Bản dịch
CND 12 — Diễn Giải Kinh Hemaka
8. Hemakamāṇavapucchāniddesa
(Tôn giả Hemaka nói rằng:) “Những người nào trước đây đã giải thích cho con khác với lời dạy của Gotama (nói rằng): ‘Đã là như vầy, sẽ là như vầy,’ mọi điều ấy đều do nghe nói lại theo truyền thống, mọi điều ấy đều là sự tăng trưởng suy nghĩ, con không thích thú về điều ấy.
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
(Tôn giả Hemaka nói rằng:) “Những người nào trước đây đã giải thích cho con khác với lời dạy của Gotama (nói rằng): ‘Đã là như vầy, sẽ là như vầy,’ mọi điều ấy đều do nghe nói lại theo truyền thống, mọi điều ấy đều là sự tăng trưởng suy nghĩ, con không thích thú về điều ấy .
Và xin ngài hãy nói ra cho con về pháp diệt trừ tham ái, thưa bậc hiền trí; sau khi hiểu pháp ấy, con có niệm, trong khi sống, có thể vượt qua sự vướng mắc ở thế gian.”
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
Và xin ngài hãy nói ra cho con về pháp diệt trừ tham ái, thưa bậc hiền trí; sau khi hiểu pháp ấy, con có niệm, trong khi sống, có thể vượt qua sự vướng mắc ở thế gian. ”
“ Ở đây, sự xua đi mong muốn và luyến ái ở các vật có vẻ đáng yêu đã được thấy, đã được nghe, đã được cảm giác, đã được nhận thức, này Hemaka, là vị thế Niết Bàn, Bất Hoại .”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Ở đây, sự xua đi mong muốn và luyến ái ở các vật có vẻ đáng yêu đã được thấy, đã được nghe, đã được cảm giác, đã được nhận thức, này Hemaka, là vị thế Niết Bàn, Bất Hoại .”
“ Sau khi hiểu thông điều này, những người nào có niệm, đã nhận thức được Giáo Pháp, đã được diệt tắt, và những người ấy luôn luôn yên tịnh, họ đã vượt qua sự vướng mắc ở thế gian. ”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Sau khi hiểu thông điều này, những người nào có niệm, đã nhận thức được Giáo Pháp, đã được diệt tắt, và những người ấy luôn luôn yên tịnh, họ đã vượt qua sự vướng mắc ở thế gian .”
Cùng với lúc kết thúc câu kệ ngôn, –nt– “Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc đạo sư của con, con là người đệ tử.”
Diễn Giải Kinh Hemaka được hoàn tất .
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tiểu Diễn Giải (Cūḷaniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Tvañca me dhammamakkhāhīti. Tvanti bhagavantaṃ bhaṇati. Dhammamakkhāhīti. Dhammanti ādikalyāṇaṃ majjhekalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ sātthaṃ sabyañjanaṃ kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ, cattāro satipaṭṭhāne cattāro sammappadhāne cattāro iddhipāde pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅge ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ nibbānañca nibbānagāminiñca paṭipadaṃ akkhāhi ācikkhāhi desehi paññapehi paṭṭhapehi vivarāhi vibhajāhi uttānīkarohi pakāsehīti – tvañca me dhammamakkhāhi.
Regarding the phrase 'And you, declare the Dhamma to me.' 'You' refers to the Blessed One. Regarding the phrase 'declare the Dhamma': 'Dhamma' means the holy life which is beautiful in the beginning, beautiful in the middle, and beautiful in the end, with its meaning and phrasing, wholly complete and perfectly pure; it means the four foundations of mindfulness, the four right strivings, the four bases of spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, the Noble Eightfold Path, Nibbāna, and the practice leading to Nibbāna. 'Declare, tell, teach, make known, establish, reveal, analyze, make plain, and make manifest [this Dhamma].' This is the meaning of 'And you, declare the Dhamma to me.'
Và Ngài, xin hãy thuyết giảng Pháp cho tôi: ‘Ngài’ là nói đến Đức Thế Tôn. Xin hãy thuyết giảng Pháp: ‘Pháp’ là phạm hạnh tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa, có văn cú, toàn hảo, viên mãn, thanh tịnh; là bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo tám ngành, và Niết-bàn, và con đường đưa đến Niết-bàn. Xin hãy thuyết giảng, chỉ dạy, trình bày, tuyên bố, thiết lập, khai mở, phân tích, làm cho rõ ràng, hiển thị – (đây là ý nghĩa của) và Ngài, xin hãy thuyết giảng Pháp cho tôi.
Taṇhānigghātanaṃ munīti. Taṇhāti – rūpataṇhā…pe… dhammataṇhā. Taṇhānigghātanaṃ taṇhāpahānaṃ taṇhāvūpasamaṃ taṇhāpaṭinissaggaṃ taṇhāpaṭippassaddhiṃ amataṃ nibbānaṃ. Munīti monaṃ vuccati ñāṇaṃ…pe… saṅgajālamaticca so munīti – taṇhānigghātanaṃ muni.
Regarding the phrase 'the destruction of craving, O Sage.' 'Craving' means craving for forms... and so on... craving for mental phenomena. 'The destruction of craving' means the destruction of craving, the abandoning of craving, the stilling of craving, the relinquishing of craving, the pacification of craving, the Deathless, Nibbāna. Regarding 'Sage': knowledge is called 'mona' (wisdom)... and so on... having transcended the net of attachment, he is a sage. This is the meaning of 'the destruction of craving, O Sage.'
Pháp đoạn trừ ái dục, hỡi bậc Mâu-ni: ‘Ái’ là sắc ái… cho đến… pháp ái. ‘Đoạn trừ ái dục’ là sự đoạn trừ ái, sự từ bỏ ái, sự làm lắng dịu ái, sự xả ly ái, sự làm an tịnh ái, là bất tử, là Niết-bàn. ‘Bậc Mâu-ni’: trí tuệ được gọi là ‘mouna’… vượt qua lưới tham ái, vị ấy là bậc Mâu-ni – (đây là ý nghĩa của) Pháp đoạn trừ ái dục, hỡi bậc Mâu-ni.
Yaṃ viditvā sato caranti yaṃ viditaṃ katvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. ‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti viditaṃ katvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā, ‘‘sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti…pe… ‘‘sabbe dhammā anattā’’ti…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti viditaṃ katvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. Satoti catūhi kāraṇehi sato – kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvento sato…pe… so vuccati sato. Caranti caranto viharanto iriyanto vattento pālento yapento yāpentoti – yaṃ viditvā sato caraṃ.
“Having known, living mindfully.” Having known, having weighed, having investigated, having developed, having made manifest: “All conditioned formations are impermanent”—having known, having weighed, having investigated, having developed, having made manifest; “All conditioned formations are suffering”... etc. ...“All phenomena are not-self”... etc. ...“Whatever is subject to arising is all subject to cessation”—having known, having weighed, having investigated, having developed, having made manifest. “Mindful” means mindful for four reasons: one developing the foundation of mindfulness, namely, the contemplation of the body in the body... etc. ...such a one is called mindful. “Living” means practicing, dwelling, moving, conducting oneself, maintaining, and developing. This is what is meant by “having known, living mindfully.”
Pháp mà khi biết được, sống chánh niệm: Khi biết được pháp ấy, tức là đã biết, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho phát triển, đã làm cho rõ ràng. Đã biết, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho phát triển, đã làm cho rõ ràng rằng: ‘Tất cả các pháp hữu vi là vô thường’; đã biết, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho phát triển, đã làm cho rõ ràng rằng: ‘Tất cả các pháp hữu vi là khổ’… cho đến… ‘Tất cả các pháp là vô ngã’… cho đến… đã biết, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho phát triển, đã làm cho rõ ràng rằng: ‘Bất cứ pháp nào có bản chất sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có bản chất đoạn diệt’. ‘Chánh niệm’: có chánh niệm do bốn lý do – trong khi tu tập niệm xứ quán thân trong thân, vị ấy có chánh niệm… cho đến… vị ấy được gọi là người có chánh niệm. ‘Sống’: là đang thực hành, đang trú, đang đi, đang hành xử, đang hộ trì, đang duy trì, đang bảo dưỡng – (đây là ý nghĩa của) pháp mà khi biết được, sống chánh niệm.
Tare loke visattikanti visattikā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Visattikāti kenaṭṭhena visattikā…pe… visaṭā vitthatāti visattikā. Loketi apāyaloke manussaloke devaloke khandhaloke dhātuloke āyatanaloke. Tare loke visattikanti loke vesā visattikā loke vetaṃ visattikaṃ sato tareyyaṃ uttareyyaṃ patareyyaṃ samatikkameyyaṃ vītivatteyyanti – tare loke visattikaṃ. Tenāha so brāhmaṇo –
“May cross over attachment in the world.” “Attachment” is called craving. That which is passion, intense passion... etc. ...covetousness, greed, an unwholesome root. “Attachment”—in what sense is it “attachment?”... etc. ...it is spread out, extensive. Thus it is “attachment.” “The world” means the world of the lower realms, the human world, the world of elements, the world of sense-bases. “May cross over attachment in the world” means: in the world, this attachment, this attachment in the world—mindful, one should cross over, ascend, get across, overcome, go beyond. This is what is meant by “may cross over attachment in the world.” Therefore, that brahmin said:
Có thể vượt qua sự dính mắc trong thế gian: Ái được gọi là sự dính mắc. Sự tham ái, sự tham ái mãnh liệt… cho đến… tham lam, tham, căn bất thiện. ‘Sự dính mắc’: vì ý nghĩa gì mà là sự dính mắc?… cho đến… vì nó lan rộng, nó trải khắp, nên là sự dính mắc. ‘Trong thế gian’: là trong cõi khổ, cõi người, cõi trời, trong thế gian uẩn, thế gian giới, thế gian xứ. ‘Có thể vượt qua sự dính mắc trong thế gian’: có chánh niệm, người ấy có thể vượt qua, vượt lên trên, vượt thoát, vượt hẳn, vượt qua khỏi sự dính mắc ấy trong thế gian, sự bám víu ấy trong thế gian – (đây là ý nghĩa của) có thể vượt qua sự dính mắc trong thế gian. Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
‘‘Tvañca me dhammamakkhāhi, taṇhānigghātanaṃ muni;
Yaṃ viditvā sato caraṃ, tare loke visattika’’nti.
“You, O sage, declare to me the Dhamma, the destroyer of craving, which having known, living mindfully, I may cross over attachment in the world.”
‘Và Ngài, xin hãy thuyết giảng Pháp cho tôi, hỡi bậc Mâu-ni, Pháp đoạn trừ ái dục; Pháp mà khi biết được, sống chánh niệm, có thể vượt qua sự dính mắc trong thế gian.’
55.
55.
55.
Idha diṭṭhasutamutaviññātesu, piyarūpesu hemaka;
Chandarāgavinodanaṃ, nibbānapadamaccutaṃ.
Here, O Hemaka, in what is seen, heard, sensed, and cognized, in agreeable forms—the dispelling of desire-passion is the deathless state of Nibbāna.
(Đức Thế Tôn phán:) Này Hemaka, ở đây, đối với các sắc tướng khả ái trong những gì được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận thức, sự loại trừ dục tham chính là trạng thái Niết-bàn, bất biến.
Idha diṭṭhasutamutaviññātesūti. Diṭṭhanti cakkhunā diṭṭhaṃ; sutanti sotena sutaṃ; mutanti ghānena ghāyitaṃ jivhāya sāyitaṃ kāyena phuṭṭhaṃ; viññātanti manasā viññātanti – idha diṭṭhasutamutaviññātesu.
“Here, in the seen, heard, sensed, and cognized.” “Seen” means seen with the eye; “heard” means heard with the ear; “sensed” means smelled with the nose, tasted with the tongue, and felt with the body; “cognized” means cognized with the mind. This is what is meant by “here, in the seen, heard, sensed, and cognized.”
Ở đây, trong những gì được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận thức: ‘Được thấy’ là được thấy bằng mắt; ‘được nghe’ là được nghe bằng tai; ‘được cảm nhận’ là được ngửi bằng mũi, được nếm bằng lưỡi, được chạm bằng thân; ‘được nhận thức’ là được nhận thức bằng ý – (đây là ý nghĩa của) ở đây, trong những gì được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận thức.
Piyarūpesu hemakāti kiñca loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ? Cakkhu † loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, sotaṃ loke…pe… ghānaṃ loke… jivhā loke… kāyo loke… mano loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ; rūpā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, saddā loke… gandhā loke… rasā loke… phoṭṭhabbā loke… dhammā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ; cakkhuviññāṇaṃ loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, sotaviññāṇaṃ loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, ghānaviññāṇaṃ loke… jivhāviññāṇaṃ loke… kāyaviññāṇaṃ loke… manoviññāṇaṃ loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, cakkhusamphasso loke… sotasamphasso loke… ghānasamphasso loke… jivhāsamphasso loke… kāyasamphasso loke… manosamphasso loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ; cakkhusamphassajā vedanā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ… sotasamphassajā vedanā… ghānasamphassajā vedanā… jivhāsamphassajā vedanā… kāyasamphassajā vedanā… manosamphassajā vedanā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ; rūpasaññā loke… saddasaññā loke… gandhasaññā loke… rasasaññā loke… phoṭṭhabbasaññā loke… dhammasaññā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, rūpasañcetanā loke… saddasañcetanā loke… gandhasañcetanā loke… rasasañcetanā loke… phoṭṭhabbasañcetanā loke… dhammasañcetanā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ; rūpataṇhā loke… saddataṇhā loke… gandhataṇhā loke… rasataṇhā loke … phoṭṭhabbataṇhā loke… dhammataṇhā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ; rūpavitakko loke… saddavitakko loke… gandhavitakko loke… rasavitakko loke… phoṭṭhabbavitakko loke… dhammavitakko loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ; rūpavicāro loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, saddavicāro loke… gandhavicāro loke… rasavicāro loke… phoṭṭhabbavicāro loke… dhammavicāro loke piyarūpaṃ sātarūpanti – piyarūpesu hemaka.
Regarding what is dear, Hemaka, what in the world is dear and pleasing? The eye in the world is dear and pleasing, the ear in the world… the nose in the world… the tongue in the world… the body in the world… the mind in the world is dear and pleasing; forms in the world are dear and pleasing, sounds in the world… smells in the world… tastes in the world… tactile objects in the world… mental phenomena in the world are dear and pleasing; eye-consciousness in the world is dear and pleasing, ear-consciousness in the world… nose-consciousness in the world… tongue-consciousness in the world… body-consciousness in the world… mind-consciousness in the world is dear and pleasing; eye-contact in the world… ear-contact in the world… nose-contact in the world… tongue-contact in the world… body-contact in the world… mind-contact in the world is dear and pleasing; feeling born of eye-contact in the world is dear and pleasing… feeling born of ear-contact… feeling born of nose-contact… feeling born of tongue-contact… feeling born of body-contact… feeling born of mind-contact in the world is dear and pleasing; perception of forms in the world… perception of sounds… perception of smells… perception of tastes… perception of tactile objects… perception of mental phenomena in the world is dear and pleasing; volition concerning forms in the world… volition concerning sounds… volition concerning smells… volition concerning tastes… volition concerning tactile objects… volition concerning mental phenomena in the world is dear and pleasing; craving for forms in the world… craving for sounds… craving for smells… craving for tastes… craving for tactile objects… craving for mental phenomena in the world is dear and pleasing; thought concerning forms in the world… thought concerning sounds… thought concerning smells… thought concerning tastes… thought concerning tactile objects… thought concerning mental phenomena in the world is dear and pleasing; examination of forms in the world is dear and pleasing, examination of sounds in the world… examination of smells… examination of tastes… examination of tactile objects… examination of mental phenomena in the world is dear and pleasing—thus, Hemaka, regarding what is dear.
Về câu "Này Hemaka, ở trong các sắc khả ái": Cái gì ở trong đời là sắc khả ái, là sắc khả hỷ? Mắt ở trong đời là sắc khả ái, là sắc khả hỷ; tai ở trong đời... cho đến... mũi ở trong đời... lưỡi ở trong đời... thân ở trong đời... ý ở trong đời là sắc khả ái, là sắc khả hỷ. Sắc ở trong đời là sắc khả ái, là sắc khả hỷ; tiếng ở trong đời... hương ở trong đời... vị ở trong đời... xúc ở trong đời... pháp ở trong đời là sắc khả ái, là sắc khả hỷ. Nhãn thức ở trong đời là sắc khả ái, là sắc khả hỷ; nhĩ thức ở trong đời là sắc khả ái, là sắc khả hỷ; tỷ thức ở trong đời... thiệt thức ở trong đời... thân thức ở trong đời... ý thức ở trong đời là sắc khả ái, là sắc khả hỷ. Nhãn xúc ở trong đời... nhĩ xúc ở trong đời... tỷ xúc ở trong đời... thiệt xúc ở trong đời... thân xúc ở trong đời... ý xúc ở trong đời là sắc khả ái, là sắc khả hỷ. Thọ sanh từ nhãn xúc ở trong đời là sắc khả ái, là sắc khả hỷ... thọ sanh từ nhĩ xúc... thọ sanh từ tỷ xúc... thọ sanh từ thiệt xúc... thọ sanh từ thân xúc... thọ sanh từ ý xúc ở trong đời là sắc khả ái, là sắc khả hỷ. Tưởng về sắc ở trong đời... tưởng về tiếng ở trong đời... tưởng về hương ở trong đời... tưởng về vị ở trong đời... tưởng về xúc ở trong đời... tưởng về pháp ở trong đời là sắc khả ái, là sắc khả hỷ. Tư tâm sở về sắc ở trong đời... tư tâm sở về tiếng ở trong đời... tư tâm sở về hương ở trong đời... tư tâm sở về vị ở trong đời... tư tâm sở về xúc ở trong đời... tư tâm sở về pháp ở trong đời là sắc khả ái, là sắc khả hỷ. Ái về sắc ở trong đời... ái về tiếng ở trong đời... ái về hương ở trong đời... ái về vị ở trong đời... ái về xúc ở trong đời... ái về pháp ở trong đời là sắc khả ái, là sắc khả hỷ. Tầm về sắc ở trong đời... tầm về tiếng ở trong đời... tầm về hương ở trong đời... tầm về vị ở trong đời... tầm về xúc ở trong đời... tầm về pháp ở trong đời là sắc khả ái, là sắc khả hỷ. Tứ về sắc ở trong đời là sắc khả ái, là sắc khả hỷ; tứ về tiếng ở trong đời... tứ về hương ở trong đời... tứ về vị ở trong đời... tứ về xúc ở trong đời... tứ về pháp ở trong đời là sắc khả ái, là sắc khả hỷ – (đây là ý nghĩa của) "Này Hemaka, ở trong các sắc khả ái".
Chandarāgavinodananti. Chandarāgoti yo kāmesu kāmacchando kāmarāgo kāmanandī kāmataṇhā kāmasineho kāmapariḷāho kāmamucchā kāmajjhosānaṃ kāmogho kāmayogo kāmupādānaṃ kāmacchandanīvaraṇaṃ. Chandarāgavinodananti chandarāgappahānaṃ chandarāgavūpasamaṃ chandarāgapaṭinissaggaṃ chandarāgapaṭippassaddhaṃ amataṃ nibbānanti – chandarāgavinodanaṃ.
The removal of desire and lust. ‘Desire and lust’ means: whatever sensual desire, sensual lust, sensual delight, sensual craving, sensual affection, sensual fever, sensual infatuation, absorption in sensual pleasures, the flood of sensuality, the yoke of sensuality, clinging to sensuality, and the hindrance of sensual desire there is for sensual pleasures. ‘The removal of desire and lust’ means the abandoning of desire and lust, the calming of desire and lust, the relinquishing of desire and lust, the tranquilization of desire and lust, the Deathless, Nibbāna—this is the removal of desire and lust.
Về câu "sự loại trừ dục tham". Về "dục tham": Bất cứ dục nào trong các dục, tham dục, hỷ dục, ái dục, luyến ái dục, nhiệt não dục, mê đắm dục, sự chìm đắm trong dục, bộc lậu dục, ách phược dục, chấp thủ dục, triền cái dục tham. Về câu "sự loại trừ dục tham": Sự đoạn trừ dục tham, sự làm cho lắng dịu dục tham, sự từ bỏ dục tham, sự làm cho an tịnh dục tham, trạng thái bất tử, Niết-bàn – (đây là ý nghĩa của) "sự loại trừ dục tham".
Nibbānapadamaccutanti nibbānapadaṃ tāṇapadaṃ leṇapadaṃ saraṇapadaṃ abhayapadaṃ. Accutanti niccaṃ dhuvaṃ sassataṃ avipariṇāmadhammanti – nibbānapadamaccutaṃ. Tenāha bhagavā –
The imperishable state of Nibbāna. The state of Nibbāna is a state of protection, a shelter, a refuge, a state of fearlessness. ‘Imperishable’ means permanent, stable, eternal, not of a nature to change—thus, the imperishable state of Nibbāna. Therefore, the Blessed One said:
Về câu "trạng thái Niết-bàn bất biến": Trạng thái Niết-bàn là trạng thái bảo hộ, là trạng thái ẩn náu, là trạng thái nương tựa, là trạng thái vô úy. Về câu "bất biến": Là thường hằng, là bền vững, là vĩnh cửu, là pháp không bị biến hoại – (đây là ý nghĩa của) "trạng thái Niết-bàn bất biến". Do đó, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Idha diṭṭhasutamutaviññātesu, piyarūpesu hemaka;
Chandarāgavinodanaṃ, nibbānapadamaccuta’’nti.
“Here, Hemaka, in what is seen, heard, sensed, and cognized, in agreeable forms, the removal of desire and lust is the imperishable state of Nibbāna.”
“Này Hemaka, ở đây, trong các pháp được thấy, được nghe, được nghĩ đến, được nhận biết, trong các sắc khả ái, sự loại trừ dục tham, chính là trạng thái Niết-bàn bất biến.”
56.
56.
56.
Etadaññāya ye satā, diṭṭhadhammābhinibbutā;
Upasantā ca te sadā, tiṇṇā loke visattikaṃ.
Those who are mindful, having understood this, are fully extinguished in this very life. They are always at peace, having crossed over attachment in the world.
(Đức Thế Tôn đã trả lời:) “Những vị nào có chánh niệm, sau khi đã liễu tri điều ấy, đã thấy rõ các pháp, đã hoàn toàn tịch tịnh; và những vị ấy luôn luôn an tịnh, đã vượt qua sự dính mắc ở trong đời.”
Etadaññāya ye satāti. Etanti amataṃ nibbānaṃ. Yo so sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ. Aññāyāti aññāya jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. ‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti aññāya jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. ‘‘Sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti… ‘‘sabbe dhammā anattā’’ti…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti aññāya jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. Yeti arahanto khīṇāsavā. Satāti catūhi kāraṇehi satā – kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvitattā satā…pe… te vuccanti satāti – etadaññāya ye satā.
‘Having known this, those who are mindful.’ ‘This’ refers to the Deathless, Nibbāna. That which is the stilling of all formations, the relinquishing of all substrates of existence, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna. ‘Having known’ means having known, having weighed, having investigated, having made clear, and having made manifest. ‘All formations are impermanent’—having known, weighed, investigated, made clear, and made manifest. ‘All formations are suffering’… ‘all phenomena are non-self’…and so on… ‘Whatever is of a nature to arise, all that is of a nature to cease’—having known, weighed, investigated, made clear, and made manifest. ‘Those’ refers to the Arahants, those whose taints are destroyed. ‘The mindful’ are called mindful for four reasons—because they have developed the establishment of mindfulness consisting of the contemplation of the body in the body… and so on… they are called ‘the mindful’—thus, ‘having known this, those who are mindful.’
Về câu "Những vị nào có chánh niệm, sau khi đã liễu tri điều ấy": "Điều ấy" là trạng thái bất tử, là Niết-bàn. Cái nào là sự lắng dịu tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Niết-bàn. "Sau khi đã liễu tri" là sau khi đã liễu tri, đã biết, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã phát triển, đã làm cho hiển lộ. Sau khi đã liễu tri, đã biết, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã phát triển, đã làm cho hiển lộ rằng: "Tất cả các hành là vô thường". "Tất cả các hành là khổ"... "Tất cả các pháp là vô ngã"... cho đến... sau khi đã liễu tri, đã biết, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã phát triển, đã làm cho hiển lộ rằng: "Bất cứ pháp nào có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có đoạn diệt". "Những vị nào" là các vị A-la-hán, các bậc lậu tận. "Có chánh niệm" là có chánh niệm do bốn lý do – có chánh niệm do đã phát triển niệm xứ quán thân trong thân... cho đến... các vị ấy được gọi là "có chánh niệm" – (đây là ý nghĩa của) "Những vị nào có chánh niệm, sau khi đã liễu tri điều ấy".
Diṭṭhadhammābhinibbutāti. Diṭṭhadhammāti diṭṭhadhammā ñātadhammā tulitadhammā tīritadhammā vibhūtadhammā vibhāvitadhammā. ‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti diṭṭhadhammā…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti diṭṭhadhammā ñātadhammā tulitadhammā tīritadhammā vibhūtadhammā vibhāvitadhammā. Abhinibbutāti rāgassa nibbāpitattā nibbutā, dosassa nibbāpitattā nibbutā, mohassa nibbāpitattā nibbutā, kodhassa…pe… upanāhassa… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ santattā samitattā vūpasamitattā nijjhātattā nibbutattā vigatattā paṭippasaddhattā santā upasantā vūpasantā nibbutā paṭippassaddhāti – diṭṭhadhammābhinibbutā.
‘Extinguished in this very life.’ `Diṭṭhadhammā` means that the Dhamma has been seen, known, weighed, investigated, made manifest, and developed. ‘All conditioned formations are impermanent’—thus the Dhamma has been seen… and so on… ‘Whatever is of the nature to arise, all that is of the nature to cease’—thus the Dhamma has been seen, known, weighed, investigated, made manifest, and developed. `Abhinibbutā` means extinguished due to the extinguishing of lust, extinguished due to the extinguishing of hatred, extinguished due to the extinguishing of delusion, extinguished due to the extinguishing of anger… and so on… resentment… of all unwholesome volitional formations—because they have been calmed, quieted, appeased, burnt out, extinguished, departed, and utterly stilled; thus they are tranquil, peaceful, appeased, extinguished, and utterly stilled—thus, ‘extinguished in this very life.’
Về câu "đã thấy rõ các pháp, đã hoàn toàn tịch tịnh". "Đã thấy rõ các pháp" là các pháp đã được thấy, các pháp đã được biết, các pháp đã được cân nhắc, các pháp đã được thẩm xét, các pháp đã được làm cho hiển lộ, các pháp đã được phát triển. Các pháp đã được thấy rằng: "Tất cả các hành là vô thường"... cho đến... các pháp đã được thấy, các pháp đã được biết, các pháp đã được cân nhắc, các pháp đã được thẩm xét, các pháp đã được làm cho hiển lộ, các pháp đã được phát triển rằng: "Bất cứ pháp nào có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có đoạn diệt". "Đã hoàn toàn tịch tịnh" là: đã tịch tịnh do tham đã được dập tắt, đã tịch tịnh do sân đã được dập tắt, đã tịch tịnh do si đã được dập tắt, do phẫn nộ... cho đến... do oán hận... do tất cả các hành bất thiện đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, đã được làm cho hoàn toàn an tịnh, đã được thiêu đốt, đã được dập tắt, đã được lìa khỏi, đã được làm cho an tịnh, nên (các vị ấy) là những bậc an tịnh, những bậc lắng dịu, những bậc hoàn toàn lắng dịu, những bậc tịch tịnh, những bậc hoàn toàn an tịnh – (đây là ý nghĩa của) "đã thấy rõ các pháp, đã hoàn toàn tịch tịnh".
Upasantā ca te sadāti. Upasantāti rāgassa upasamitattā nibbāpitattā upasantā…pe… dosassa… mohassa… kodhassa… upanāhassa…pe… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ santattā samitattā vūpasamitattā nijjhātattā nibbutattā vigatattā paṭippasaddhattā santā upasantā vūpasantā nibbutā paṭippassaddhāti upasantā. Teti arahanto khīṇāsavā. Sadāti sadā sabbakālaṃ niccakālaṃ dhuvakālaṃ satataṃ samitaṃ abbokiṇṇaṃ poṅkhānupoṅkhaṃ udakūmikajātaṃ avīcisantatisahitaṃ phassitaṃ purebhattaṃ pacchābhattaṃ purimayāmaṃ majjhimayāmaṃ pacchimayāmaṃ kāḷe juṇhe vasse hemante gimhe purime vayokhandhe majjhime vayokhandhe pacchime vayokhandheti – upasantā ca te sadā.
‘And they are always at peace.’ `Upasantā` means at peace. They are at peace because lust has been appeased and extinguished… and so on… hatred… delusion… anger… resentment… and all unwholesome volitional formations have been calmed, quieted, appeased, burnt out, extinguished, departed, and utterly stilled; thus they are tranquil, peaceful, appeased, extinguished, and utterly stilled. `Te` means the Arahants whose cankers are destroyed. `Sadā` means: always, at all times, perpetually, constantly, continuously, uninterruptedly, unremittingly, successively, like a series of water waves, without interval, as a continuum, connectedly, at every point of contact; before the meal, after the meal; in the first watch of the night, the middle watch, the last watch; in the dark fortnight, the bright fortnight; in the rainy season, the winter season, the summer season; in the first stage of life, the middle stage of life, the last stage of life. Thus, ‘And they are always at peace.’
`Upasantā ca te sadāti` (Và các vị ấy luôn được an tịnh). `Upasantāti` (An tịnh là): Do tham ái đã được làm cho lắng dịu, đã được dập tắt nên (gọi là) an tịnh... (vân vân)... do sân hận... do si mê... do phẫn nộ... do oán hận... (vân vân)... do tất cả các hành bất thiện đã được làm cho yên lặng, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho hoàn toàn lắng dịu, đã được thiêu đốt, đã được tịch tịnh, đã được rũ bỏ, đã được hoàn toàn an tịnh, nên (gọi là) yên lặng, an tịnh, hoàn toàn an tịnh, tịch tịnh, hoàn toàn an tịnh. `Teti` (Các vị ấy là): Các vị A-la-hán, các bậc lậu tận. `Sadāti` (Luôn luôn là): Luôn luôn, vào mọi lúc, vào lúc thường hằng, vào lúc cố định, liên tục, không gián đoạn, không xen tạp, nối tiếp nhau, như sóng nước dâng lên, không có khoảng cách, tiếp nối, tiếp xúc, trước bữa ăn, sau bữa ăn, trong canh đầu, trong canh giữa, trong canh cuối, trong kỳ trăng khuyết, trong kỳ trăng tròn, trong mùa mưa, trong mùa đông, trong mùa hè, trong giai đoạn đầu của tuổi tác, trong giai đoạn giữa của tuổi tác, trong giai đoạn cuối của tuổi tác. - (Như thế là nghĩa của) `upasantā ca te sadā` (và các vị ấy luôn được an tịnh).
Tiṇṇā loke visattikanti visattikā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Visattikāti kenaṭṭhena visattikā…pe… visaṭā vitthatāti visattikā. Loketi apāyaloke…pe… āyatanaloke. Tiṇṇā loke visattikanti loke vesā visattikā loke vetaṃ visattikaṃ tiṇṇā uttiṇṇā nitthiṇṇā atikkantā samatikkantā vītivattāti – tiṇṇā loke visattikaṃ. Tenāha bhagavā –
Regarding the phrase 'Crossed over attachment in the world': Craving is called visattikā (attachment). That which is lust, intense lust… and so on… covetousness, greed, the unwholesome root. In what sense is it visattikā? … Because it spreads and is widespread, it is called visattikā. 'In the world' means in the world of woe… and so on… in the world of the sense bases. 'Crossed over attachment in the world' means: that attachment in the world has been crossed over, thoroughly crossed over, completely crossed over, gone beyond, fully gone beyond, passed beyond. Therefore, the Blessed One said:
`Tiṇṇā loke visattikanti` (Đã vượt qua sự dính mắc ở đời). `Visattikā` được gọi là ái dục. Cái nào là tham, tham đắm... (vân vân)... sự tham lam, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. `Visattikāti` (Sự dính mắc là): Do ý nghĩa nào mà (gọi là) sự dính mắc? ... (vân vân)... Do lan rộng, do trải khắp nên (gọi là) sự dính mắc. `Loketi` (Ở đời là): ở trong cõi khổ... (vân vân)... ở trong xứ giới. `Tiṇṇā loke visattikanti` (Đã vượt qua sự dính mắc ở đời là): Sự dính mắc ấy ở đời, sự dính mắc này ở đời, (các vị ấy) đã vượt qua, đã hoàn toàn vượt qua, đã vượt qua trọn vẹn, đã đi qua, đã hoàn toàn đi qua, đã đi khỏi. - (Như thế là nghĩa của) `tiṇṇā loke visattikaṃ` (đã vượt qua sự dính mắc ở đời). Do đó, đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Etadaññāya ye satā, diṭṭhadhammābhinibbutā;
Upasantā ca te sadā, tiṇṇā loke visattika’’nti.
“Those mindful ones who have understood this, who are extinguished in this very life, they, ever peaceful, have crossed over attachment in the world.”
‘Những bậc chánh niệm, sau khi đã biết điều này, đã được tịch tịnh trong hiện tại; các vị ấy luôn được an tịnh, đã vượt qua sự dính mắc ở đời.’
Saha gāthāpariyosānā…pe… satthā me bhante bhagavā, sāvakohamasmīti.
Simultaneously with the end of the verse… “Venerable sir, the Blessed One is my Teacher; I am a disciple.”
Ngay khi bài kệ vừa kết thúc... (vân vân)... ‘Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư của con, con là đệ tử (của Ngài).’
Hemakamāṇavapucchāniddeso aṭṭhamo.
The Eighth Exposition: The Questions of Hemaka.
Phần giải thích câu hỏi của thanh niên Hemaka, chương thứ tám.