: ‘The round has turned for so many hundreds of thousands of aeons, and beyond that it does not turn’—thus the prior point of saṃsāra is not discerned. There is no such thing as: ‘The round has turned for so many koṭis of aeons, and beyond that it does not turn’—thus the prior point of saṃsāra is not discerned. There is no such thing as: ‘The round has turned for so many hundreds of koṭis of aeons, and beyond that it does not turn’—thus the prior point of saṃsāra is not discerned. There is no such thing as: ‘The round has turned for so many thousands of koṭis of aeons, and beyond that it does not turn’—thus the prior point of saṃsāra is not discerned. There is no such thing as: ‘The round has turned for so many hundreds of thousands of koṭis of aeons, and beyond that it does not turn’—thus the prior point of saṃsāra is not discerned.
Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy kiếp, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy trăm kiếp, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy ngàn kiếp, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy trăm ngàn kiếp, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy ức kiếp, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy trăm ức kiếp, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy ngàn ức kiếp, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ. Không có chuyện rằng: 'Vòng quay đã diễn ra trong chừng ấy trăm ngàn ức kiếp, và sau đó thì không diễn ra nữa'. Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ.
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘anamataggoyaṃ, bhikkhave, saṃsāro, pubbā koṭi na paññāyati avijjānīvaraṇānaṃ sattānaṃ taṇhāsaṃyojanānaṃ sandhāvataṃ saṃsarataṃ. Evaṃ dīgharattaṃ kho, bhikkhave, dukkhaṃ paccanubhūtaṃ tibbaṃ paccanubhūtaṃ byasanaṃ paccanubhūtaṃ, kaṭasī vaḍḍhitā †. Yāvañcidaṃ, bhikkhave, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṃ alaṃ virajjituṃ alaṃ vimuccitu’’nti. Evampi saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati.
This has been said by the Blessed One: ‘Bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning. A first point is not discerned of beings roaming and wandering on, hindered by ignorance and fettered by craving. Thus, for a long time, bhikkhus, suffering has been experienced, harsh suffering has been experienced, calamity has been experienced, and the cemeteries have swelled. This is enough, bhikkhus, to become disenchanted with all conditioned formations, enough to become dispassionate, enough to be liberated.’ In this way, too, the prior point of saṃsāra is not discerned.
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: "Này các Tỳ khưu, vòng luân hồi này không thể biết được khởi điểm, điểm khởi đầu không được nhận rõ đối với các chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái dục trói buộc, đang vội vã qua lại, đang luân chuyển. Này các Tỳ khưu, như vậy, trong một thời gian dài, các ông đã trải qua khổ đau, đã trải qua (sự khổ) khốc liệt, đã trải qua tai họa, các nghĩa địa đã được vun bồi. Này các Tỳ khưu, chừng ấy là đủ để nhàm chán đối với tất cả các pháp hữu vi, đủ để ly tham, đủ để giải thoát." Ngay cả như vậy, điểm khởi đầu của vòng luân hồi cũng không được nhận rõ.
Kathaṃ saṃsārassa pacchimā koṭi na paññāyati? Ettakā jātiyo vaṭṭaṃ vattissati, tato paraṃ na vattissatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa pacchimā koṭi na paññāyati. Ettakāni jātisatāni, ettakāni jātisahassāni, ettakāni jātisatasahassāni, ettakā jātikoṭiyo, ettakāni jātikoṭisatāni, ettakāni jātikoṭisahassāni, ettakāni jātikoṭisatasahassāni, ettakāni vassāni, ettakāni vassasatāni, ettakāni vassasahassāni, ettakāni vassasatasahassāni, ettakā vassakoṭiyo, ettakāni vassakoṭisatāni, ettakāni vassakoṭisahassāni, ettakāni vassakoṭisatasahassāni, ettakāni kappāni, ettakāni kappasatāni, ettakāni kappasahassāni, ettakāni kappasatasahassāni, ettakā kappakoṭiyo, ettakāni kappakoṭisatāni, ettakāni kappakoṭisahassāni, ettakāni kappakoṭisatasahassāni vaṭṭaṃ vattissati, tato paraṃ na vattissatīti hevaṃ natthi, evampi saṃsārassa pacchimā koṭi na paññāyati. Evampi saṃsārassa purimāpi koṭi na paññāyati, pacchimāpi koṭi na paññāyati, majjheva saṃsāre sattā ṭhitā patiṭṭhitā allīnā upagatā ajjhositā adhimuttāti – majjhe sarasmiṃ tiṭṭhataṃ. Iccāyasmā kappoti. Iccāti padasandhi…pe…. Āyasmāti piyavacanaṃ…pe…. Kappoti tassa brāhmaṇassa nāmaṃ…pe… abhilāpoti – iccāyasmā kappo.
How is the latter end of saṃsāra not discerned? There is no such limit as: ‘The round will turn for so many births, and beyond that it will not turn’; in this way also, the latter end of saṃsāra is not discerned. There is no such limit as: ‘The round will turn for so many hundreds of births… thousands of births… hundreds of thousands of births… koṭis of births… hundreds of koṭis of births… thousands of koṭis of births… hundreds of thousands of koṭis of births… so many years… hundreds of years… thousands of years… hundreds of thousands of years… koṭis of years… hundreds of koṭis of years… thousands of koṭis of years… hundreds of thousands of koṭis of years… so many aeons… hundreds of aeons… thousands of aeons… hundreds of thousands of aeons… koṭis of aeons… hundreds of koṭis of aeons… thousands of koṭis of aeons… hundreds of thousands of koṭis of aeons, and beyond that it will not turn’; in this way also, the latter end of saṃsāra is not discerned. In this way also, its prior end is not discerned and its latter end is not discerned. In the very midst of saṃsāra, beings stand, are established, cling, have resorted to, are settled upon, and are intent upon it—this is the meaning of ‘for those standing in the midst of the lake.’ Thus the venerable Kappa asked.
Làm thế nào mà điểm cuối của luân hồi không được biết đến? Không có sự phân định rằng: ‘Vòng luân hồi sẽ tiếp diễn trong bấy nhiêu kiếp sống, sau đó sẽ không tiếp diễn nữa.’ Do vậy, điểm cuối của luân hồi không được biết đến. Không có sự phân định rằng: ‘Vòng luân hồi sẽ tiếp diễn trong bấy nhiêu trăm kiếp sống, bấy nhiêu ngàn kiếp sống, bấy nhiêu trăm ngàn kiếp sống, bấy nhiêu ức kiếp sống, bấy nhiêu trăm ức kiếp sống, bấy nhiêu ngàn ức kiếp sống, bấy nhiêu trăm ngàn ức kiếp sống; bấy nhiêu năm, bấy nhiêu trăm năm, bấy nhiêu ngàn năm, bấy nhiêu trăm ngàn năm, bấy nhiêu ức năm, bấy nhiêu trăm ức năm, bấy nhiêu ngàn ức năm, bấy nhiêu trăm ngàn ức năm; bấy nhiêu kiếp, bấy nhiêu trăm kiếp, bấy nhiêu ngàn kiếp, bấy nhiêu trăm ngàn kiếp, bấy nhiêu ức kiếp, bấy nhiêu trăm ức kiếp, bấy nhiêu ngàn ức kiếp, bấy nhiêu trăm ngàn ức kiếp, sau đó sẽ không tiếp diễn nữa.’ Do vậy, điểm cuối của luân hồi không được biết đến. Do vậy, điểm đầu của luân hồi cũng không được biết đến, điểm cuối cũng không được biết đến. Chúng sanh đứng, đứng vững, dính mắc, gần gũi, chìm đắm, hướng đến chỉ ở giữa vòng luân hồi. – (Đây là ý nghĩa của) ‘đứng giữa dòng chảy’. (Câu) ‘Iccāyasmā kappo’ (có nghĩa là) ‘Do vậy, Tôn giả Kappa’. ‘Iccā’ là sự kết hợp từ... (v.v)... ‘Āyasmā’ là lời nói thân ái... (v.v)... ‘Kappo’ là tên của vị Bà-la-môn ấy... (v.v)... là cách gọi. – (Do đó có câu) ‘Iccāyasmā kappo’.
Oghe jāte mahabbhayeti kāmoghe bhavoghe diṭṭhoghe avijjoghe jāte sañjāte nibbatte abhinibbatte pātubhūte. Mahabbhayeti jātibhaye jarābhaye byādhibhaye maraṇabhayeti – oghe jāte mahabbhaye.
‘When the flood, a great terror, has arisen’: ‘the flood’ refers to the flood of sensual pleasure, the flood of existence, the flood of views, and the flood of ignorance. ‘Has arisen’ means has been born, has been engendered, has been produced, has been fully produced, has become manifest. ‘A great terror’ refers to the fear of birth, the fear of aging, the fear of illness, and the fear of death. This is the meaning of ‘when the flood, a great terror, has arisen.’
‘Trong bộc lưu đã sanh, có sự kinh sợ lớn’ (nghĩa là): trong dục bộc, hữu bộc, kiến bộc, vô minh bộc đã được sanh ra, được sanh ra hoàn toàn, được thành tựu, được thành tựu trọn vẹn, được biểu hiện. ‘Có sự kinh sợ lớn’ (nghĩa là): có sự kinh sợ về sanh, sự kinh sợ về già, sự kinh sợ về bệnh, sự kinh sợ về chết. – (Đây là ý nghĩa của) ‘trong bộc lưu đã sanh, có sự kinh sợ lớn’.
Jarāmaccuparetānanti jarāya phuṭṭhānaṃ paretānaṃ samohitānaṃ samannāgatānaṃ. Maccunā phuṭṭhānaṃ paretānaṃ samohitānaṃ samannāgatānaṃ, jātiyā anugatānaṃ jarāya anusaṭānaṃ byādhinā abhibhūtānaṃ maraṇena abbhāhatānaṃ atāṇānaṃ aleṇānaṃ asaraṇānaṃ asaraṇībhūtānanti – jarāmaccuparetānaṃ.
‘For those overcome by aging and death’ means: for those affected, overcome, enveloped, and attended by aging; for those met, overcome, enveloped, and attended by death; for those followed by birth, pervaded by aging, overwhelmed by illness, and greatly afflicted by death; who are without protection, without shelter, without refuge, and have become no refuge for others. This is the meaning of the phrase ‘for those overcome by aging and death.’
‘Của những chúng sanh bị già và chết áp bức’ (nghĩa là): những chúng sanh bị già chạm đến, bị áp bức, bị bao vây, bị đầy đủ (bởi già). Những chúng sanh bị chết chạm đến, bị áp bức, bị bao vây, bị đầy đủ (bởi chết); bị sanh đi theo, bị già lan khắp, bị bệnh chinh phục, bị chết đè nén; không có nơi nương tựa, không có nơi ẩn náu, không có nơi quy y, đã trở thành không có nơi quy y. – (Đây là ý nghĩa của) ‘của những chúng sanh bị già và chết áp bức’.
Dīpaṃ pabrūhi mārisāti dīpaṃ tāṇaṃ leṇaṃ saraṇaṃ gatiṃ parāyanaṃ † brūhi ācikkhāhi desehi paññapehi paṭṭhapehi vivarāhi vibhajāhi uttānīkarohi pakāsehi. Mārisāti piyavacanaṃ garuvacanaṃ sagāravasappatissādhivacanametaṃ mārisāti – dīpaṃ pabrūhi mārisa.
‘Tell the island, venerable sir’ means: the island, which is a protection, a shelter, a refuge, a destination, and a final resort—tell, declare, teach, make known, establish, reveal, analyze, clarify, and illuminate it. ‘Venerable sir’ (mārisa) is a term of endearment and a term of respect; this word ‘mārisa’ is an expression with reverence and deference. This is the meaning of the phrase ‘Tell the island, venerable sir.’
‘Xin hãy nói về hòn đảo, thưa ngài’ (nghĩa là): xin hãy nói, hãy chỉ dạy, hãy thuyết giảng, hãy làm cho biết, hãy thiết lập, hãy mở ra, hãy phân tích, hãy làm cho rõ ràng, hãy soi sáng về hòn đảo là nơi nương tựa, nơi ẩn náu, nơi quy y, là nơi đến, là nơi nương nhờ. ‘Mārisa’ (thưa ngài) là lời nói thân ái, lời nói tôn trọng; ‘mārisa’ này là lời nói với sự kính trọng và tuân phục. – (Đây là ý nghĩa của) ‘xin hãy nói về hòn đảo, thưa ngài’.
Tvañca me dīpamakkhāhīti. Tvanti bhagavantaṃ bhaṇati. Dīpamakkhāhīti dīpaṃ tāṇaṃ leṇaṃ saraṇaṃ gatiṃ parāyanaṃ akkhāhi ācikkhāhi desehi paññapehi paṭṭhapehi vivarāhi vibhajāhi uttānīkarohi pakāsehīti – tvañca me dīpamakkhāhi.
‘And you, declare to me the island’ means: ‘you’ refers to the Blessed One. ‘Declare the island’ means: the island—which is a protection, a shelter, a refuge, a destination, and a final resort—declare, explain, teach, make known, establish, reveal, analyze, clarify, and illuminate it. This is the meaning of the phrase ‘And you, declare to me the island.’
‘Và ngài hãy nói cho tôi về hòn đảo’ (nghĩa là): ‘Tvaṃ’ (ngài) là nói đến Đức Thế Tôn. ‘Hãy nói về hòn đảo’ (nghĩa là): xin hãy nói, hãy chỉ dạy, hãy thuyết giảng, hãy làm cho biết, hãy thiết lập, hãy mở ra, hãy phân tích, hãy làm cho rõ ràng, hãy soi sáng về hòn đảo là nơi nương tựa, nơi ẩn náu, nơi quy y, là nơi đến, là nơi nương nhờ. – (Đây là ý nghĩa của) ‘và ngài hãy nói cho tôi về hòn đảo’.
Yathāyidaṃ nāparaṃ siyāti yathayidaṃ dukkhaṃ idheva nirujjheyya vūpasameyya atthaṃ gaccheyya paṭippassambheyya punapaṭisandhikaṃ dukkhaṃ na nibbatteyya, kāmadhātuyā vā rūpadhātuyā vā arūpadhātuyā vā kāmabhave vā rūpabhave vā arūpabhave vā saññābhave vā asaññābhave vā nevasaññānāsaññābhave vā ekavokārabhave vā catuvokārabhave vā pañcavokārabhave vā punagatiyā vā upapattiyā vā paṭisandhiyā vā bhave vā saṃsāre vā vaṭṭe vā na janeyya na sañjaneyya na nibbatteyya nābhinibbatteyya. Idheva nirujjheyya vūpasameyya atthaṃ gaccheyya paṭippassambheyyāti – yathāyidaṃ nāparaṃ siyā. Tenāha so brāhmaṇo –
‘So that there may be no more of this’ means: so that this suffering may cease right here, subside, come to an end, and be finally stilled; and so that the suffering of renewed relinking may not arise—whether in the realm of sensual desire, the realm of form, or the formless realm; whether in sense-sphere existence, form existence, formless existence, existence with perception, existence without perception, or existence of neither-perception-nor-non-perception; whether in one-constituent existence, four-constituent existence, or five-constituent existence; whether in a future destination, an arising, a relinking, an existence, saṃsāra, or the round—may it not be born, not be generated, not arise, and not arise further. May it cease right here, subside, come to an end, and be finally stilled. This is the meaning of the phrase ‘so that there may be no more of this.’ Therefore, that brahmin said:
‘Để cho điều này không còn nữa’ (nghĩa là): để cho khổ này được đoạn diệt, được lắng dịu, đi đến chấm dứt, được an tịnh ngay tại đây; để cho khổ tái sanh không khởi lên nữa; để không sanh, không sanh khởi, không thành tựu, không thành tựu trọn vẹn ở trong Dục giới, hoặc Sắc giới, hoặc Vô Sắc giới; hoặc trong Dục hữu, hoặc Sắc hữu, hoặc Vô Sắc hữu; hoặc trong Tưởng hữu, hoặc Vô Tưởng hữu, hoặc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng hữu; hoặc trong Nhất uẩn hữu, hoặc Tứ uẩn hữu, hoặc Ngũ uẩn hữu; hoặc trong sanh thú, hoặc sự sanh khởi, hoặc sự tái sanh, hoặc cõi hữu, hoặc luân hồi, hoặc vòng luân chuyển. (Để cho khổ) được đoạn diệt, được lắng dịu, đi đến chấm dứt, được an tịnh ngay tại đây. – (Đây là ý nghĩa của) ‘để cho điều này không còn nữa’. Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói –
‘‘Majjhe sarasmiṃ tiṭṭhataṃ, [iccāyasmā kappo]
Oghe jāte mahabbhaye;
Jarāmaccuparetānaṃ, dīpaṃ pabrūhi mārisa;
Tvañca me dīpamakkhāhi, yathāyidaṃ nāparaṃ siyā’’ti.
“For those standing in the midst of the beyond, when the flood has arisen, a great fear; for those overcome by aging and death, declare an island, good sir. And you, explain that island to me, so that this may not be again.”
‘Đối với những chúng sanh đứng giữa dòng chảy, (do vậy, Tôn giả Kappa đã thưa) trong bộc lưu đã sanh, có sự kinh sợ lớn; đối với những chúng sanh bị già và chết áp bức, xin hãy nói về hòn đảo, thưa ngài; và ngài hãy nói cho tôi về hòn đảo, để cho điều này không còn nữa.’
62.
62.
62.
Majjhe sarasmiṃ tiṭṭhataṃ, [kappāti bhagavā]
Oghe jāte mahabbhaye;
Jarāmaccuparetānaṃ, dīpaṃ pabrūmi kappa te.
“For those standing in the midst of the beyond, Kappa, when the flood has arisen and there is great fear, for those overcome by aging and death, I declare to you an island.”
‘Đối với những chúng sanh đứng giữa dòng chảy, (này Kappa, Đức Thế Tôn đã dạy) trong bộc lưu đã sanh, có sự kinh sợ lớn; đối với những chúng sanh bị già và chết áp bức, Ta sẽ nói về hòn đảo cho ngươi, này Kappa.’
Majjhe sarasmiṃ tiṭṭhatanti saro vuccati saṃsāro āgamanaṃ gamanaṃ gamanāgamanaṃ kālaṃ gati bhavābhavo, cuti ca upapatti ca nibbatti ca bhedo ca jāti ca jarā ca maraṇañca. Saṃsārassa purimāpi koṭi na paññāyati, pacchimāpi koṭi na paññāyati. Majjheva saṃsāre sattā ṭhitā patiṭṭhitā allīnā upagatā ajjhositā adhimuttā.
“‘Standing in the midst of the beyond’: ‘the beyond’ (paro) is said to be saṃsāra. This is: going, coming, going and coming, death, destination, greater and lesser existence, passing away and arising, manifestation, dissolution, birth, aging, and death. The prior limit of saṃsāra is not discerned, and the latter limit is not discerned. In the very midst of saṃsāra, beings are standing, established, clinging, attached, settled, and intent.
‘Đối với những chúng sanh đứng giữa dòng chảy’ (nghĩa là): ‘dòng chảy’ được gọi là luân hồi, (tức là) sự đến, sự đi, sự đi và đến, thời gian, sanh thú, các cõi hữu lớn nhỏ, sự chết và sự sanh, sự thành tựu và sự tan rã, sự sanh và sự già và sự chết. Điểm đầu của luân hồi cũng không được biết đến, điểm cuối cũng không được biết đến. Chúng sanh đứng, đứng vững, dính mắc, gần gũi, chìm đắm, hướng đến chỉ ở giữa vòng luân hồi.
Kathaṃ saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati…pe… evaṃ saṃsārassa purimā koṭi na paññāyati. Kathaṃ saṃsārassa pacchimā koṭi na paññāyati…pe… evaṃ saṃsārassa pacchimā koṭi na paññāyati. Evaṃ saṃsārassa purimāpi koṭi na paññāyati, pacchimāpi koṭi na paññāyati. Majjheva saṃsāre sattā ṭhitā patiṭṭhitā allīnā upagatā ajjhositā adhimuttāti – majjhe sarasmiṃ tiṭṭhataṃ. Kappāti bhagavāti. Kappāti bhagavā taṃ brāhmaṇaṃ nāmena ālapati. Bhagavāti gāravādhivacanametaṃ…pe… sacchikā paññatti, yadidaṃ bhagavāti – kappāti bhagavā.
How is the prior limit of saṃsāra not discerned? … Thus, the prior limit of saṃsāra is not discerned. How is the latter limit of saṃsāra not discerned? … Thus, the latter limit of saṃsāra is not discerned. In this way, the prior limit of saṃsāra is not discerned, and the latter limit is also not discerned. In the very midst of saṃsāra, beings are standing, established, clinging, attached, settled, and intent—this is the meaning of ‘standing in the midst of the beyond.’ ‘Kappa,’ said the Blessed One: the Blessed One addresses that brahmin by name. ‘Bhagavā’ (Blessed One) is a term of reverence … it is a designation of truth, that is, ‘Bhagavā.’ Thus: ‘Kappa,’ said the Blessed One.
Làm thế nào mà điểm đầu của luân hồi không được biết đến? ... (v.v)... Do vậy, điểm đầu của luân hồi không được biết đến. Làm thế nào mà điểm cuối của luân hồi không được biết đến? ... (v.v)... Do vậy, điểm cuối của luân hồi không được biết đến. Do vậy, điểm đầu của luân hồi cũng không được biết đến, điểm cuối cũng không được biết đến. Chúng sanh đứng, đứng vững, dính mắc, gần gũi, chìm đắm, hướng đến chỉ ở giữa vòng luân hồi. – (Đây là ý nghĩa của) ‘đứng giữa dòng chảy’. (Câu) ‘Kappāti bhagavā’ (có nghĩa là) ‘Này Kappa, Đức Thế Tôn’. ‘Kappā’ (là) Đức Thế Tôn gọi vị Bà-la-môn ấy bằng tên. ‘Bhagavā’ này là lời nói tôn kính... (v.v)... là một khái niệm thực chứng, đó là ‘Bhagavā’. – (Do đó có câu) ‘Kappāti bhagavā’.
Oghe jāte mahabbhayeti kāmoghe bhavoghe diṭṭhoghe avijjoghe jāte sañjāte nibbatte abhinibbatte pātubhūte. Mahabbhayeti jātibhaye jarābhaye byādhibhaye maraṇabhayeti – oghe jāte mahabbhaye.
“‘When the flood has arisen, a great fear’: this means the flood of sensual desire, the flood of existence, the flood of views, and the flood of ignorance has arisen, originated, come to be, been produced, and appeared. ‘A great fear’ means: the fear of birth, the fear of aging, the fear of sickness, and the fear of death. Thus: ‘when the flood has arisen, a great fear.’”
‘Trong bộc lưu đã sanh, có sự kinh sợ lớn’ (nghĩa là): trong dục bộc, hữu bộc, kiến bộc, vô minh bộc đã được sanh ra, được sanh ra hoàn toàn, được thành tựu, được thành tựu trọn vẹn, được biểu hiện. ‘Có sự kinh sợ lớn’ (nghĩa là): có sự kinh sợ về sanh, sự kinh sợ về già, sự kinh sợ về bệnh, sự kinh sợ về chết. – (Đây là ý nghĩa của) ‘trong bộc lưu đã sanh, có sự kinh sợ lớn’.
Jarāmaccuparetānanti jarāya phuṭṭhānaṃ paretānaṃ samohitānaṃ samannāgatānaṃ, maccunā phuṭṭhānaṃ paretānaṃ samohitānaṃ samannāgatānaṃ jātiyā anugatānaṃ jarāya anusaṭānaṃ byādhinā abhibhūtānaṃ maraṇena abbhāhatānaṃ atāṇānaṃ aleṇānaṃ asaraṇānaṃ asaraṇībhūtānanti – jarāmaccuparetānaṃ.
‘Beset by aging and death’ means: afflicted by aging, oppressed, encompassed, and endowed with it; afflicted by death, oppressed, encompassed, and endowed with it; followed by birth, pervaded by aging, overwhelmed by sickness, struck down by death; without protection, without shelter, without refuge, having become no refuge. This is the meaning of ‘beset by aging and death’.
“Bị già chết chi phối” (Jarāmaccuparetānaṃ) có nghĩa là: Bị già chạm đến, bị chi phối, bị bao vây, bị đi kèm; bị chết chạm đến, bị chi phối, bị bao vây, bị đi kèm; bị sanh đi theo, bị già bám sát, bị bệnh tật áp đảo, bị cái chết đè nặng, không được che chở, không có nơi ẩn náu, không có nơi nương tựa, không trở thành nơi nương tựa. Đây là ý nghĩa của “bị già chết chi phối”.
Dīpaṃ pabrūmi kappa teti dīpaṃ tāṇaṃ leṇaṃ saraṇaṃ gatiṃ parāyanaṃ brūmi ācikkhāmi desemi paññapemi paṭṭhapemi vivarāmi vibhajāmi uttānīkaromi pakāsemīti – dīpaṃ pabrūmi kappa te. Tenāha bhagavā –
‘I declare to you, Kappa, an island’ means: I declare, I tell, I teach, I make known, I establish, I reveal, I analyze, I make clear, and I elucidate the island, which is a protection, a shelter, a refuge, a destination, and a final resort. This is the meaning of ‘I declare to you, Kappa, an island.’ Therefore, the Blessed One said:
“Ta tuyên bố hòn đảo cho ngươi, này Kappa” (Dīpaṃ pabrūmi kappa te) có nghĩa là: Hòn đảo (dīpaṃ) là nơi che chở, nơi ẩn náu, nơi nương tựa, là nơi đến, là nơi nương nhờ. Ta tuyên bố (brūmi) tức là ta nói, ta thuyết, ta trình bày, ta thiết lập, ta khai mở, ta phân tích, ta làm cho rõ ràng, ta hiển thị. Đây là ý nghĩa của “Ta tuyên bố hòn đảo cho ngươi, này Kappa”. Do vậy, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Majjhe sarasmiṃ tiṭṭhataṃ, [kappāti bhagavā]
Oghe jāte mahabbhaye;
Jarāmaccuparetānaṃ, dīpaṃ pabrūmi kappa te’’ti.
“For those standing in the middle of the lake, O Kappa,” said the Blessed One, “when the great and fearful flood has arisen, for those overcome by aging and death, I shall declare an island to you.”
“Giữa dòng nước xiết cho những ai đang đứng, [này Kappa, đức Thế Tôn phán] Khi bộc lưu sanh khởi, nỗi sợ hãi lớn; Cho những ai bị già chết chi phối, Ta tuyên bố hòn đảo cho ngươi, này Kappa.”
63.
63.
63.
Akiñcanaṃ anādānaṃ, etaṃ dīpaṃ anāparaṃ;
Nibbānaṃ iti naṃ brūmi, jarāmaccuparikkhayaṃ.
“Having nothing, without grasping, this is the island with no other beyond. I call it Nibbāna, the destruction of aging and death.”
“Không sở hữu, không chấp thủ, Hòn đảo này, không gì sánh bằng; Ta gọi đó là Nibbāna, Sự đoạn tận của già và chết.”
Akiñcanaṃ anādānanti. Kiñcananti – rāgakiñcanaṃ dosakiñcanaṃ mohakiñcanaṃ mānakiñcanaṃ diṭṭhikiñcanaṃ kilesakiñcanaṃ duccaritakiñcanaṃ; kiñcanappahānaṃ kiñcanavūpasamaṃ † kiñcanapaṭinissaggaṃ † kiñcanapaṭippassaddhiṃ amataṃ nibbānanti – akiñcanaṃ. Anādānanti ādānaṃ vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Ādānappahānaṃ ādānavūpasamaṃ ādānapaṭinissaggaṃ ādānapaṭippassaddhiṃ amataṃ nibbānanti – akiñcanaṃ anādānaṃ.
‘Having nothing, without grasping.’ Herein, ‘having nothing’: `kiñcana` refers to the agitation of lust, the agitation of hatred, the agitation of delusion, the agitation of conceit, the agitation of views, the agitation of defilements, the agitation of misconduct. The abandoning of agitation, the stilling of agitation, the relinquishing of agitation, the complete calming of agitation, the Deathless, Nibbāna—this is ‘having nothing’. ‘Without grasping’: `ādāna` is a term for craving. That is, lust, passion… and so on… covetousness, greed, the unwholesome root. The abandoning of grasping, the stilling of grasping, the relinquishing of grasping, the complete calming of grasping, the Deathless, Nibbāna—this is ‘having nothing, without grasping’.
“Không sở hữu, không chấp thủ” (Akiñcanaṃ anādānaṃ). “Sở hữu” (kiñcanaṃ) là: sự vướng bận của tham, sự vướng bận của sân, sự vướng bận của si, sự vướng bận của mạn, sự vướng bận của tà kiến, sự vướng bận của phiền não, sự vướng bận của ác hạnh. “Không sở hữu” (akiñcanaṃ) là sự từ bỏ các vướng bận, sự làm lắng dịu các vướng bận, sự xả ly các vướng bận, sự làm an tịnh các vướng bận, là bất tử, là Nibbāna. “Không chấp thủ” (anādānaṃ): “Chấp thủ” (ādānaṃ) được gọi là ái dục. Tức là tham, tham luyến... cho đến... tham lam, tham ái, gốc rễ của bất thiện. “Không chấp thủ” là sự từ bỏ chấp thủ, sự làm lắng dịu chấp thủ, sự xả ly chấp thủ, sự làm an tịnh chấp thủ, là bất tử, là Nibbāna. Đây là ý nghĩa của “không sở hữu, không chấp thủ”.
Etaṃ dīpaṃ anāparanti etaṃ dīpaṃ tāṇaṃ leṇaṃ saraṇaṃ gati parāyanaṃ. Anāparanti tamhā paro añño dīpo natthi. Atha kho so evaṃ dīpo aggo ca seṭṭho ca viseṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro cāti – etaṃ dīpaṃ anāparaṃ.
‘This island with no other beyond’ means: this island is a protection, a shelter, a refuge, a destination, and a final resort. ‘With no other beyond’ means: there is no other island beyond it. Indeed, that very island is supreme, excellent, distinguished, preeminent, highest, and sublime. This is the meaning of ‘this island with no other beyond’.
“Hòn đảo này, không gì sánh bằng” (Etaṃ dīpaṃ anāparaṃ) có nghĩa là: Hòn đảo này là nơi che chở, nơi ẩn náu, nơi nương tựa, là nơi đến, là nơi nương nhờ. “Không gì sánh bằng” (anāparaṃ) có nghĩa là không có hòn đảo nào khác vượt hơn hòn đảo ấy. Mà thật vậy, chính hòn đảo ấy là cao cả, là ưu việt, là đặc biệt ưu việt, là chủ yếu, là tối thượng, là cao tột. Đây là ý nghĩa của “Hòn đảo này, không gì sánh bằng”.
Nibbānaṃ iti naṃ brūmīti vānaṃ vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Vānappahānaṃ vānavūpasamaṃ vānapaṭinissaggaṃ vānapaṭippassaddhiṃ amataṃ nibbānaṃ. Itīti padasandhi padasaṃsaggo padapāripūrī akkharasamavāyo byañjanasiliṭṭhatā padānupubbatāpetaṃ – itīti. Brūmīti brūmi ācikkhāmi desemi paññapemi paṭṭhapemi vivarāmi vibhajāmi uttānīkaromi pakāsemīti – nibbānaṃ iti naṃ brūmi.
In the phrase, 'Nibbāna I call it': 'vāna' is said to be craving—that which is lust, intense lust… and so on… covetousness, greed, the unwholesome root. That [Nibbāna] is the abandoning of craving, the stilling of craving, the relinquishing of craving, the complete calming of craving, the Deathless, the departure from craving. The word 'iti' is the connection of words, the intermingling of words, the completion of words, the harmony of syllables, the smoothness of articulation, and the sequence of words. 'I call it' means: I speak, I declare, I teach, I make known, I establish, I disclose, I analyze, I make clear, I illuminate. This is the meaning of the phrase, 'Nibbāna I call it'.
“Ta gọi đó là Nibbāna” (Nibbānaṃ iti naṃ brūmi). “Vāna” được gọi là ái dục. Tức là tham, tham luyến... cho đến... tham lam, tham ái, gốc rễ của bất thiện. (Nibbāna là) sự từ bỏ “vāna”, sự làm lắng dịu “vāna”, sự xả ly “vāna”, sự làm an tịnh “vāna”, là bất tử, là Nibbāna. “Iti” là sự nối kết các từ, sự liên hợp các từ, sự bổ sung cho các từ, sự tập hợp các mẫu tự, sự trôi chảy của các phụ âm; “iti” này là sự đi liền theo sau của từ ngữ. “Ta tuyên bố” (brūmi) có nghĩa là ta nói, ta thuyết, ta trình bày, ta thiết lập, ta khai mở, ta phân tích, ta làm cho rõ ràng, ta hiển thị. Đây là ý nghĩa của “Ta gọi đó là Nibbāna”.
Jarāmaccuparikkhayanti jarāmaraṇassa pahānaṃ vūpasamaṃ paṭinissaggaṃ paṭippassaddhiṃ amataṃ nibbānanti – jarāmaccuparikkhayaṃ. Tenāha bhagavā –
'The complete destruction of aging and death' means: the abandoning, the stilling, the relinquishing, the complete calming of aging and death, the Deathless, the departure from craving (Nibbāna). This is the meaning of 'the complete destruction of aging and death'. Therefore, the Blessed One said:
“Sự đoạn tận của già và chết” (Jarāmaccuparikkhayaṃ) có nghĩa là sự từ bỏ già và chết, sự làm lắng dịu, sự xả ly, sự làm an tịnh, là bất tử, là Nibbāna. Đây là ý nghĩa của “sự đoạn tận của già và chết”. Do vậy, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Akiñcanaṃ anādānaṃ, etaṃ dīpaṃ anāparaṃ;
Nibbānaṃ iti naṃ brūmi, jarāmaccuparikkhaya’’nti.
“Having nothing, grasping at nothing, this is the island unsurpassed; I call it Nibbāna, the complete destruction of aging and death.”
“Không sở hữu, không chấp thủ, Hòn đảo này, không gì sánh bằng; Ta gọi đó là Nibbāna, Sự đoạn tận của già và chết.”
64.
64.
64.
Etadaññāya ye satā, diṭṭhadhammābhinibbutā;
Na te māravasānugā, na te mārassa paddhagū † .
“Those who understand this, the mindful, are extinguished in this very life; they are not subject to Māra, nor do they become Māra's attendants.”
“Những ai chánh niệm, sau khi đã biết điều này, Được tịch tịnh ngay trong hiện tại; Vị ấy không đi dưới quyền lực của Ma, Vị ấy không phải là kẻ tùy tùng của Ma.”
Etadaññāya ye satāti. Etanti amataṃ nibbānaṃ. Yo so sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ. Aññāyāti aññāya jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā, ‘‘sabbe saṅkhārā aniccā’’ti…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ, sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti aññāya jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. Yeti arahanto khīṇāsavā. Satāti catūhi kāraṇehi satā – kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāventā † satā…pe… te vuccanti satāti – etadaññāya ye satā.
In the phrase, 'Having known this, those who are mindful': 'This' refers to the Deathless, Nibbāna—that which is the stilling of all formations, the relinquishing of all substrates of existence, the destruction of craving, dispassion, cessation, the departure from craving (Nibbāna). 'Having known' means: having known, understood, weighed, investigated, developed, and made manifest that, 'All formations are impermanent'… and so on… and that, 'Whatever is of a nature to arise, all that is of a nature to cease'—having known, understood, weighed, investigated, developed, and made manifest. 'Those who' refers to the Arahants whose cankers are destroyed. 'Mindful' means: they are mindful for four reasons—they are mindful from having developed the foundation of mindfulness, the contemplation of the body in the body… and so on… therefore they are called 'mindful'. This is the meaning of the phrase, 'Having known this, those who are mindful'.
“Những ai chánh niệm, sau khi đã biết điều này” (Etadaññāya ye satā). “Điều này” (etaṃ) là bất tử, là Nibbāna. Tức là sự lắng dịu của tất cả các hành, sự xả ly tất cả các sanh y, sự đoạn tận của ái dục, sự ly tham, sự đoạn diệt, Nibbāna. “Sau khi đã biết” (aññāya) có nghĩa là sau khi đã biết, đã nhận thức, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho phát triển, đã làm cho hiển lộ rằng: “Tất cả các hành là vô thường”... cho đến... “Phàm cái gì có sanh khởi, tất cả cái ấy đều có đoạn diệt,” sau khi đã biết, đã nhận thức, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho phát triển, đã làm cho hiển lộ. “Những ai” (ye) là các vị A-la-hán, các bậc lậu tận. “Chánh niệm” (satā) là có chánh niệm do bốn lý do: có chánh niệm do tu tập niệm xứ quán thân nơi thân... cho đến... các vị ấy được gọi là bậc chánh niệm. Đây là ý nghĩa của “Những ai chánh niệm, sau khi đã biết điều này”.
Diṭṭhadhammābhinibbutāti. Diṭṭhadhammāti diṭṭhadhammā ñātadhammā tulitadhammā tīritadhammā vibhūtadhammā vibhāvitadhammā. Abhinibbutāti rāgassa nibbāpitattā nibbutā, dosassa…pe… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ santattā samitattā vūpasamitattā nijjhātattā nibbutattā paṭippassaddhattā santā upasantā vūpasantā nibbutā paṭippassaddhāti – diṭṭhadhammābhinibbutā.
Regarding 'fully cooled in this very life.' 'In this very life' means a Dhamma that is seen, a Dhamma that is known, a Dhamma that is weighed, a Dhamma that is investigated, a Dhamma that is manifest, a Dhamma that is developed. 'Fully cooled' means: because lust is extinguished, they are cooled; because of aversion… because all unwholesome formations are stilled, calmed, fully appeased, burnt up, extinguished, and completely calmed, they are stilled, calmed, fully appeased, cooled, and completely calmed—this is 'fully cooled in this very life'.
“Được tịch tịnh ngay trong hiện tại” (Diṭṭhadhammābhinibbutā). “Thấy pháp” (diṭṭhadhammā) có nghĩa là các pháp đã được thấy, các pháp đã được biết, các pháp đã được cân nhắc, các pháp đã được thẩm xét, các pháp đã được làm cho hiển lộ, các pháp đã được tu tập. “Tịch tịnh” (abhinibbutā) có nghĩa là được tịch tịnh do đã dập tắt tham, do đã dập tắt sân... cho đến... do tất cả các bất thiện hành đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, đã được làm cho hoàn toàn an tịnh, đã được thiêu đốt, đã được dập tắt, đã được hoàn toàn an tịnh; các vị ấy là những bậc lắng dịu, an tịnh, hoàn toàn an tịnh, tịch tịnh, hoàn toàn an tịnh. Đây là ý nghĩa của “Được tịch tịnh ngay trong hiện tại”.
Na te māravasānugāti. Māroti yo so māro kaṇho adhipati antagū namuci pamattabandhu. Na te māravasānugāti na te mārassa vase vattanti, nāpi māro tesu vasaṃ vatteti. Te mārañca mārapakkhañca mārapāsañca mārabaḷisañca † mārāmisañca māravisayañca māranivāsañca māragocarañca mārabandhanañca abhibhuyya abhibhavitvā ajjhottharitvā pariyādiyitvā madditvā caranti viharanti iriyanti vattenti pālenti yapenti yāpentīti – na te māravasānugā.
Regarding 'they are not subject to Māra's sway': 'Māra' means that Māra who is the dark one, the sovereign, the end-maker, Namuci, the kinsman of the heedless. 'They are not subject to Māra's sway' means: they do not proceed under Māra's sway, nor does Māra exercise sway over them. Having overcome, mastered, overwhelmed, completely taken over, and crushed Māra, Māra's faction, Māra's snare, Māra's hook, Māra's bait, Māra's domain, Māra's abode, Māra's pasture, and Māra's bond, they conduct themselves, dwell, maintain their postures, carry on, maintain themselves, sustain themselves, and keep themselves going. This is the meaning of 'they are not subject to Māra's sway'.
“Vị ấy không đi dưới quyền lực của Ma” (Na te māravasānugā). “Ma” (māro) là Ma vương, là Kẻ Đen Tối, là Kẻ Thống Trị, là Kẻ Gây Chết, là Namuci, là Thân Thuộc của kẻ phóng dật. “Vị ấy không đi dưới quyền lực của Ma” có nghĩa là các vị ấy không hành động theo quyền lực của Ma, và Ma cũng không thể áp đặt quyền lực lên các vị ấy. Các vị ấy, sau khi đã chinh phục, đã chế ngự, đã áp đảo, đã tiêu diệt, đã nghiền nát Ma, phe đảng của Ma, cạm bẫy của Ma, lưỡi câu của Ma, mồi nhử của Ma, cảnh giới của Ma, nơi ở của Ma, địa bàn của Ma, và sự trói buộc của Ma, các vị ấy đi, trú, hành động, vận hành, bảo hộ, duy trì, tồn tại. Đây là ý nghĩa của “Vị ấy không đi dưới quyền lực của Ma”.
Na te mārassa paddhagūti na te mārassa paddhā paddhacarā † paricārikā siyā; buddhassa te bhagavato paddhā paddhacarā paricārikā siyāti – na te mārassa paddhagū. Tenāha bhagavā –
Regarding 'nor do they go in Māra’s train': This means they are not Māra’s attendants, retainers, or servants; they are the attendants, retainers, and servants of the Blessed One, the Buddha. This is the meaning of 'nor do they go in Māra’s train'.
“Vị ấy không phải là kẻ tùy tùng của Ma” (Na te mārassa paddhagū) có nghĩa là các vị ấy không phải là kẻ phục dịch, kẻ hầu hạ, kẻ tùy tùng của Ma; các vị ấy là kẻ phục dịch, kẻ hầu hạ, kẻ tùy tùng của đức Phật, đức Thế Tôn. Đây là ý nghĩa của “Vị ấy không phải là kẻ tùy tùng của Ma”. Do vậy, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Etadaññāya ye satā, diṭṭhadhammābhinibbutā;
Na te māravasānugā, na te mārassa paddhagū’’ti.
Therefore the Blessed One said: 'Those who understand this, the mindful, fully cooled in this very life, are not subject to Māra, nor do they go in Māra’s train.'
“Những ai chánh niệm, sau khi đã biết điều này, Được tịch tịnh ngay trong hiện tại; Vị ấy không đi dưới quyền lực của Ma, Vị ấy không phải là kẻ tùy tùng của Ma.”
Saha gāthāpariyosānā…pe… satthā me bhante bhagavā, sāvakohamasmīti.
At the end of the verses…the Blessed One, venerable sir, is my Teacher; I am his disciple.
Ngay khi các câu kệ vừa kết thúc... cho đến... “Bạch Thế Tôn, Ngài là bậc Đạo Sư của con, con là đệ tử.”
Kappamāṇavapucchāniddeso dasamo.
The Exposition of the Questions of Kappa the Young Man: The Tenth.
Phần giải thích câu hỏi của thanh niên Kappa, phẩm thứ mười.