Bản dịch
CND 11 — Diễn Giải Kinh Nanda
7. Nandamāṇavapucchāniddesa
(Tôn giả Nanda nói rằng:) “‘Các bậc hiền trí hiện hữu ở thế gian,’ mọi người nói như thế; theo ngài, điều này (có ý nghĩa) thế nào? Họ nói người đã thành tựu về trí là bậc hiền trí, hay là người đã thực sự thành tựu về lối sống?”
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
(Tôn giả Nanda nói rằng:) “‘Các bậc hiền trí hiện hữu ở thế gian,’ mọi người nói như thế; theo ngài, điều này (có ý nghĩa) thế nào? Họ nói người đã thành tựu về trí là bậc hiền trí, hay là người đã thực sự thành tựu về lối sống?”
“ Không phải do thấy, không phải do nghe, không phải do trí, mà các bậc thiện xảo ở nơi đây gọi là bậc hiền trí. Những người nào sau khi tiêu diệt đạo binh (ô nhiễm), sống không phiền muộn, không mong cầu, Ta nói rằng những người ấy là các bậc hiền trí .”
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
1. Các dục là đạo binh thứ nhất của ngươi, thứ nhì nói đến là sự không thích thú, thứ ba của ngươi là đói và khát, thứ tư gọi là tham ái .
2. Thứ năm của ngươi là dã dượi và buồn ngủ, thứ sáu gọi là sự khiếp đảm, thứ bảy của ngươi là hoài nghi, thứ tám của ngươi là gièm pha, bướng bỉnh .
3. Lợi lộc, danh tiếng, tôn vinh, và danh vọng nào đã đạt được sai trái, kẻ nào đề cao bản thân và khi dễ những người khác , –
4. – này Namuci, chúng là đạo binh của ngươi, là toán xung kích của Kaṇha. Kẻ khiếp nhược không chiến thắng nó, và vị đã chiến thắng thì đạt được sự an lạc .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Không phải do thấy, không phải do nghe, không phải do trí, mà các bậc thiện xảo ở nơi đây gọi là bậc hiền trí. Những người nào sau khi tiêu diệt đạo binh (ô nhiễm), sống không phiền muộn, không mong cầu, Ta nói rằng những người ấy là các bậc hiền trí .”
(Tôn giả Nanda nói rằng:) “Bất cứ những Sa-môn và Bà-la-môn nào nói rằng sự trong sạch là do thấy và do nghe, nói rằng sự trong sạch là do giới và phận sự, nói rằng sự trong sạch là do nhiều hình thức, có phải những vị ấy, thưa đức Thế Tôn, trong khi sống kiềm chế ở nơi ấy, họ đã vượt qua sanh và già, thưa ngài? Con hỏi ngài, thưa đức Thế Tôn, xin ngài hãy trả lời con về điều này.”
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
(Tôn giả Nanda nói rằng:) “Bất cứ những Sa-môn và Bà-la-môn nào nói rằng sự trong sạch là do thấy và do nghe, nói rằng sự trong sạch là do giới và phận sự, nói rằng sự trong sạch là do nhiều hình thức, có phải những vị ấy, thưa đức Thế Tôn, trong khi sống kiềm chế ở nơi ấy, họ đã vượt qua sanh và già, thưa ngài? Con hỏi ngài, thưa đức Thế Tôn, xin ngài hãy trả lời con về điều này.”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Nanda,) bất cứ những vị Sa-môn và Bà-la-môn nào nói rằng sự trong sạch là do thấy và do nghe, nói rằng sự trong sạch là do giới và phận sự, nói rằng sự trong sạch là do nhiều hình thức, mặc dầu những vị ấy, trong khi sống kiềm chế ở nơi ấy, Ta nói rằng: ‘Họ đã không vượt qua sanh và già.’”
(Tôn giả Nanda nói rằng:) “Bất cứ những vị Sa-môn và Bà-la-môn nào nói rằng sự trong sạch là do thấy và do nghe, nói rằng sự trong sạch là do giới và phận sự, nói rằng sự trong sạch là do nhiều hình thức.
Thưa bậc hiền trí, nếu ngài nói những vị ấy là không vượt qua dòng lũ, vậy giờ đây, thưa ngài, người nào ở thế giới chư Thiên và nhân loại đã vượt qua sanh và già? Con hỏi ngài, thưa đức Thế Tôn, xin ngài hãy trả lời con về điều này.”
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
(Tôn giả Nanda nói rằng:) “Bất cứ những vị Sa-môn và Bà-la-môn nào nói rằng sự trong sạch là do thấy và do nghe, nói rằng sự trong sạch là do giới và phận sự, nói rằng sự trong sạch là do nhiều hình thức .
Thưa bậc hiền trí, nếu ngài nói những vị ấy là không vượt qua dòng lũ, vậy giờ đây, thưa ngài, người nào ở thế giới chư Thiên và nhân loại đã vượt qua sanh và già? Con hỏi ngài, thưa đức Thế Tôn, xin ngài hãy trả lời con về điều này.”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Nanda,) Ta không nói rằng tất cả các vị Sa-môn và Bà-la-môn đều bị bao trùm bởi sanh và già. Ở đây, những vị nào đã dứt bỏ điều đã được thấy, hoặc đã được nghe, hoặc đã được cảm giác, hoặc thậm chí tất cả giới và phận sự, hoặc đã dứt bỏ mọi hình thức nhiều loại, đã biết toàn diện về tham ái, không còn lậu hoặc, Ta nói rằng ‘những con người ấy thật sự đã vượt qua dòng lũ.’”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
(Đức Thế Tôn nói: “Này Nanda,) Ta không nói rằng tất cả các vị Sa-môn và Bà-la-môn đều bị bao trùm bởi sanh và già. Ở đây, những vị nào đã dứt bỏ điều đã được thấy, hoặc đã được nghe, hoặc đã được cảm giác, hoặc thậm chí tất cả giới và phận sự, hoặc đã dứt bỏ mọi hình thức nhiều loại, đã biết toàn diện về tham ái, không còn lậu hoặc, Ta nói rằng ‘những con người ấy thật sự đã vượt qua dòng lũ.’”
(Tôn giả Nanda nói rằng:) “Thưa ngài Gotama, con thích thú lời nói này của bậc đại ẩn sĩ, đã khéo được trình bày, không liên quan đến mầm tái sanh. Ở đây, những vị nào đã dứt bỏ điều đã được thấy, hoặc đã được nghe, hoặc đã được cảm giác, hoặc thậm chí tất cả giới và phận sự, hoặc đã dứt bỏ mọi hình thức nhiều loại, đã biết toàn diện về tham ái, không còn lậu hoặc, con cũng nói rằng ‘những vị ấy đã vượt qua dòng lũ.’”
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
(Tôn giả Nanda nói rằng:) “Thưa ngài Gotama, con thích thú lời nói này của bậc đại ẩn sĩ, đã khéo được trình bày, không liên quan đến mầm tái sanh. Ở đây, những vị nào đã dứt bỏ điều đã được thấy, hoặc đã được nghe, hoặc đã được cảm giác, hoặc thậm chí tất cả giới và phận sự, hoặc đã dứt bỏ mọi hình thức nhiều loại, đã biết toàn diện về tham ái, không còn lậu hoặc, con cũng nói rằng ‘những vị ấy đã vượt qua dòng lũ.’”
Diễn Giải Kinh Nanda là thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tiểu Diễn Giải (Cūḷaniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Santi loke munayo, [iccāyasmā nando]
Janā vadanti tayidaṃ kathaṃsu;
Ñāṇūpapannaṃ muni no vadanti, udāhu ve jīvitenūpapannaṃ † .
“‘There are sages in the world,’ [thus said the Venerable Nanda,] ‘so people say. How is this so? Do they call one endowed with knowledge a sage, or is it one endowed with a [particular] livelihood?’”
(Trưởng lão Nanda thưa rằng:) “Có các bậc Mâu-ni ở trong đời, người ta nói như vậy, điều ấy là thế nào? Họ gọi là Mâu-ni người đã thành tựu trí tuệ, hay là người đã thành tựu về đời sống?”
Santi loke munayoti. Santīti santi saṃvijjanti atthi upalabbhanti. Loketi apāyaloke…pe… āyatanaloke. Munayoti munināmakā ājīvakā nigaṇṭhā jaṭilā tāpasā. (Devā loke munayoti sañjānanti, na ca te munayo) † ti. Santi loke munayo. Iccāyasmā nandoti. Iccāti padasandhi…pe…. Āyasmāti piyavacanaṃ…pe…. Nandoti tassa brāhmaṇassa nāmaṃ…pe… abhilāpoti – iccāyasmā nando.
“There are sages in the world.” “There are” means they exist, they are found, they are present, they are perceived. “In the world” refers to the world of woe…the world of sense-spheres. “Sages” refers to those called munis: Ājīvakas, Nigaṇṭhas, Jaṭilas, and Tāpasas. (Gods in the world perceive them as munis, but they are not munis.) “There are sages in the world.” “Thus the Venerable Nanda.” “Thus” is a particle connecting phrases... “Venerable” is a term of endearment... “Nanda” is the name of that brahmin... it is a designation—thus the Venerable Nanda.
‘Có các bậc Mâu-ni ở trong đời’ có nghĩa là: ‘Có’ nghĩa là có, hiện hữu, có mặt, tìm thấy được. ‘Trong đời’ nghĩa là trong cõi khổ... cho đến... trong thế giới các xứ. ‘Các bậc Mâu-ni’ là các vị có tên là Mâu-ni như các Ājīvaka (Lõa thể ngoại đạo), các Nigaṇṭha (Ni-kiền-tử), các Jaṭila (Bện tóc ngoại đạo), các đạo sĩ. (Chư thiên trong đời nhận biết là Mâu-ni, nhưng họ không phải là Mâu-ni). ‘Có các bậc Mâu-ni ở trong đời’. ‘Trưởng lão Nanda thưa rằng’ có nghĩa là: ‘Iccā’ là sự nối âm... cho đến... ‘Āyasmā’ là một từ ngữ thân ái... cho đến... ‘Nanda’ là tên của vị Bà-la-môn ấy... cho đến... là cách gọi. – ‘Trưởng lão Nanda thưa rằng’.
Janā vadanti tayidaṃ kathaṃsūti. Janāti khattiyā ca brāhmaṇā ca vessā ca suddā ca gahaṭṭhā ca pabbajitā ca devā ca manussā ca. Vadantīti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti. Tayidaṃ kathaṃsūti saṃsayapucchā vimatipucchā dveḷhakapucchā anekaṃsapucchā ‘‘evaṃ nu kho, na nu kho, kiṃ nu kho, kathaṃ nu kho’’ti – janā vadanti tayidaṃ kathaṃsu.
[On the phrase] ‘People say this; how is it so?’: ‘People’ refers to nobles, brahmins, merchants, workers, householders, renunciates, gods, and humans. ‘They say’ means they speak, declare, explain, or use the term. ‘How is this so?’ is a question of doubt, a question of uncertainty, a question of two-mindedness, a question of ambiguity—‘Is it so? Is it not so? What is it? How is it?’ Thus, [the meaning of] ‘People say this; how is it so?’
‘Người ta nói như vậy, điều ấy là thế nào?’ có nghĩa là: ‘Người ta’ là các vị Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la, tại gia, xuất gia, chư thiên, và loài người. ‘Nói’ có nghĩa là kể, đọc, chỉ rõ, gọi tên. ‘Điều ấy là thế nào?’ là câu hỏi do nghi ngờ, câu hỏi do phân vân, câu hỏi do lưỡng lự, câu hỏi do không chắc chắn: “Có phải như vậy chăng, không phải như vậy chăng, là cái gì vậy, là thế nào vậy?”. – ‘Người ta nói như vậy, điều ấy là thế nào?’.
Ñāṇūpapannaṃ muni no vadantīti. Aṭṭha samāpattiñāṇena vā pañcābhiññāñāṇena vā upetaṃ samupetaṃ upāgataṃ samupāgataṃ upapannaṃ samupapannaṃ samannāgataṃ muniṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – ñāṇūpapannaṃ muni no vadanti.
[On the phrase] “Do they call one a sage endowed with knowledge?”: They call, declare, explain, illuminate, or proclaim a sage as one who is endowed, fully endowed, approached, fully approached, attained, fully attained, or possessed of either the knowledge of the eight attainments or the knowledge of the five higher powers—thus, “Do they call one a sage endowed with knowledge?”
‘Họ gọi là Mâu-ni người đã thành tựu trí tuệ’ có nghĩa là: Bằng trí tuệ của tám thiền chứng, hay bằng trí tuệ của năm thắng trí, người đã đạt đến, đã đi đến, đã gần đến, đã gần kề, đã thành tựu, đã viên mãn, đã đầy đủ, họ gọi là Mâu-ni, họ kể, họ đọc, họ chỉ rõ, họ gọi tên. – ‘Họ gọi là Mâu-ni người đã thành tựu trí tuệ’.
Udāhu ve jīvitenūpapannanti udāhu anekavividhaatiparamadukkarakārikalūkhajīvitānuyogena upetaṃ samupetaṃ upāgataṃ samupāgataṃ upapannaṃ samupapannaṃ samannāgataṃ muniṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – udāhu ve jīvitenūpapannaṃ. Tenāha so brāhmaṇo –
“Or rather, one endowed with a certain way of life?” Or rather, they call, declare, explain, illuminate, or proclaim a sage as one who is endowed, fully endowed, approached, fully approached, attained, perfected, or possessed of a certain way of life, that is, the practice of various extremely difficult and harsh asceticisms—thus, “Or rather, one endowed with a certain way of life?” Therefore, that brahmin said:
Hay là bậc được trang bị đời sống (Udāhu ve jīvitenūpapannanti) có nghĩa là: Hay là (udāhu) họ nói (vadanti), họ kể (kathenti), họ đọc (bhaṇanti), họ chỉ rõ (dīpayanti), họ gọi (voharantīti) là bậc ẩn sĩ (muniṃ) đối với người đã gần gũi (upetaṃ), đã tương ưng (samupetaṃ), đã đi đến (upāgataṃ), đã đi đến gần (samupāgataṃ), đã được trang bị (upapannaṃ), đã được thành tựu (samupapannaṃ), đã có mặt (samannāgataṃ) với sự nỗ lực trong đời sống (jīvitānuyogena) khổ hạnh (lūkha) qua việc thực hành (kārika) điều cực kỳ khó làm (atiparamadukkara) có nhiều loại khác nhau (anekavividha)? – (Đây là ý nghĩa của) hay là bậc được trang bị đời sống (udāhu ve jīvitenūpapannaṃ). Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói:
‘‘Santi loke munayo, [iccāyasmā nando]
Janā vadanti tayidaṃ kathaṃsu;
Ñāṇūpapannaṃ muni no vadanti, udāhu ve jīvitenūpapanna’’nti.
“There are sages in the world,” [thus spoke the Venerable Nanda]. “How do people speak of this? Do they call one a sage who is endowed with wisdom, or rather one who is endowed with a certain way of life?”
[Tôn giả Nanda thưa rằng:] ‘Có các bậc ẩn sĩ ở trong đời, người ta nói như thế này, vậy thì thế nào? Họ có gọi bậc ẩn sĩ là người được trang bị trí tuệ, hay là bậc được trang bị đời sống?’
47.
47.
47.
Na diṭṭhiyā na sutiyā na ñāṇena,
Munīdha nanda kusalā vadanti;
Visenikatvā † anīghā nirāsā, caranti ye te munayoti brūmi.
“Not by view, not by learning, not by knowledge, O Nanda, do the skilled ones call one a sage. Having dispersed the army, without anguish, without longing, those who wander—them I call sages.”
Này Nanda, ở đây các bậc thiện xảo không gọi là bậc ẩn sĩ bởi tri kiến, bởi sở văn, hay bởi trí tuệ. Ta nói rằng những vị nào sống sau khi đã phá tan quân đội (phiền não), không còn phiền muộn, không còn ái dục, những vị ấy là các bậc ẩn sĩ.
Na diṭṭhiyā na sutiyā na ñāṇenāti. Na diṭṭhiyāti na diṭṭhasuddhiyā. Na sutiyāti na sutasuddhiyā. Na ñāṇenāti napi aṭṭhasamāpattiñāṇena napi pañcābhiññāñāṇena napi micchāñāṇenāti – na diṭṭhiyā na sutiyā na ñāṇena.
“Not by view, not by learning, not by knowledge.” “Not by view” means not by purification of view. “Not by learning” means not by purification of learning. “Not by knowledge” means not by the knowledge of the eight attainments, nor by the knowledge of the five higher knowledges, nor by wrong knowledge—thus, “not by view, not by learning, not by knowledge.”
Không bởi tri kiến, không bởi sở văn, không bởi trí tuệ (Na diṭṭhiyā na sutiyā na ñāṇenāti) có nghĩa là: Không bởi tri kiến (Na diṭṭhiyāti) là không phải bởi sự thanh tịnh của tri kiến. Không bởi sở văn (Na sutiyāti) là không phải bởi sự thanh tịnh của sở văn. Không bởi trí tuệ (Na ñāṇenāti) là không phải bởi trí tuệ của tám thiền chứng, cũng không phải bởi trí tuệ của năm thắng trí, cũng không phải bởi tà trí. – (Đây là ý nghĩa của) không bởi tri kiến, không bởi sở văn, không bởi trí tuệ (na diṭṭhiyā na sutiyā na ñāṇena).
Munīdha nanda kusalā vadantīti. Kusalāti ye te khandhakusalā dhātukusalā āyatanakusalā paṭiccasamuppādakusalā satipaṭṭhānakusalā sammappadhānakusalā iddhipādakusalā indriyakusalā balakusalā bojjhaṅgakusalā maggakusalā phalakusalā nibbānakusalā diṭṭhasuddhiyā vā sutasuddhiyā vā aṭṭhasamāpattiñāṇena vā pañcābhiññāñāṇena vā micchāñāṇena vā diṭṭhena vā sutena vā upetaṃ samupetaṃ upāgataṃ samupāgataṃ upapannaṃ samupapannaṃ samannāgataṃ muniṃ na vadanti na kathenti na bhaṇanti na dīpayanti na voharantīti – munīdha nanda kusalā vadanti.
“O Nanda, the skilled ones call one a sage here.” “Skilled” refers to those who are skilled in the aggregates, skilled in the elements, skilled in the sense bases, skilled in dependent origination, skilled in the foundations of mindfulness, skilled in the right efforts, skilled in the bases of psychic power, skilled in the faculties, skilled in the powers, skilled in the fruits, and skilled in Nibbāna. They do not call, declare, explain, illuminate, or proclaim a sage as one who is endowed, fully endowed, approached, fully approached, attained, perfected, or possessed of purity of view, or purity of hearing, or the knowledge of the eight attainments, or the knowledge of the five higher powers, or wrong knowledge, or (mere) view, or (mere) hearing—thus, “O Nanda, the skilled ones call one a sage here.”
Này Nanda, ở đây các bậc thiện xảo không gọi là bậc ẩn sĩ (Munīdha nanda kusalā vadantīti) có nghĩa là: Các bậc thiện xảo (Kusalāti) là những vị thiện xảo về uẩn, thiện xảo về giới, thiện xảo về xứ, thiện xảo về duyên khởi, thiện xảo về niệm xứ, thiện xảo về chánh cần, thiện xảo về thần túc, thiện xảo về căn, thiện xảo về lực, thiện xảo về giác chi, thiện xảo về đạo, thiện xảo về quả, thiện xảo về Niết-bàn. (Các vị ấy) không nói (na vadanti), không kể (na kathenti), không đọc (na bhaṇanti), không chỉ rõ (na dīpayanti), không gọi (na voharantīti) là bậc ẩn sĩ (muniṃ) đối với người đã gần gũi, đã tương ưng, đã đi đến, đã đi đến gần, đã được trang bị, đã được thành tựu, đã có mặt với sự thanh tịnh của tri kiến, hoặc với sự thanh tịnh của sở văn, hoặc với trí tuệ của tám thiền chứng, hoặc với trí tuệ của năm thắng trí, hoặc với tà trí, hoặc với điều được thấy, hoặc với điều được nghe. – (Đây là ý nghĩa của) này Nanda, ở đây các bậc thiện xảo không gọi là bậc ẩn sĩ (munīdha nanda kusalā vadanti).
Visenikatvā anīghā nirāsā, caranti ye te munayoti brūmīti senā vuccati mārasenā, kāyaduccaritaṃ mārasenā, vacīduccaritaṃ mārasenā, manoduccaritaṃ mārasenā, rāgo mārasenā, doso mārasenā, moho mārasenā, kodho…pe… upanāho… makkho… paḷāso… issā… macchariyaṃ… māyā… sāṭheyyaṃ… thambho… sārambho… māno… atimāno… mado… pamādo… sabbe kilesā sabbe duccaritā sabbe darathā sabbe pariḷāhā sabbe santāpā sabbākusalābhisaṅkhārā mārasenā. Vuttañhetaṃ bhagavatā –
“Having dispersed the army, without anguish, without longing, those who wander—them I call sages.” The army is called Māra’s army: bodily misconduct is Māra’s army, verbal misconduct is Māra’s army, mental misconduct is Māra’s army. Lust is Māra’s army, hatred is Māra’s army, delusion is Māra’s army, anger… resentment… contempt… spite… envy… selfishness… hypocrisy… dishonesty… stubbornness… impetuosity… conceit… excessive conceit… vanity… negligence… All defilements, all misconduct, all afflictions, all burning, all anguish, all unwholesome volitional formations—these are Māra’s army. For this was said by the Blessed One—
Ta nói rằng những vị nào sống sau khi đã phá tan quân đội, không còn phiền muộn, không còn ái dục, những vị ấy là các bậc ẩn sĩ (Visenikatvā anīghā nirāsā, caranti ye te munayoti brūmīti) có nghĩa là: Quân đội (senā) được gọi là quân đội của Ma vương (mārasenā). Thân ác hành là quân đội của Ma vương, khẩu ác hành là quân đội của Ma vương, ý ác hành là quân đội của Ma vương, tham là quân đội của Ma vương, sân là quân đội của Ma vương, si là quân đội của Ma vương, phẫn nộ... (cho đến)... hiềm hận... não hại... tật đố... xan tham... man trá... xảo quyệt... ngoan cố... tranh cạnh... kiêu mạn... quá mạn... say sưa... phóng dật... tất cả phiền não, tất cả ác hành, tất cả phiền muộn, tất cả nhiệt não, tất cả thiêu đốt, tất cả các bất thiện hành là quân đội của Ma vương. Điều này đã được Đức Thế Tôn nói đến:
‘‘Kāmā te paṭhamā senā, dutiyā arati vuccati;
Tatiyā khuppipāsā te, catutthī taṇhā pavuccati.
“Sensual pleasures are your first army, the second is called discontent; your third is hunger and thirst, the fourth is called craving.
‘Các dục vọng là đạo quân thứ nhất của ngươi, bất mãn được gọi là đạo quân thứ hai; đói và khát là đạo quân thứ ba của ngươi, ái dục được gọi là đạo quân thứ tư.
‘‘Pañcamaṃ thinamiddhaṃ te, chaṭṭhā bhīrū pavuccati;
Sattamī vicikicchā te, makkho thambho te aṭṭhamo;
Lābho siloko sakkāro, micchāladdho ca yo yaso.
“Your fifth is sloth and torpor, the sixth is called fear; your seventh is doubt, your eighth is contempt and stubbornness; gain, praise, honor, and whatever fame is wrongly gained.
‘Hôn trầm và thụy miên là đạo quân thứ năm của ngươi, sợ hãi được gọi là đạo quân thứ sáu; hoài nghi là đạo quân thứ bảy của ngươi, não hại và ngoan cố là đạo quân thứ tám của ngươi; lợi lộc, danh tiếng, cung kính, và bất cứ danh vọng nào có được một cách sai lầm.
‘‘Yo cattānaṃ samukkaṃse, pare ca avajānāti;
Esā namuci te senā †, kaṇhassābhippahārinī;
Na naṃ asūro jināti, jetvā ca labhate sukha’’nti.
“Whoever exalts himself and disparages others—this, Namuci, is your army, the striking force of the Dark One. The unheroic does not conquer it, but having conquered it, one obtains happiness.”
‘Kẻ nào tán dương bản thân và khinh miệt người khác; này Namuci, đó là đạo quân của ngươi, là đạo quân tấn công của Kẻ Đen Tối. Kẻ không phải anh hùng không chiến thắng được nó, nhưng sau khi chiến thắng, người ấy đạt được hạnh phúc.’
Yato catūhi ariyamaggehi sabbā ca mārasenā sabbe ca paṭisenikarā † kilesā jitā ca parājitā ca bhaggā vippaluggā † parammukhā, tena vuccanti visenikatvā. Anīghāti rāgo nīgho, doso nīgho, moho nīgho, kodho nīgho, upanāho nīgho…pe… sabbākusalābhisaṅkhārā nīghā. Yesaṃ ete nīghā pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭippassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhā te vuccanti anīghā. Nirāsāti āsā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… avijjā lobho akusalamūlaṃ. Yesaṃ esā āsā taṇhā pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭippassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhā, te vuccanti nirāsā arahanto khīṇāsavā. Visenikatvā anīghā nirāsā, caranti ye te munayoti brūmīti ye te visenikatvāva anīghā ca nirāsā ca caranti viharanti iriyanti vattenti pālenti yapenti yāpenti, te loke munayoti brūmi ācikkhāmi desemi paññapemi paṭṭhapemi vivarāmi vibhajāmi uttānīkaromi pakāsemīti – visenikatvā anīghā nirāsā, caranti ye te munayoti brūmi. Tenāha bhagavā –
When, by the four noble paths, all of Māra's army and all opposing defilements have been conquered, defeated, broken, pulverized, and routed, they are called 'those who have dispersed the army.' 'Free from anguish' means: lust is anguish, hatred is anguish, delusion is anguish, anger is anguish, resentment is anguish… all unwholesome volitional formations are anguish. Those for whom these anguishes are abandoned, cut off, stilled, pacified, incapable of arising again, and burned by the fire of wisdom, are called 'free from anguish.' 'Free from longing' means: craving is called longing. That is, lust, passion… covetousness, greed, the unwholesome root. Those for whom this longing, that is, craving, is abandoned, cut off, stilled, pacified, incapable of arising again, and burned by the fire of wisdom, are called 'free from longing'—they are the arahants, those with taints destroyed. Regarding 'Having dispersed the army, free from anguish, free from longing, those who fare on—them I call sages': those who, having dispersed the army, being free from anguish and free from longing, fare on, dwell, move, maintain themselves, preserve themselves, subsist, and carry on—them I call sages in the world; I declare, teach, proclaim, establish, reveal, analyze, make plain, and make manifest. This is the meaning of the line, 'Having dispersed the army, free from anguish, free from longing, those who fare on—them I call sages.' Therefore, the Blessed One said:
Khi nào tất cả quân đội của Ma vương và tất cả các phiền não đối nghịch đã bị chiến thắng, bị đánh bại, bị phá vỡ, bị nghiền nát, bị quay lưng bởi bốn Thánh đạo, do đó được gọi là ‘đã phá tan quân đội.’ ‘Không còn phiền muộn’ (Anīghāti) có nghĩa là: tham là phiền muộn, sân là phiền muộn, si là phiền muộn, phẫn nộ là phiền muộn, hiềm hận là phiền muộn... (cho đến)... tất cả các bất thiện hành là phiền muộn. Những ai đã đoạn trừ, đã cắt đứt, đã làm cho lắng dịu, đã làm cho an tịnh, đã làm cho không thể tái sanh, đã thiêu đốt bằng ngọn lửa trí tuệ những phiền muộn này, họ được gọi là ‘không còn phiền muộn.’ ‘Không còn ái dục’ (Nirāsāti) có nghĩa là: ái dục (āsā) được gọi là tham ái (taṇhā). Bất cứ sự tham ái, sự đắm nhiễm nào... (cho đến)... tham, gốc rễ bất thiện. Những ai đã đoạn trừ, đã cắt đứt, đã làm cho lắng dịu, đã làm cho an tịnh, đã làm cho không thể tái sanh, đã thiêu đốt bằng ngọn lửa trí tuệ ái dục tham ái này, họ được gọi là ‘không còn ái dục,’ là các vị A-la-hán, các bậc lậu tận. ‘Ta nói rằng những vị nào sống sau khi đã phá tan quân đội, không còn phiền muộn, không còn ái dục, những vị ấy là các bậc ẩn sĩ’ (Visenikatvā anīghā nirāsā, caranti ye te munayoti brūmīti) có nghĩa là: những vị nào sống, trú, đi, đứng, bảo vệ, duy trì, tồn tại sau khi đã phá tan quân đội, không còn phiền muộn và không còn ái dục, Ta nói (brūmi), Ta tuyên bố (ācikkhāmi), Ta thuyết giảng (desemi), Ta làm cho biết (paññapemi), Ta thiết lập (paṭṭhapemi), Ta mở ra (vivarāmi), Ta phân tích (vibhajāmi), Ta làm cho rõ ràng (uttānīkaromi), Ta hiển thị (pakāsemi) rằng họ là các bậc ẩn sĩ trong đời. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Ta nói rằng những vị nào sống sau khi đã phá tan quân đội, không còn phiền muộn, không còn ái dục, những vị ấy là các bậc ẩn sĩ.’ Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Na diṭṭhiyā na sutiyā na ñāṇena, munīdha nanda kusalā vadanti;
Visenikatvā anīghā nirāsā, caranti ye te munayoti brūmī’’ti.
“Not by view, not by learning, not by knowledge, O Nanda, do the skilled here declare one a sage. Those who fare on, having dispersed the army, free from anguish and free from longing—them I call sages.”
‘Này Nanda, ở đây các bậc thiện xảo không gọi là bậc ẩn sĩ bởi tri kiến, bởi sở văn, hay bởi trí tuệ. Ta nói rằng những vị nào sống sau khi đã phá tan quân đội (phiền não), không còn phiền muộn, không còn ái dục, những vị ấy là các bậc ẩn sĩ.’
48.
48.
48.
Ye kecime samaṇabrāhmaṇāse, [iccāyasmā nando]
Diṭṭhassutenāpi vadanti suddhiṃ;
Sīlabbatenāpi vadanti suddhiṃ, anekarūpena vadanti suddhiṃ.
“Whatever ascetics and brahmins there are,” [said the Venerable Nanda,] “who declare purity by what is seen or heard, who declare purity by virtue and vows, and who declare purity in various ways.”
[Tôn giả Nanda thưa rằng:] ‘Bất cứ những Sa-môn và Bà-la-môn nào, họ tuyên bố sự thanh tịnh bởi điều được thấy và được nghe; họ cũng tuyên bố sự thanh tịnh bởi giới và cấm thủ, họ tuyên bố sự thanh tịnh bằng nhiều hình thức khác nhau.
Kaccissu te bhagavā tattha yatā carantā, atāru jātiñca jarañca mārisa;
Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ.
“Blessed One, living restrained there in their views, did they cross over birth and aging, dear sir? I ask you this, Blessed One; please tell it to me.”
‘Bạch Đức Thế Tôn, liệu những vị ấy, khi sống nỗ lực ở nơi đó, có vượt qua được sanh và già không, thưa Ngài? Con xin hỏi Ngài điều đó, bạch Đức Thế Tôn, xin hãy nói cho con biết điều đó.’
Ye kecime samaṇabrāhmaṇāseti. Ye kecīti sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ asesaṃ nissesaṃ pariyādiyanavacanametaṃ – ye kecīti. Samaṇāti ye keci ito bahiddhā pabbajjūpagatā paribbājakasamāpannā. Brāhmaṇāti ye keci bhovādikāti – ye kecime samaṇabrāhmaṇāse. Iccāyasmā nandoti. Iccāti padasandhi…pe…. Āyasmāti piyavacanaṃ…pe…. Nandoti. Tassa brāhmaṇassa nāmaṃ…pe… abhilāpoti – iccāyasmā nando.
In the phrase, 'Whatever ascetics and brahmins there are': 'Whatever' is a term that encompasses all, meaning completely, in every way, entirely, without remainder, leaving nothing out. 'Ascetics' refers to all those outside of this dispensation who have gone forth and are committed to the wandering life. 'Brahmins' refers to all those who are accustomed to saying 'bho'. This is the meaning of the phrase, 'Whatever ascetics and brahmins there are.' Thus, the venerable Nanda asked.
Bất cứ những Sa-môn và Bà-la-môn nào (Ye kecime samaṇabrāhmaṇāseti) có nghĩa là: Bất cứ (Ye kecīti) là một từ bao hàm tất cả, hoàn toàn, theo mọi cách, tất cả, không còn sót lại, không có ngoại lệ. Sa-môn (Samaṇāti) là bất cứ ai đã xuất gia, đã trở thành du sĩ ngoại đạo. Bà-la-môn (Brāhmaṇāti) là bất cứ ai có thói quen xưng hô ‘bho.’ – (Đây là ý nghĩa của) bất cứ những Sa-môn và Bà-la-môn nào (ye kecime samaṇabrāhmaṇāse). Tôn giả Nanda thưa rằng (Iccāyasmā nandoti) có nghĩa là: ‘Iti’ là sự kết nối từ... (cho đến)... ‘Āyasmā’ là một từ thân ái... (cho đến)... ‘Nanda’ là tên của vị Bà-la-môn ấy... (cho đến)... là cách gọi. – (Đây là ý nghĩa của) Tôn giả Nanda thưa rằng (iccāyasmā nando).
Diṭṭhassutenāpi vadanti suddhinti diṭṭhenapi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti; sutenapi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti; diṭṭhassutenapi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – diṭṭhassutenāpi vadanti suddhiṃ.
Regarding 'They declare purity even by what is seen and heard': Even by what is seen, they declare, state, speak, reveal, and express purity, special purity, complete purity, release, special release, and complete release. Even by what is heard, they declare, state, speak, reveal, and express purity, special purity, complete purity, release, special release, and complete release. Even by what is seen and heard, they declare, state, speak, reveal, and express purity, special purity, complete purity, release, special release, and complete release. This is the meaning of 'They declare purity even by what is seen and heard.'
“Họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng cái được thấy và được nghe” (diṭṭhassutenāpi vadanti suddhiṃti) có nghĩa là: Cũng bằng cái được thấy (diṭṭhenapi), họ nói (vadanti), họ kể (kathenti), họ đọc (bhaṇanti), họ làm cho rõ (dīpayanti), họ gọi (voharanti) về sự trong sạch (suddhiṃ), sự trong sạch đặc biệt (visuddhiṃ), sự trong sạch toàn diện (parisuddhiṃ), sự giải thoát (muttiṃ), sự giải thoát đặc biệt (vimuttiṃ), sự giải thoát toàn diện (parimuttiṃ); cũng bằng cái được nghe (sutenapi), họ nói, họ kể, họ đọc, họ làm cho rõ, họ gọi về sự trong sạch, sự trong sạch đặc biệt, sự trong sạch toàn diện, sự giải thoát, sự giải thoát đặc biệt, sự giải thoát toàn diện; cũng bằng cái được thấy và được nghe (diṭṭhassutenapi), họ nói, họ kể, họ đọc, họ làm cho rõ, họ gọi về sự trong sạch, sự trong sạch đặc biệt, sự trong sạch toàn diện, sự giải thoát, sự giải thoát đặc biệt, sự giải thoát toàn diện. – (Đây là ý nghĩa của câu) “Họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng cái được thấy và được nghe”.
Sīlabbatenāpi vadanti suddhinti sīlenapi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti; vatenapi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti; sīlabbatenāpi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – sīlabbatenāpi vadanti suddhiṃ.
Regarding 'They declare purity even by virtuous conduct and observance': Even by virtuous conduct, they declare, state, speak, reveal, and express purity, special purity, complete purity, release, special release, and complete release. Even by observance, they declare, state, speak, reveal, and express purity, special purity, complete purity, release, special release, and complete release. Even by virtuous conduct and observance, they declare, state, speak, reveal, and express purity, special purity, complete purity, release, special release, and complete release. This is the meaning of 'They declare purity even by virtuous conduct and observance.'
“Họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng giới và hạnh” (sīlabbatenāpi vadanti suddhiṃti) có nghĩa là: Cũng bằng giới (sīlenapi), họ nói (vadanti), họ kể (kathenti), họ đọc (bhaṇanti), họ làm cho rõ (dīpayanti), họ gọi (voharanti) về sự trong sạch (suddhiṃ), sự trong sạch đặc biệt (visuddhiṃ), sự trong sạch toàn diện (parisuddhiṃ), sự giải thoát (muttiṃ), sự giải thoát đặc biệt (vimuttiṃ), sự giải thoát toàn diện (parimuttiṃ); cũng bằng hạnh (vatenapi), họ nói, họ kể, họ đọc, họ làm cho rõ, họ gọi về sự trong sạch, sự trong sạch đặc biệt, sự trong sạch toàn diện, sự giải thoát, sự giải thoát đặc biệt, sự giải thoát toàn diện; cũng bằng giới và hạnh (sīlabbatenāpi), họ nói, họ kể, họ đọc, họ làm cho rõ, họ gọi về sự trong sạch, sự trong sạch đặc biệt, sự trong sạch toàn diện, sự giải thoát, sự giải thoát đặc biệt, sự giải thoát toàn diện. – (Đây là ý nghĩa của câu) “Họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng giới và hạnh”.
Anekarūpena vadanti suddhinti anekavidhakotūhalamaṅgalena † suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – anekarūpena vadanti suddhiṃ.
Regarding 'They declare purity by various forms': By various kinds of tumultuous festivities and auspicious ceremonies, they declare, state, speak, reveal, and express purity, special purity, complete purity, release, special release, and complete release. This is the meaning of 'They declare purity by various forms.'
“Họ nói về sự thanh tịnh bằng nhiều hình thức” (anekarūpena vadanti suddhiṃti) có nghĩa là: Bằng các điềm lành ồn ào, đa dạng (anekavidhakotūhalamaṅgalena), họ nói (vadanti), họ kể (kathenti), họ đọc (bhaṇanti), họ làm cho rõ (dīpayanti), họ gọi (voharanti) về sự trong sạch (suddhiṃ), sự trong sạch đặc biệt (visuddhiṃ), sự trong sạch toàn diện (parisuddhiṃ), sự giải thoát (muttiṃ), sự giải thoát đặc biệt (vimuttiṃ), sự giải thoát toàn diện (parimuttiṃ). – (Đây là ý nghĩa của câu) “Họ nói về sự thanh tịnh bằng nhiều hình thức”.
Kaccisu te bhagavā tattha yatā carantāti. Kaccissūti saṃsayapucchā vimatipucchā dveḷhakapucchā anekaṃsapucchā, ‘‘evaṃ nu kho, na nu kho, kiṃ nu kho, kathaṃ nu kho’’ti – kaccissu. Teti diṭṭhigatikā. Bhagavāti gāravādhivacanametaṃ…pe… sacchikā paññatti, yadidaṃ bhagavāti – kaccissu te bhagavā. Tattha yatā carantāti. Tatthāti sakāya diṭṭhiyā sakāya khantiyā sakāya ruciyā sakāya laddhiyā. Yatāti yattā paṭiyattā † guttā gopitā rakkhitā saṃvutā. Carantāti carantā viharantā iriyantā vattentā pālentā yapentā yāpentāti – kaccissu te bhagavā tattha yatā carantā.
"Kaccissu te bhagavā tattha yatā carantā." 'Kaccissu' is a question of doubt, a question of uncertainty, a question of two-mindedness, a question with multiple interpretations—'Is it thus? Is it not thus? What is it? How is it?'—this is 'kaccissu.' 'Te' refers to those who hold [such] views. 'Bhagavā' is a term of reverence... [and so on]... a realized designation, that is, 'Bhagavā'—thus, 'kaccissu te bhagavā.' 'Tattha yatā carantā.' 'Tattha' means: in their own view, in their own forbearance, in their own preference, in their own doctrine. 'Yatā' means: restrained, well-restrained, guarded, protected, preserved, controlled. 'Carantā' means: behaving, dwelling, moving, conducting, maintaining, sustaining, causing to sustain—thus, 'kaccissu te bhagavā tattha yatā carantā.'
“Bạch Thế Tôn, phải chăng những vị ấy, khi đã nỗ lực thực hành ở nơi ấy” (Kaccisu te bhagavā tattha yatā carantāti). “Phải chăng” (Kaccissūti) là câu hỏi do nghi ngờ, câu hỏi do hoài nghi, câu hỏi do lưỡng lự, câu hỏi không chắc chắn, (như là): “Có phải như vậy chăng? Hay không phải vậy chăng? Là thế nào chăng? Tại sao lại thế chăng?” – (đó là) “phải chăng”. “Những vị ấy” (Teti) là những người có tà kiến. “Thế Tôn” (Bhagavāti) là danh xưng tôn kính này... là một danh xưng chế định được chứng thực, tức là “Thế Tôn” – (đó là) “Bạch Thế Tôn, phải chăng những vị ấy”. “Khi đã nỗ lực thực hành ở nơi ấy” (Tattha yatā carantāti). “Ở nơi ấy” (Tatthāti) là trong tà kiến của mình, trong sự kham nhẫn của mình, trong sở thích của mình, trong chủ thuyết của mình. “Đã nỗ lực” (Yatāti) là đã nỗ lực, đã cố gắng, đã phòng hộ, đã gìn giữ, đã bảo vệ, đã thu thúc. “Thực hành” (Carantāti) là đang thực hành, đang trú, đang đi đứng, đang xoay vần, đang duy trì, đang nuôi mạng, đang làm cho nuôi mạng. – (Đây là ý nghĩa của câu) “Bạch Thế Tôn, phải chăng những vị ấy, khi đã nỗ lực thực hành ở nơi ấy”.
Atāru jātiñca jarañca mārisāti jātijarāmaraṇaṃ atariṃsu uttariṃsu patariṃsu samatikkamiṃsu vītivattiṃsu. Mārisāti piyavacanaṃ garuvacanaṃ sagāravasappatissādhivacanametaṃ – mārisāti – atāru jātiñca jarañca mārisa.
'Atāru jātiñca jarañca mārisa.' Did they cross over, go beyond, pass over, transcend, and overcome birth, aging, and death? 'Mārisa' is a term of affection, a term of respect; it is a term spoken with reverence and deference—this is 'mārisa'—thus, 'atāru jātiñca jarañca mārisa.'
“Đã vượt qua sanh và già, thưa Ngài khả kính” (Atāru jātiñca jarañca mārisāti) có nghĩa là: Họ đã vượt qua (atariṃsu), đã vượt qua một cách đặc biệt (uttariṃsu), đã vượt qua một cách riêng biệt (patariṃsu), đã đi qua (samatikkamiṃsu), đã vượt qua một cách đặc biệt (vītivattiṃsu) sanh, già, và chết (jātijarāmaraṇaṃ). “Thưa Ngài khả kính” (Mārisāti) là lời nói thân ái, lời nói tôn trọng, là danh xưng thể hiện sự tôn kính và kính trọng này – (đó là) “thưa Ngài khả kính”. – (Đây là ý nghĩa của câu) “đã vượt qua sanh và già, thưa Ngài khả kính”.
Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metanti. Pucchāmi tanti pucchāmi taṃ yācāmi taṃ ajjhesāmi taṃ, kathayassu meti pucchāmi taṃ. Bhagavāti…pe… sacchikā paññatti, yadidaṃ bhagavāti. Brūhi metanti brūhi ācikkhāhi desehi paññapehi paṭṭhapehi vivarāhi vibhajāhi uttānīkarohi pakāsehīti – pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ. Tenāha so brāhmaṇo –
'Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ.' 'Pucchāmi taṃ' means: I ask you, I entreat you, I request you; 'speak to me'—this is 'pucchāmi taṃ.' 'Bhagavā'... [and so on]... is a realized designation, that is, 'Bhagavā.' 'Brūhi metaṃ' means: speak, declare, teach, make known, establish, open up, analyze, make plain, reveal—thus, 'pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ.' Therefore, that brahmin said:
“Con xin hỏi Ngài, bạch Thế Tôn, xin hãy nói cho con điều ấy” (Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metanti). “Con xin hỏi Ngài” (Pucchāmi tanti) có nghĩa là: con xin hỏi Ngài (pucchāmi taṃ), con xin thỉnh cầu Ngài (yācāmi taṃ), con xin khẩn khoản Ngài (ajjhesāmi taṃ), xin hãy nói cho con (kathayassu me) – (đó là) “con xin hỏi Ngài”. “Thế Tôn” (Bhagavāti)... là một danh xưng chế định được chứng thực, tức là “Thế Tôn”. “Xin hãy nói cho con điều ấy” (Brūhi metanti) có nghĩa là: xin hãy nói (brūhi), hãy chỉ dạy (ācikkhāhi), hãy thuyết giảng (desehi), hãy làm cho biết (paññapehi), hãy thiết lập (paṭṭhapehi), hãy mở ra (vivarāhi), hãy phân tích (vibhajāhi), hãy làm cho rõ ràng (uttānīkarohi), hãy hiển thị (pakāsehi). – (Đây là ý nghĩa của câu) “Con xin hỏi Ngài, bạch Thế Tôn, xin hãy nói cho con điều ấy”. Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói:
‘‘Ye kecime samaṇabrāhmaṇāse, [iccāyasmā nando]
Diṭṭhassutenāpi vadanti suddhiṃ;
Sīlabbatenāpi vadanti suddhiṃ, anekarūpena vadanti suddhiṃ.
Whatever ascetics and brahmins there are, [thus spoke the Venerable Nanda] They declare purity by what is seen and heard; They declare purity also by virtue and observance; They declare purity in many various ways.
“Bất cứ Sa-môn, Bà-la-môn nào ở đây, [Trưởng lão Nanda đã nói:] họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng cái được thấy và được nghe; họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng giới và hạnh, họ nói về sự thanh tịnh bằng nhiều hình thức.”
‘‘Kaccissu te bhagavā tattha yatā carantā,
Atāru jātiñca jarañca mārisa;
Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi meta’’nti.
O Blessed One, did they, conducting themselves with restraint therein, cross over birth and aging, venerable sir? I ask you, O Blessed One, tell me this.
“Bạch Thế Tôn, phải chăng những vị ấy, khi đã nỗ lực thực hành ở nơi ấy, đã vượt qua sanh và già, thưa Ngài khả kính? Con xin hỏi Ngài, bạch Thế Tôn, xin hãy nói cho con điều ấy.”
49.
49.
49.
Ye kecime samaṇabrāhmaṇāse, [nandāti bhagavā]
Diṭṭhassutenāpi vadanti suddhiṃ;
Sīlabbatenāpi vadanti suddhiṃ, anekarūpena vadanti suddhiṃ;
Kiñcāpi te tattha yatā caranti, nātariṃsu jātijaranti brūmi.
Whatever ascetics and brahmins there may be, Nanda, said the Blessed One, who declare purity by what is seen or heard, who declare purity by morality and vows, who declare purity in various ways—though they strive in that, I say they have not overcome birth and aging.
“[Thế Tôn phán:] Này Nanda, bất cứ Sa-môn, Bà-la-môn nào ở đây, họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng cái được thấy và được nghe; họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng giới và hạnh, họ nói về sự thanh tịnh bằng nhiều hình thức; dù cho họ đã nỗ lực thực hành ở nơi ấy, Ta nói rằng họ không vượt qua được sanh và già.”
Ye kecime samaṇabrāhmaṇāseti. Ye kecīti sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ asesaṃ nissesaṃ pariyādiyanavacanametaṃ – ye kecīti. Samaṇāti ye keci ito bahiddhā pabbajjūpagatā paribbājakasamāpannā. Brāhmaṇāti ye keci bhovādikāti – ye kecime samaṇabrāhmaṇāse. Nandāti bhagavāti. Nandāti bhagavā taṃ brāhmaṇaṃ nāmena ālapati. Bhagavāti gāravādhivacanametaṃ…pe… sacchikā paññatti, yadidaṃ bhagavāti – nandāti bhagavā.
Regarding 'Whatever ascetics and brahmins there are.' 'Whatever' is a term of complete inclusion, meaning: in every way, entirely, without remainder, and without exception. 'Ascetics' refers to all those outside this Dispensation who have gone forth and are accomplished wanderers. 'Brahmins' refers to all those who are accustomed to saying 'bho'—these are the ascetics and brahmins. Regarding 'Nanda, said the Blessed One.' 'Nanda'—the Blessed One addressed him by name.
“Bất cứ Sa-môn, Bà-la-môn nào ở đây” (Ye kecime samaṇabrāhmaṇāseti). “Bất cứ ai” (Ye kecīti) có nghĩa là tất cả, toàn bộ, mọi cách, không sót, không trừ, đây là lời bao trùm – (đó là) “bất cứ ai”. “Sa-môn” (Samaṇāti) là bất cứ ai đã xuất gia, đã trở thành du sĩ ở ngoài giáo pháp này. “Bà-la-môn” (Brāhmaṇāti) là bất cứ ai có thói quen xưng hô “bho”. – (Đây là ý nghĩa của câu) “Bất cứ Sa-môn, Bà-la-môn nào ở đây”. “Này Nanda, Thế Tôn” (Nandāti bhagavā). “Này Nanda” (Nandāti) là Thế Tôn gọi vị Bà-la-môn ấy bằng tên. “Thế Tôn” (Bhagavāti) là danh xưng tôn kính này... là một danh xưng chế định được chứng thực, tức là “Thế Tôn” – (đó là) “Này Nanda, Thế Tôn”.
Diṭṭhassutenāpi vadanti suddhinti diṭṭhenapi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti; sutenapi suddhiṃ…pe… diṭṭhassutenapi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – diṭṭhassutenāpi vadanti suddhiṃ.
Regarding 'They declare purity by what is seen and heard.' By what is seen, they declare, proclaim, recite, explain, and express purity, special purity, complete purity, liberation, special liberation, and complete liberation; by what is heard… and so on… by what is seen and heard, they declare, proclaim, recite, explain, and express purity, special purity, complete purity, liberation, special liberation, and complete liberation—thus, 'They declare purity by what is seen and heard.'
“Họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng cái được thấy và được nghe” (diṭṭhassutenāpi vadanti suddhiṃti) có nghĩa là: Cũng bằng cái được thấy (diṭṭhenapi), họ nói (vadanti), họ kể (kathenti), họ đọc (bhaṇanti), họ làm cho rõ (dīpayanti), họ gọi (voharanti) về sự trong sạch (suddhiṃ), sự trong sạch đặc biệt (visuddhiṃ), sự trong sạch toàn diện (parisuddhiṃ), sự giải thoát (muttiṃ), sự giải thoát đặc biệt (vimuttiṃ), sự giải thoát toàn diện (parimuttiṃ); cũng bằng cái được nghe (sutenapi)...; cũng bằng cái được thấy và được nghe (diṭṭhassutenapi), họ nói, họ kể, họ đọc, họ làm cho rõ, họ gọi về sự trong sạch, sự trong sạch đặc biệt, sự trong sạch toàn diện, sự giải thoát, sự giải thoát đặc biệt, sự giải thoát toàn diện. – (Đây là ý nghĩa của câu) “Họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng cái được thấy và được nghe”.
Sīlabbatenāpi vadanti suddhinti sīlenapi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti; vatenapi suddhiṃ…pe… voharanti; sīlabbatenāpi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – sīlabbatenāpi vadanti suddhiṃ.
Regarding 'They declare purity by virtue and vows.' By virtue, they declare, proclaim, recite, explain, and express purity, special purity, complete purity, liberation, special liberation, and complete liberation; by vows… and so on… they express; by virtue and vows, they declare, proclaim, recite, explain, and express purity, special purity, complete purity, liberation, special liberation, and complete liberation—thus, 'They declare purity by virtue and vows.'
“Họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng giới và hạnh” (sīlabbatenāpi vadanti suddhiṃti) có nghĩa là: Cũng bằng giới (sīlenapi), họ nói (vadanti), họ kể (kathenti), họ đọc (bhaṇanti), họ làm cho rõ (dīpayanti), họ gọi (voharanti) về sự trong sạch (suddhiṃ), sự trong sạch đặc biệt (visuddhiṃ), sự trong sạch toàn diện (parisuddhiṃ), sự giải thoát (muttiṃ), sự giải thoát đặc biệt (vimuttiṃ), sự giải thoát toàn diện (parimuttiṃ); cũng bằng hạnh (vatenapi)... họ gọi; cũng bằng giới và hạnh (sīlabbatenāpi), họ nói, họ kể, họ đọc, họ làm cho rõ, họ gọi về sự trong sạch, sự trong sạch đặc biệt, sự trong sạch toàn diện, sự giải thoát, sự giải thoát đặc biệt, sự giải thoát toàn diện. – (Đây là ý nghĩa của câu) “Họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng giới và hạnh”.
Anekarūpena vadanti suddhinti anekavidhakotūhalamaṅgalena suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – anekarūpena vadanti suddhiṃ.
Regarding 'They declare purity in various ways.' They declare and proclaim purity, special purity, complete purity, liberation, special liberation, and complete liberation through various kinds of festive auspicious rites—thus, 'They declare purity in various ways.'
“Họ nói về sự thanh tịnh bằng nhiều hình thức” (anekarūpena vadanti suddhiṃti) có nghĩa là: Bằng các điềm lành ồn ào, đa dạng (anekavidhakotūhalamaṅgalena), họ nói (vadanti), họ kể (kathenti), họ đọc (bhaṇanti), họ làm cho rõ (dīpayanti), họ gọi (voharanti) về sự trong sạch (suddhiṃ), sự trong sạch đặc biệt (visuddhiṃ), sự trong sạch toàn diện (parisuddhiṃ), sự giải thoát (muttiṃ), sự giải thoát đặc biệt (vimuttiṃ), sự giải thoát toàn diện (parimuttiṃ). – (Đây là ý nghĩa của câu) “Họ nói về sự thanh tịnh bằng nhiều hình thức”.
Kiñcāpi te tattha yatā carantīti. Kiñcāpīti padasandhi padasaṃsaggo padapāripūrī akkharasamavāyo byañjanasiliṭṭhatā padānupubbatāpetaṃ – kiñcāpīti. Teti diṭṭhigatikā. Tatthāti sakāya diṭṭhiyā sakāya khantiyā sakāya ruciyā sakāya laddhiyā. Yatāti yattā paṭiyattā guttā gopitā rakkhitā saṃvutā. Carantīti caranti viharanti iriyanti vattenti pālenti yapenti yāpentīti – kiñcāpi te tattha yatā caranti.
“Even though they conduct themselves there restrained.” “Even though” is a joining of words, a combination of words, a completion of words, a harmony of letters, a smoothness of consonants, a sequence of words—this is “even though.” “They” refers to those who hold certain views. “There” means in their own view, in their own preference, in their own inclination, in their own doctrine. “Restrained” means diligent, constantly diligent, secured, guarded, protected, controlled. “Conduct themselves” means they conduct themselves, they dwell, they maintain their postures, they practice, they maintain, they subsist, they carry on—thus, “even though they conduct themselves there restrained.”
Kiñcāpi te tattha yatā carantīti. Kiñcāpīti là sự liên kết các từ, sự phối hợp các từ, sự bổ túc cho câu, sự tập hợp các mẫu tự, sự trôi chảy của phụ âm, là từ theo sau các từ – ấy là kiñcāpi. Teti là những người có tà kiến. Tatthāti là ở trong tà kiến của mình, trong sự kham nhẫn của mình, trong sở thích của mình, trong chủ thuyết của mình. Yatāti là đã được nỗ lực, đã được chuẩn bị, đã được phòng hộ, đã được trông nom, đã được bảo vệ, đã được thu thúc. Carantīti là họ hành trì, họ trú ngụ, họ đi đứng, họ thực hành, họ gìn giữ, họ nuôi mạng, họ duy trì sự sống – (nghĩa là) dầu cho họ ở nơi ấy có sự nỗ lực và hành trì.
Nātariṃsu jātijaranti brūmīti jātijarāmaraṇaṃ na tariṃsu na uttariṃsu na patariṃsu na samatikkamiṃsu na vītivattiṃsu, jātijarāmaraṇā anikkhantā anissaṭā anatikkantā asamatikkantā avītivattā, antojātijarāmaraṇe parivattenti, antosaṃsārapathe parivattenti, jātiyā anugatā, jarāya anusaṭā, byādhinā abhibhūtā, maraṇena abbhāhatā atāṇā aleṇā asaraṇā asaraṇībhūtāti brūmi ācikkhāmi desemi paññapemi paṭṭhapemi vivarāmi vibhajāmi uttānīkaromi pakāsemīti – nātariṃsu jātijaranti brūmi. Tenāha bhagavā –
“They did not cross over birth and aging, I say.” They did not cross over, did not go beyond, did not get past, did not completely cross over, did not overcome birth, aging, and death. From birth, aging, and death they have not departed, have not been released, have not gone beyond, have not completely gone beyond, have not overcome. They revolve within birth, aging, and death; they revolve within the path of saṃsāra. They are followed by birth, pervaded by aging, overwhelmed by sickness, afflicted by death—without protection, without shelter, without refuge, having become no refuge. I say, I declare, I teach, I make known, I establish, I reveal, I analyze, I make plain, I explain: “They did not cross over birth and aging,” I say. Therefore, the Blessed One said:
Nātariṃsu jātijaranti brūmīti là (họ) đã không vượt qua, đã không vượt lên, đã không vượt khỏi, đã không siêu việt, đã không khắc phục được sanh, già, và chết; họ đã không xuất ly, không thoát khỏi, không vượt qua, không siêu việt, không khắc phục được sanh, già, và chết; họ luân chuyển ở bên trong sanh, già, và chết; họ luân chuyển ở bên trong con đường luân hồi; họ bị sanh theo đuổi, bị già lan khắp, bị bệnh chinh phục, bị chết áp bức; không được che chở, không có nơi ẩn náu, không có nơi nương tựa, không trở thành nơi nương tựa. Brūmi là ta nói, ta trình bày, ta thuyết giảng, ta tuyên bố, ta thiết lập, ta khai mở, ta phân tích, ta làm cho rõ ràng, ta hiển thị – (nghĩa là) ta nói rằng họ đã không vượt qua sanh và già. Do vậy, đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Ye kecime samaṇabrāhmaṇāse, [nandāti bhagavā]
Diṭṭhassutenāpi vadanti suddhiṃ;
“Whatever ascetics and brahmins there are, Nanda,” said the Blessed One, “who speak of purity based on what is seen or heard,
“Này Nanda, bất cứ những Sa-môn, Bà-la-môn nào, họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng điều được thấy và được nghe;
Sīlabbatenāpi vadanti suddhiṃ, anekarūpena vadanti suddhiṃ;
Kiñcāpi te tattha yatā caranti, nātariṃsu jātijaranti brūmī’’ti.
Who speak of purity also by precepts and vows, and speak of purity in various ways; though they conduct themselves there restrained, they have not crossed over birth and aging, I say.”
Họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng giới và hạnh, họ nói về sự thanh tịnh bằng nhiều hình thức; Dầu cho họ ở nơi ấy có sự nỗ lực và hành trì, Ta nói rằng họ đã không vượt qua sanh và già.”
50.
50.
50.
Ye kecime samaṇabrāhmaṇāse, [iccāyasmā nando]
Diṭṭhassutenāpi vadanti suddhiṃ;
Sīlabbatenāpi vadanti suddhiṃ, anekarūpena vadanti suddhiṃ.
“Whatever ascetics and brahmins there are,” said the Venerable Nanda, “who declare purity by what is seen or heard, who declare purity by precepts and vows, who declare purity in various ways.
(Tôn giả Nanda thưa rằng:) “Bất cứ những Sa-môn, Bà-la-môn nào, họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng điều được thấy và được nghe; Họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng giới và hạnh, họ nói về sự thanh tịnh bằng nhiều hình thức.
Te ce munī brūsi anoghatiṇṇe, atha ko carahi devamanussaloke;
Atāri jātiñca jarañca mārisa, pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ.
O Sage, if you say they have not crossed the flood, then who indeed, O venerable one, in this world of devas and humans has crossed over birth and aging? I ask you this, O Blessed One, please tell it to me.”
Thưa bậc Mâu-ni, nếu Ngài nói rằng họ chưa vượt qua bộc lưu, vậy thì, thưa Ngài, ở trong thế giới của chư Thiên và nhân loại, ai đã vượt qua được sanh và già? Con xin hỏi Ngài, đức Thế Tôn, xin hãy nói điều ấy cho con.
Ye kecime samaṇabrāhmaṇāseti. Ye kecīti sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ asesaṃ nissesaṃ pariyādiyanavacanametaṃ – ye kecīti. Samaṇāti ye keci ito bahiddhā pabbajjūpagatā paribbājakasamāpannā. Brāhmaṇāti ye keci bhovādikāti – ye kecime samaṇabrāhmaṇāse. Iccāyasmā nandoti. Iccāti padasandhi…pe… iccāyasmā nando.
"Whatever ascetics and brahmins there are." 'Whatever' (ye keci) is a term that encompasses all: completely, in every way, entirely, without remainder, without omission. 'Ascetics' (samaṇā) refers to any who, outside of this Dispensation, have gone forth and entered upon the life of wanderers. 'Brahmins' (brāhmaṇā) refers to any who use the address 'bho'. This is the meaning of 'Whatever ascetics and brahmins there are.' Thus, the Venerable Nanda asked.
Ye kecime samaṇabrāhmaṇāseti. Ye kecīti là một cách toàn diện, là trong mọi phương diện, là không còn sót lại, là không có dư sót. Từ ye keci này là lời nói bao hàm trọn vẹn. Samaṇāti là bất cứ ai đã xuất gia ở ngoài giáo pháp này, đã trở thành người du sĩ. Brāhmaṇāti là bất cứ ai có lời xưng hô “này ông” – (nghĩa là) bất cứ những Sa-môn, Bà-la-môn nào. Iccāyasmā nandoti. Iccāti là sự liên kết các từ… (v.v.)… iccāyasmā nando (Tôn giả Nanda thưa rằng).
Diṭṭhassutenāpi vadanti suddhinti diṭṭhenapi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti; sutenāpi suddhiṃ…pe… diṭṭhassutenāpi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – diṭṭhassutenāpi vadanti suddhiṃ.
"They declare purity even through what is seen and heard." Even through what is seen, they declare, state, recite, explain, and express purity, special purity, complete purity, release, liberation, and complete release; even through what is heard... and so on... even through what is seen and heard, they declare, state, recite, explain, and express purity, special purity, complete purity, release, liberation, and complete release. This is the meaning of "They declare purity even through what is seen and heard."
Diṭṭhassutenāpi vadanti suddhinti là cũng bằng điều được thấy, họ nói, họ kể, họ đọc, họ chỉ ra, họ tuyên bố về sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự giải thoát trọn vẹn; cũng bằng điều được nghe… (v.v.)… cũng bằng điều được thấy và được nghe, họ nói, họ kể, họ đọc, họ chỉ ra, họ tuyên bố về sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự giải thoát trọn vẹn – (nghĩa là) họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng điều được thấy và được nghe.
Sīlabbatenāpi vadanti suddhinti sīlenāpi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti; vatenāpi suddhiṃ…pe… voharanti; sīlabbatenāpi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – sīlabbatenāpi vadanti suddhiṃ.
"They declare purity even through virtuous conduct and observances." Even through virtuous conduct, they declare, state, recite, explain, and express purity, special purity, complete purity, release, liberation, and complete release; even through observances... and so on... they express; even through virtuous conduct and observances, they declare, state, recite, explain, and express purity, special purity, complete purity, release, liberation, and complete release. This is the meaning of "They declare purity even through virtuous conduct and observances."
Sīlabbatenāpi vadanti suddhinti là cũng bằng giới, họ nói, họ kể, họ đọc, họ chỉ ra, họ tuyên bố về sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự giải thoát trọn vẹn; cũng bằng hạnh… (v.v.)… họ tuyên bố; cũng bằng giới và hạnh, họ nói, họ kể, họ đọc, họ chỉ ra, họ tuyên bố về sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự giải thoát trọn vẹn – (nghĩa là) họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng giới và hạnh.
Anekarūpena vadanti suddhinti anekavidhakotūhalamaṅgalena suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – anekarūpena vadanti suddhiṃ.
"They declare purity through manifold forms." Through various kinds of exciting and auspicious rites, they declare, state, recite, explain, and express purity, special purity, complete purity, release, liberation, and complete release. This is the meaning of "They declare purity through manifold forms."
Anekarūpena vadanti suddhinti là bằng nhiều loại điềm lành và sự hiếu kỳ, họ nói, họ kể, họ đọc, họ chỉ ra, họ tuyên bố về sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự giải thoát trọn vẹn – (nghĩa là) họ nói về sự thanh tịnh bằng nhiều hình thức.
Te ce munī brūsi anoghatiṇṇeti. Te ceti diṭṭhigatike. Munīti monaṃ vuccati ñāṇaṃ…pe… saṅgajālamaticca so muni. Brūsi anoghatiṇṇeti kāmoghaṃ bhavoghaṃ diṭṭhoghaṃ avijjoghaṃ atiṇṇe anatikkante asamatikkante avītivatte antojātijarāmaraṇe parivattente antosaṃsārapathe parivattente jātiyā anugate jarāya anusaṭe byādhinā abhibhūte maraṇena abbhāhate atāṇe aleṇe asaraṇe asaraṇībhūte. Brūsīti brūsi ācikkhasi desesi paññapesi paṭṭhapesi vivarasi vibhajasi uttānīkarosi pakāsesīti – te ce munī brūsi anoghatiṇṇe.
You, Sage, say they have not crossed the flood. 'They' refers to those who hold the view that purity is through what is seen and heard. 'Sage': wisdom is called 'mona'… having gone beyond the net of attachments, he is a sage. 'You say they have not crossed the flood' means they have not crossed, not overcome, not completely overcome, not gone beyond the flood of sensuality, the flood of existence, the flood of views, and the flood of ignorance. They revolve within birth, aging, and death; they revolve within the path of saṃsāra; they are pursued by birth, pervaded by aging, overwhelmed by sickness, and afflicted by death; they are without protection, without shelter, without refuge, and have become unable to be a refuge for others. 'You say' means you say, declare, teach, make known, establish, reveal, analyze, make plain, and show clearly—you, Sage, say they have not crossed the flood.
Te ce munī brūsi anoghatiṇṇeti. Te ceti là những người có tà kiến. Munīti là trí tuệ được gọi là sự tịch tịnh… (v.v.)… vị ấy là bậc Mâu-ni do đã vượt qua lưới ái. Brūsi anoghatiṇṇeti là (họ) chưa vượt qua, chưa đi khỏi, chưa siêu việt, chưa khắc phục được dục bộc, hữu bộc, kiến bộc, vô minh bộc; họ luân chuyển ở bên trong sanh, già, và chết; họ luân chuyển ở bên trong con đường luân hồi; họ bị sanh theo đuổi, bị già lan khắp, bị bệnh chinh phục, bị chết áp bức; không được che chở, không có nơi ẩn náu, không có nơi nương tựa, không trở thành nơi nương tựa. Brūsīti là Ngài nói, Ngài trình bày, Ngài thuyết giảng, Ngài tuyên bố, Ngài thiết lập, Ngài khai mở, Ngài phân tích, Ngài làm cho rõ ràng, Ngài hiển thị – (nghĩa là) thưa bậc Mâu-ni, nếu Ngài nói rằng họ chưa vượt qua bộc lưu.
Atha ko carahi devamanussaloke, atāri jātiñca jarañca mārisāti atha ko eso sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya jātijarāmaraṇaṃ atari uttari patari samatikkami vītivattayi. Mārisāti piyavacanaṃ garuvacanaṃ sagāravasappatissādhivacanametaṃ mārisāti – atha ko carahi devamanussaloke, atāri jātiñca jarañca mārisa.
Then who, indeed, in this world of devas and humans, has crossed over birth and aging, dear sir? This means: Who is it that, in the world with its devas, Māras, and Brahmās, in this generation with its recluses and brahmins, its devas and humans, has crossed over, transcended, overcome, and gone beyond birth, aging, and death? 'Mārisa' is an endearing term, a respectful term, a term of deference and reverence. Thus it is said: 'Then who, indeed, in this world of devas and humans, has crossed over birth and aging, dear sir?'
Atha ko carahi devamanussaloke, atāri jātiñca jarañca mārisāti là vậy thì ai là người, ở trong thế giới cùng với chư Thiên, cùng với Ma vương, cùng với Phạm thiên, trong thế hệ chúng sanh cùng với các Sa-môn và Bà-la-môn, cùng với chư Thiên và nhân loại, đã vượt qua, đã vượt lên, đã vượt khỏi, đã siêu việt, đã khắc phục được sanh, già, và chết? Mārisāti là lời nói thân ái, lời nói tôn trọng, là lời nói được thốt ra với sự kính trọng và tuân phục – (nghĩa là) vậy thì, thưa Ngài, ở trong thế giới của chư Thiên và nhân loại, ai đã vượt qua được sanh và già?
Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metanti. Pucchāmi tanti pucchāmi taṃ yācāmi taṃ ajjhesāmi taṃ pasādemi taṃ. Bhagavāti gāravādhivacanametaṃ…pe… sacchikā paññatti, yadidaṃ bhagavāti. Brūhi metanti brūhi ācikkhāhi desehi paññapehi paṭṭhapehi vivarāhi vibhajāhi uttānīkarohi pakāsehīti – pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ. Tenāha so brāhmaṇo –
I ask you, Blessed One, tell me this. 'I ask you' means I ask you, I request you, I implore you, I appeal to you. 'Blessed One' is a term of reverence… up to… a directly realized designation, namely, 'Blessed One.' 'Tell me this' means tell, declare, teach, make known, establish, reveal, analyze, make plain, and show clearly—I ask you, Blessed One, tell me this. Therefore, that brahmin said:
Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metanti. Pucchāmi tanti là con xin hỏi Ngài, con van xin Ngài, con thỉnh cầu Ngài, con khẩn khoản Ngài. Bhagavāti là danh xưng tôn kính… (v.v.)… là danh hiệu chế định đã được chứng ngộ, tức là bhagavā. Brūhi metanti là xin hãy nói, hãy trình bày, hãy thuyết giảng, hãy tuyên bố, hãy thiết lập, hãy khai mở, hãy phân tích, hãy làm cho rõ ràng, hãy hiển thị điều ấy cho con – (nghĩa là) con xin hỏi Ngài, đức Thế Tôn, xin hãy nói điều ấy cho con. Do vậy, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng –
‘‘Ye kecime samaṇabrāhmaṇāse, [iccāyasmā nando]
Diṭṭhassutenāpi vadanti suddhiṃ;
Sīlabbatenāpi vadanti suddhiṃ, anekarūpena vadanti suddhiṃ.
“Whatever recluses and brahmins there may be, [said Venerable Nanda,] who declare purity by what is seen or heard; who declare purity by moral practices and vows; who declare purity in various ways.
“Bất cứ những Sa-môn, Bà-la-môn nào, (Tôn giả Nanda thưa rằng) họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng điều được thấy và được nghe; Họ nói về sự thanh tịnh cũng bằng giới và hạnh, họ nói về sự thanh tịnh bằng nhiều hình thức.
Te ce munī brūsi anoghatiṇṇe, atha ko carahi devamanussaloke;
Atāri jātiñca jarañca mārisa, pucchāmi taṃ bhagavā brūhi meta’’nti.
You say, O Sage, that those very ones have not crossed the flood; if so, then who in this world of devas and humans has crossed over birth and aging, dear sir? I ask you, Blessed One, tell me this.”
Thưa bậc Mâu-ni, nếu Ngài nói rằng họ chưa vượt qua bộc lưu, vậy thì, thưa Ngài, ở trong thế giới của chư Thiên và nhân loại, ai đã vượt qua được sanh và già? Con xin hỏi Ngài, đức Thế Tôn, xin hãy nói điều ấy cho con.”
51.
51.
51.
Nāhaṃ sabbe samaṇabrāhmaṇāse, [nandāti bhagavā]
Jātijarāya nivutāti brūmi;
Ye sīdha diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā, sīlabbataṃ vāpi pahāya sabbaṃ.
“Nanda, I do not say that all ascetics and brahmins are obstructed by birth and aging. Those who here, having abandoned all that is seen, heard, or sensed, and also moral conduct and observances,”
Này Nanda, Ta không nói rằng tất cả Sa-môn, Bà-la-môn đều bị che đậy bởi sanh và già; những vị nào ở đây, sau khi đã từ bỏ tất cả những gì được thấy, hoặc được nghe, hoặc được cảm nhận, hoặc giới và hạnh.
Anekarūpampi pahāya sabbaṃ, taṇhaṃ pariññāya anāsavāse † ;
Te ve narā oghatiṇṇāti brūmi.
“Having abandoned all of the many various kinds, and having fully understood and abandoned craving, they are without taints. Those persons, indeed, I declare to be ‘ones who have crossed the flood’.”
Sau khi đã từ bỏ tất cả những thứ có nhiều hình thức, sau khi đã liễu tri ái, không còn lậu hoặc; Ta nói rằng những người ấy, thật vậy, đã vượt qua bộc lưu.
Nāhaṃ sabbe samaṇabrāhmaṇāse, nandāti bhagavā jātijarāya nivutāti brūmīti nāhaṃ, nanda, sabbe samaṇabrāhmaṇā jātijarāya āvutā nivutā ovutā pihitā paṭicchannā paṭikujjitāti vadāmi. Atthi te samaṇabrāhmaṇā yesaṃ jāti ca jarāmaraṇañca pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammāti brūmi ācikkhāmi desemi paññapemi paṭṭhapemi vivarāmi vibhajāmi uttānīkaromi pakāsemīti – nāhaṃ sabbe samaṇabrāhmaṇāse nandāti bhagavā jātijarāya nivutāti brūmi.
‘Nanda, I do not say that all ascetics and brahmins are obstructed by birth and aging.’ This means: I do not say, Nanda, that all ascetics and brahmins are barred, obstructed, covered over, closed, concealed, and turned upside down by birth and aging. There are those ascetics and brahmins for whom birth, aging, and death have been abandoned, cut off at the root, made like a palm-tree stump, brought to a state of non-becoming, and are of a nature not to arise again in the future. This I declare, I state, I teach, I make known, I establish, I open up, I analyze, I make plain, and I illuminate. Thus: ‘Nanda, I do not say that all ascetics and brahmins are obstructed by birth and aging.’
Về câu: 'Này Nanda, Ta không nói rằng tất cả Sa-môn, Bà-la-môn đều bị che đậy bởi sanh và già,' (có nghĩa là): Này Nanda, Ta không nói rằng tất cả Sa-môn, Bà-la-môn bị sanh và già ngăn che, che đậy, bao phủ, che kín, che lấp, úp lại. Có những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, những vị mà sanh, già và chết đã được đoạn tận, đã được nhổ tận gốc rễ, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không còn hiện hữu, có bản chất không sanh khởi trong tương lai. Ta nói, Ta chỉ rõ, Ta thuyết giảng, Ta trình bày, Ta thiết lập, Ta khai mở, Ta phân tích, Ta làm cho hiển lộ, Ta làm cho sáng tỏ. – (Đây là ý nghĩa của câu) 'Này Nanda, Ta không nói rằng tất cả Sa-môn, Bà-la-môn đều bị che đậy bởi sanh và già.'
Ye sīdha diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā, sīlabbataṃ vāpi pahāya sabbanti ye sabbā diṭṭhasuddhiyo pahāya jahitvā pajahitvā vinodetvā byantīkaritvā anabhāvaṃ gametvā. Ye sabbā sutasuddhiyo pahāya…pe… ye sabbā mutasuddhiyo pahāya, ye sabbā diṭṭhasutamutasuddhiyo pahāya ye sabbā sīlasuddhiyo pahāya, ye sabbā vatasuddhiyo pahāya, ye sabbā sīlabbatasuddhiyo pahāya jahitvā pajahitvā vinodetvā byantīkaritvā anabhāvaṃ gametvāti – ye sīdha diṭṭhaṃva sutaṃ mutaṃ vā, sīlabbataṃ vāpi pahāya sabbaṃ.
‘Those who here, having abandoned all that is seen, heard, or sensed, and also moral conduct and observances.’ This means: those who, having abandoned, forsaken, relinquished, dispelled, made an end of, and brought to a state of non-becoming all purifications by means of seeing; those who, having abandoned… all purifications by means of hearing; …all purifications by means of sensing; …all purifications by means of what is seen, heard, and sensed; …all purifications by means of moral conduct; …all purifications by means of observances; those who, having abandoned, forsaken, relinquished, dispelled, made an end of, and brought to a state of non-becoming all purifications by means of moral conduct and observances. Thus: ‘Those who here, having abandoned all that is seen, heard, or sensed, and also moral conduct and observances.’
Về câu: 'Những vị nào ở đây, sau khi đã từ bỏ tất cả những gì được thấy, hoặc được nghe, hoặc được cảm nhận, hoặc giới và hạnh,' (có nghĩa là): những vị nào, sau khi đã từ bỏ, đoạn trừ, loại bỏ, trừ diệt, làm cho không còn hiện hữu tất cả các sự thanh tịnh do sở kiến. Những vị nào, sau khi đã từ bỏ tất cả các sự thanh tịnh do sở văn... v.v... những vị nào, sau khi đã từ bỏ tất cả các sự thanh tịnh do sở xúc, những vị nào, sau khi đã từ bỏ tất cả các sự thanh tịnh do sở kiến, sở văn, sở xúc, những vị nào, sau khi đã từ bỏ tất cả các sự thanh tịnh do giới, những vị nào, sau khi đã từ bỏ tất cả các sự thanh tịnh do hạnh, những vị nào, sau khi đã từ bỏ, đoạn trừ, loại bỏ, trừ diệt, làm cho không còn hiện hữu tất cả các sự thanh tịnh do giới và hạnh. – (Đây là ý nghĩa của câu) 'Những vị nào ở đây, sau khi đã từ bỏ tất cả những gì được thấy, hoặc được nghe, hoặc được cảm nhận, hoặc giới và hạnh.'
Anekarūpampi pahāya sabbanti anekavidhakotūhalamaṅgalena suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ pahāya jahitvā pajahitvā vinodetvā byantīkaritvā anabhāvaṃ gametvāti – anekarūpampi pahāya sabbaṃ.
‘Having abandoned all of the many various kinds.’ This means: having abandoned, forsaken, relinquished, dispelled, made an end of, and brought to a state of non-becoming the belief in purity, special purity, complete purity, release, special release, and complete release by means of various kinds of auspicious and exciting rites. Thus: ‘Having abandoned all of the many various kinds.’
Về câu: 'Sau khi đã từ bỏ tất cả những thứ có nhiều hình thức,' (có nghĩa là): sau khi đã từ bỏ, đoạn trừ, loại bỏ, trừ diệt, làm cho không còn hiện hữu sự thanh tịnh, sự đặc biệt thanh tịnh, sự hoàn toàn thanh tịnh, sự giải thoát, sự đặc biệt giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát bằng các điềm lành hiếu kỳ đa dạng. – (Đây là ý nghĩa của câu) 'Sau khi đã từ bỏ tất cả những thứ có nhiều hình thức.'
Taṇhaṃ pariññāya anāsavā se, te ve narā oghatiṇṇāti brūmīti. Taṇhāti rūpataṇhā saddataṇhā gandhataṇhā rasataṇhā phoṭṭhabbataṇhā dhammataṇhā. Taṇhaṃ pariññāyāti taṇhaṃ tīhi pariññāhi parijānitvā – ñātapariññāya, tīraṇapariññāya, pahānapariññāya. Katamā ñātapariññā? Taṇhaṃ jānāti † ‘‘ayaṃ rūpataṇhā, ayaṃ saddataṇhā, ayaṃ gandhataṇhā, ayaṃ rasataṇhā, ayaṃ phoṭṭhabbataṇhā, ayaṃ dhammataṇhā’’ti jānāti passati – ayaṃ ñātapariññā.
“Having fully understood craving, they are without taints; these indeed are the people who have crossed the flood, I declare.” Craving: craving for forms, craving for sounds, craving for smells, craving for tastes, craving for tactile objects, craving for mental phenomena. 'Having fully understood craving' means having fully understood craving by means of three kinds of full understanding—full understanding by knowledge, full understanding by investigation, full understanding by abandonment. What is full understanding by knowledge? One knows: 'This is craving for forms, this is craving for sounds, this is craving for smells, this is craving for tastes, this is craving for tactile objects, this is craving for mental phenomena'—one knows and sees. This is full understanding by knowledge.
Về câu: 'Sau khi đã liễu tri ái, không còn lậu hoặc; Ta nói rằng những người ấy, thật vậy, đã vượt qua bộc lưu.' Ái là: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. 'Liễu tri ái' là sau khi đã liễu tri ái bằng ba loại liễu tri – biến tri, thẩm sát tri, đoạn tận tri. Biến tri là gì? Vị ấy biết ái: 'Đây là sắc ái, đây là thanh ái, đây là hương ái, đây là vị ái, đây là xúc ái, đây là pháp ái,' vị ấy biết, vị ấy thấy – đây là biến tri.
Katamā tīraṇapariññā? Evaṃ ñātaṃ katvā taṇhaṃ tīreti aniccato dukkhato rogato gaṇḍato…pe… nissaraṇato tīreti – ayaṃ tīraṇapariññā.
What is full understanding by investigation? Having thus known, one investigates craving as impermanent, as suffering, as a disease, as a tumor... as an escape. This is full understanding by investigation.
Thẩm sát tri là gì? Sau khi đã biết như vậy, vị ấy thẩm sát ái là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt... v.v... là sự xuất ly, vị ấy thẩm sát – đây là thẩm sát tri.
Katamā pahānapariññā? Evaṃ tīrayitvā taṇhaṃ pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gameti. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘yo, bhikkhave, taṇhāya chandarāgo taṃ pajahatha. Evaṃ sā taṇhā pahīnā bhavissati ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā’’. Ayaṃ pahānapariññā. Taṇhaṃ pariññāyāti taṇhaṃ imāhi tīhi pariññāhi parijānitvā. Anāsavāti cattāro āsavā – kāmāsavo, bhavāsavo, diṭṭhāsavo, avijjāsavo. Yesaṃ ime āsavā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā, te vuccanti anāsavā arahanto khīṇāsavā – taṇhaṃ pariññāya anāsavā.
What is full understanding by abandonment? Having thus investigated, one abandons craving, dispels it, destroys it, makes it cease, brings it to non-existence. For this was said by the Blessed One: 'Bhikkhus, whatever desire and lust there is for craving, abandon that. Thus, that craving will be abandoned, cut off at the root, made like a palm stump, brought to non-existence, and no longer subject to future arising.' This is full understanding by abandonment. 'Having fully understood craving' means having fully understood craving by means of these three kinds of full understanding. 'Without taints' refers to the four taints: the taint of sensual desire, the taint of existence, the taint of views, and the taint of ignorance. For those who have abandoned these taints, cut them off at the root, made them like palm stumps, brought them to non-existence, and made them no longer subject to future arising, they are called 'without taints,' arahants whose taints are destroyed. Thus it is said: 'Having fully understood craving, without taints.'
Đoạn tận tri là gì? Sau khi đã thẩm sát như vậy, vị ấy từ bỏ, loại bỏ, trừ diệt, làm cho ái không còn hiện hữu. Điều này đã được Đức Thế Tôn nói: 'Này các Tỳ khưu, dục và tham nào đối với ái, các thầy hãy từ bỏ điều ấy. Như vậy, ái ấy sẽ được đoạn tận, được nhổ tận gốc rễ, được làm cho như thân cây ta-la, được làm cho không còn hiện hữu, có bản chất không sanh khởi trong tương lai.' Đây là đoạn tận tri. 'Liễu tri ái' là sau khi đã liễu tri ái bằng ba loại liễu tri này. 'Không lậu hoặc' là có bốn lậu hoặc – dục lậu, hữu lậu, kiến lậu, vô minh lậu. Những vị nào mà các lậu hoặc này đã được đoạn tận, đã được nhổ tận gốc rễ, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không còn hiện hữu, có bản chất không sanh khởi trong tương lai, các vị ấy được gọi là bậc vô lậu, bậc A-la-hán, bậc đã tận trừ các lậu hoặc – (đó là ý nghĩa của) 'sau khi đã liễu tri ái, không còn lậu hoặc'.
Te ve narā oghatiṇṇāti brūmīti ye taṇhaṃ pariññāya anāsavā, te kāmoghaṃ tiṇṇā bhavoghaṃ tiṇṇā diṭṭhoghaṃ tiṇṇā avijjoghaṃ tiṇṇā sabbasaṃsārapathaṃ tiṇṇā uttiṇṇā nittiṇṇā atikkantā samatikkantā vītivattāti brūmi ācikkhāmi desemi paññapemi paṭṭhapemi vivarāmi vibhajāmi uttānīkaromi pakāsemīti – taṇhaṃ pariññāya anāsavāse te ve narā oghatiṇṇāti brūmi. Tenāha bhagavā –
“These indeed are the people who have crossed the flood,” I declare. This means that those who have fully understood craving and are without taints have crossed the flood of sensual desire, crossed the flood of existence, crossed the flood of views, crossed the flood of ignorance, crossed the entire path of transmigration, gone beyond, thoroughly gone beyond, transcended, completely transcended, surpassed—this I declare, announce, teach, make known, establish, disclose, analyze, clarify, and reveal. Thus it is said: 'Having fully understood craving, they are without taints; these indeed are the people who have crossed the flood, I declare.' Therefore, the Blessed One said:
Về câu: 'Ta nói rằng những người ấy, thật vậy, đã vượt qua bộc lưu,' (có nghĩa là): những vị nào sau khi đã liễu tri ái, không còn lậu hoặc, các vị ấy đã vượt qua dục bộc, đã vượt qua hữu bộc, đã vượt qua kiến bộc, đã vượt qua vô minh bộc, đã vượt qua, đã vượt lên, đã vượt thoát, đã đi qua, đã đi qua một cách tốt đẹp, đã siêu việt mọi con đường luân hồi. Ta nói, Ta chỉ rõ, Ta thuyết giảng, Ta trình bày, Ta thiết lập, Ta khai mở, Ta phân tích, Ta làm cho hiển lộ, Ta làm cho sáng tỏ. – (Đây là ý nghĩa của câu) 'Sau khi đã liễu tri ái, không còn lậu hoặc; Ta nói rằng những người ấy, thật vậy, đã vượt qua bộc lưu.' Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Nāhaṃ sabbe samaṇabrāhmaṇāse, [nandāti bhagavā]
Jātijarāya nivutāti brūmi;
Ye sīdha diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā, sīlabbataṃ vāpi pahāya sabbaṃ.
“I do not say that all recluses and brahmins, [Nanda, said the Blessed One,] are enveloped by birth and aging; but those who here have abandoned all that is seen, heard, or sensed, and also all moral practices and vows,”
Này Nanda, Ta không nói rằng tất cả Sa-môn, Bà-la-môn đều bị che đậy bởi sanh và già; những vị nào ở đây, sau khi đã từ bỏ tất cả những gì được thấy, hoặc được nghe, hoặc được cảm nhận, hoặc giới và hạnh.
Anekarūpampi pahāya sabbaṃ, taṇhaṃ pariññāya anāsavāse;
Te ve narā oghatiṇṇāti brūmī’’ti.
“Having abandoned all manifold forms, having fully understood craving, they are without taints—these indeed are the people who have crossed the flood, I declare.”
Sau khi đã từ bỏ tất cả những thứ có nhiều hình thức, sau khi đã liễu tri ái, không còn lậu hoặc; Ta nói rằng những người ấy, thật vậy, đã vượt qua bộc lưu.
52.
52.
52.
Etābhinandāmi vaco mahesino, sukittitaṃ gotamanūpadhīkaṃ;
Ye sīdha diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā, sīlabbataṃ vāpi pahāya sabbaṃ.
“I rejoice in the words of the Great Seer; well proclaimed by Gotama is the state without acquisitions. Those who here have abandoned all that is seen, heard, or sensed, and also all moral practices and vows,”
Con tán dương lời dạy của bậc Đại Sĩ, thưa ngài Gotama, đã được khéo tuyên thuyết về trạng thái vô chấp thủ; những vị nào ở đây, sau khi đã từ bỏ tất cả những gì được thấy, hoặc được nghe, hoặc được cảm nhận, hoặc giới và hạnh.
Anekarūpampi pahāya sabbaṃ, taṇhaṃ pariññāya anāsavāse;
Ahampi te oghatiṇṇāti brūmi.
“Having abandoned all manifold forms, having fully understood craving, they are without taints—I too declare that they have crossed the flood.”
Sau khi đã từ bỏ tất cả những thứ có nhiều hình thức, sau khi đã liễu tri ái, không còn lậu hoặc; con cũng nói rằng các vị ấy đã vượt qua bộc lưu.
Etābhinandāmi vaco mahesinoti. Etanti tuyhaṃ vacanaṃ byappathaṃ desanaṃ anusāsanaṃ anusiṭṭhaṃ nandāmi abhinandāmi modāmi anumodāmi icchāmi sādiyāmi patthayāmi pihayāmi abhijappāmi. Mahesinoti kiṃ mahesi bhagavā? Mahantaṃ sīlakkhandhaṃ esī gavesī pariyesīti mahesi…pe… kahaṃ narāsabhoti mahesīti – etābhinandāmi vaco mahesino.
“I rejoice in the words of the Great Seer.” This means: ‘I rejoice in, delight in, approve of, am pleased with, agree with, accept, desire, yearn for, long for, aspire to, and praise your speech, exposition, teaching, instruction, and advice.’ ‘Great Seer’—why is the Blessed One a Great Seer? Because he seeks, searches for, and investigates the great aggregate of virtue… up to… ‘where is the bull among men?’ Thus he is a Great Seer. Thus it is said: ‘I rejoice in the words of the Great Seer.’
Về câu: 'Con tán dương lời dạy của bậc Đại Sĩ.' 'Điều này' (có nghĩa là) lời nói, lời trình bày, lời thuyết giảng, lời giáo huấn, lời chỉ dạy của ngài, con hoan hỷ, con tán dương, con vui mừng, con tùy hỷ, con mong muốn, con chấp nhận, con ước nguyện, con khao khát, con cầu mong. 'Của bậc Đại Sĩ' (có nghĩa là) vì sao Đức Thế Tôn là bậc Đại Sĩ? Vì Ngài đã tìm cầu, truy tầm, khám phá uẩn giới vĩ đại... v.v... Vì Ngài đã tìm cầu 'Bậc Ngưu Vương giữa loài người ở đâu?' nên là bậc Đại Sĩ. – (Đây là ý nghĩa của câu) 'Con tán dương lời dạy của bậc Đại Sĩ.'
Sukittitaṃ gotamanūpadhīkanti. Sukittitanti sukittitaṃ suācikkhitaṃ † sudesitaṃ supaññapitaṃ supaṭṭhapitaṃ suvivaṭaṃ suvibhattaṃ suuttānīkataṃ supakāsitaṃ. Gotamanūpadhīkanti upadhī vuccanti kilesā ca khandhā ca abhisaṅkhārā ca. Upadhippahānaṃ upadhivūpasamaṃ upadhinissaggaṃ upadhipaṭippassaddhaṃ amataṃ nibbānanti – sukittitaṃ gotamanūpadhīkaṃ.
“Well proclaimed by Gotama is the state without acquisitions.” ‘Well proclaimed’ means well proclaimed, well explained, well taught, well declared, well established, well set forth, well revealed, well analyzed, well clarified, and well made manifest. ‘By Gotama, the state without acquisitions’—acquisitions are called defilements, aggregates, and volitional formations. The abandoning of acquisitions, the pacification of acquisitions, the relinquishing of acquisitions, the stilling of acquisitions—this is the Deathless, Nibbāna. Thus it is said: ‘Well proclaimed by Gotama is the state without acquisitions.’
Về câu: 'Thưa ngài Gotama, đã được khéo tuyên thuyết về trạng thái vô chấp thủ.' 'Được khéo tuyên thuyết' là được khéo tuyên thuyết, được khéo chỉ rõ, được khéo thuyết giảng, được khéo trình bày, được khéo thiết lập, được khéo khai mở, được khéo phân tích, được khéo làm cho hiển lộ, được khéo làm cho sáng tỏ. 'Thưa ngài Gotama, về trạng thái vô chấp thủ' (có nghĩa là) các phiền não, các uẩn, và các hành được gọi là chấp thủ. Sự đoạn tận chấp thủ, sự lắng dịu chấp thủ, sự từ bỏ chấp thủ, sự an tịnh chấp thủ, trạng thái bất tử, Niết-bàn (đã được khéo tuyên thuyết). – (Đây là ý nghĩa của câu) 'Thưa ngài Gotama, đã được khéo tuyên thuyết về trạng thái vô chấp thủ.'
Ye sīdha diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā, sīlabbataṃ vāpi pahāya sabbanti ye sabbā diṭṭhasuddhiyo pahāya jahitvā pajahitvā vinodetvā byantīkaritvā anabhāvaṃ gametvā. Ye sabbā sutasuddhiyo…pe… ye sabbā mutasuddhiyo… ye sabbā diṭṭhasutamutasuddhiyo… ye sabbā sīlasuddhiyo… ye sabbā vatasuddhiyo… ye sabbā sīlabbatasuddhiyo pahāya jahitvā pajahitvā vinodetvā byantīkaritvā anabhāvaṃ gametvāti – ye sīdha diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā, sīlabbataṃ vāpi pahāya sabbaṃ.
“Those who here have abandoned all that is seen, heard, or sensed, and also all virtue and observances.” This means: those who, having abandoned, forsaken, utterly forsaken, dispelled, brought to an end, and caused to not arise again all purifications by what is seen; those who... all purifications by what is heard; those who... all purifications by what is sensed; those who... all purifications by what is seen, heard, and sensed; those who... all purifications by virtue; those who... all purifications by observances; those who, having abandoned, forsaken, utterly forsaken, dispelled, brought to an end, and caused to not arise again all purifications by virtue and observances. This is the meaning of the phrase: “Those who here have abandoned all that is seen, heard, or sensed, and also all virtue and observances.”
“Những vị nào ở đây từ bỏ tất cả những gì đã thấy, đã nghe, hay đã nhận thức, hoặc giới cấm” có nghĩa là: những vị nào đã từ bỏ, đã đoạn trừ, đã đoạn trừ hoàn toàn, đã loại bỏ, đã làm cho chấm dứt, đã làm cho không còn hiện hữu tất cả các (quan điểm về) sự thanh tịnh do sở kiến. Những vị nào (đã từ bỏ) tất cả các (quan điểm về) sự thanh tịnh do sở văn... (vân vân)... những vị nào (đã từ bỏ) tất cả các (quan điểm về) sự thanh tịnh do sở xúc... những vị nào (đã từ bỏ) tất cả các (quan điểm về) sự thanh tịnh do sở kiến, sở văn, sở xúc... những vị nào (đã từ bỏ) tất cả các (quan điểm về) sự thanh tịnh do giới... những vị nào (đã từ bỏ) tất cả các (quan điểm về) sự thanh tịnh do hạnh... những vị nào đã từ bỏ, đã đoạn trừ, đã đoạn trừ hoàn toàn, đã loại bỏ, đã làm cho chấm dứt, đã làm cho không còn hiện hữu tất cả các (quan điểm về) sự thanh tịnh do giới và hạnh – (đó là ý nghĩa của) “những vị nào ở đây từ bỏ tất cả những gì đã thấy, đã nghe, hay đã nhận thức, hoặc giới cấm”.
Anekarūpampi pahāya sabbanti anekavidhakotūhalamaṅgalena suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ pahāya jahitvā pajahitvā vinodetvā byantīkaritvā anabhāvaṃ gametvāti – anekarūpampi pahāya sabbaṃ.
“Having abandoned all of manifold forms.” This means: having abandoned, forsaken, utterly forsaken, dispelled, brought to an end, and caused to not arise again purity, special purity, complete purity, release, special release, and complete release by means of various kinds of tumultuous auspicious rites. This is the meaning of the phrase: “Having abandoned all of manifold forms.”
“Từ bỏ tất cả các hình thức đa dạng” có nghĩa là: đã từ bỏ, đã đoạn trừ, đã đoạn trừ hoàn toàn, đã loại bỏ, đã làm cho chấm dứt, đã làm cho không còn hiện hữu sự thanh tịnh, sự đặc biệt thanh tịnh, sự hoàn toàn thanh tịnh, sự giải thoát, sự đặc biệt giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát (đạt được) bởi các điềm lành ồn ào đa dạng – (đó là ý nghĩa của) “từ bỏ tất cả các hình thức đa dạng”.
Taṇhaṃ pariññāya anāsavāse, ahampi te oghatiṇṇāti brūmīti. Taṇhāti rūpataṇhā saddataṇhā gandhataṇhā rasataṇhā phoṭṭhabbataṇhā dhammataṇhā. Taṇhaṃ pariññāyāti taṇhaṃ tīhi pariññāhi parijānitvā – ñātapariññāya, tīraṇapariññāya †, pahānapariññāya. Katamā ñātapariññā? Taṇhaṃ jānāti – ayaṃ rūpataṇhā, ayaṃ saddataṇhā, ayaṃ gandhataṇhā, ayaṃ rasataṇhā, ayaṃ phoṭṭhabbataṇhā, ayaṃ dhammataṇhāti jānāti passati – ayaṃ ñātapariññā.
“Having fully understood craving, being without taints, I declare that they have crossed the flood.” Craving means craving for forms, craving for sounds, craving for smells, craving for tastes, craving for tactile objects, and craving for mental phenomena. “Having fully understood craving” means having fully understood craving through three kinds of full understanding: full understanding as knowing, full understanding as investigating, and full understanding as abandoning. What is full understanding as knowing? One knows craving: ‘This is craving for forms, this is craving for sounds, this is craving for smells, this is craving for tastes, this is craving for tactile objects, this is craving for mental phenomena.’ One knows and sees thus—this is full understanding as knowing.
(Về câu) “Sau khi liễu tri ái dục, các vị ấy không còn lậu hoặc, Ta tuyên bố rằng các vị ấy đã vượt qua bộc lưu”. Ái là gì? Là sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. “Sau khi liễu tri ái dục” có nghĩa là đã liễu tri ái dục bằng ba loại liễu tri – biết rõ liễu tri, thẩm sát liễu tri, và đoạn trừ liễu tri. Thế nào là biết rõ liễu tri? Vị ấy biết ái dục – vị ấy biết, thấy rằng: “Đây là sắc ái, đây là thanh ái, đây là hương ái, đây là vị ái, đây là xúc ái, đây là pháp ái” – đây là biết rõ liễu tri.
Katamā tīraṇapariññā? Evaṃ ñātaṃ katvā taṇhaṃ tīreti † aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato ītito upaddavato bhayato upasaggato calato pabhaṅguto addhuvato atāṇato aleṇato asaraṇato asaraṇībhūtato rittato tucchato suññato anattato ādīnavato vipariṇāmadhammato asārakato aghamūlato vadhakato vibhavato sāsavato saṅkhatato mārāmisato jātidhammato jarādhammato byādhidhammato maraṇadhammato sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammato saṃkilesadhammato samudayato atthaṅgamato assādato ādīnavato nissaraṇato tīreti – ayaṃ tīraṇapariññā.
What is the full understanding by scrutinizing? Having known thus, one overcomes craving by regarding it as impermanent, as suffering, as a disease, as a boil, as a dart, as misery, as an affliction, as alien, as disintegrating, as a blight, as a calamity, as a terror, as a menace, as unsteady, as crumbling, as unstable, as unprotected, as shelterless, as without refuge, as being no refuge, as empty, as hollow, as void, as not-self, as danger, as subject to change, as coreless, as rooted in misery, as murderous, as ruinous, as with taints, as conditioned, as Māra's bait, as subject to birth, as subject to aging, as subject to illness, as subject to death, as subject to sorrow, lamentation, pain, grief, and despair, as subject to defilement, as arising, as vanishing, as gratification, as danger, and as escape. This is the full understanding by scrutinizing.
Thế nào là thẩm sát liễu tri? Sau khi đã biết như vậy, vị ấy thẩm sát ái dục như là vô thường, như là khổ, như là bệnh, như là khối u, như là mũi tên, như là điều ác, như là bệnh hoạn, như là của người khác, như là hoại diệt, như là tai ương, như là tai họa, như là đáng sợ, như là phiền não, như là dao động, như là mong manh, như là không bền vững, như là không có nơi nương tựa, như là không có nơi ẩn náu, như là không có nơi trú ẩn, như là không trở thành nơi trú ẩn, như là trống rỗng, như là rỗng tuếch, như là không, như là vô ngã, như là sự nguy hại, như là có tính chất biến hoại, như là không có lõi, như là gốc rễ của điều ác, như là kẻ sát nhân, như là sự hủy diệt, như là có lậu hoặc, như là pháp hữu vi, như là mồi của ma, như là có tính chất sanh, như là có tính chất già, như là có tính chất bệnh, như là có tính chất chết, như là có tính chất sầu, bi, khổ, ưu, não, như là có tính chất ô nhiễm, như là sự tập khởi, như là sự đoạn diệt, như là vị ngọt, như là sự nguy hại, như là sự xuất ly, vị ấy thẩm sát – đây là thẩm sát liễu tri.
Katamā pahānapariññā? Evaṃ tīrayitvā taṇhaṃ pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gameti – ayaṃ pahānapariññā.
What is the full understanding by abandoning? Having thus overcome, one abandons craving, dispels it, makes it cease, brings it to a state of non-existence. This is the full understanding by abandoning.
Thế nào là đoạn trừ liễu tri? Sau khi thẩm sát như vậy, vị ấy đoạn trừ, loại bỏ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn hiện hữu ái dục – đây là đoạn trừ liễu tri.
Taṇhaṃ pariññāyāti taṇhaṃ imāhi tīhi pariññāhi parijānitvā. Anāsavāti cattāro āsavā – kāmāsavo, bhavāsavo, diṭṭhāsavo, avijjāsavo. Yesaṃ ime āsavā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā, te vuccanti anāsavā arahanto khīṇāsavā. Taṇhaṃ pariññāya anāsavāse, ahampi te oghatiṇṇāti. Brūmīti ye taṇhaṃ pariññāya anāsavā, ahampi te kāmoghaṃ tiṇṇā bhavoghaṃ tiṇṇā diṭṭhoghaṃ tiṇṇā avijjoghaṃ tiṇṇā sabbasaṃsārapathaṃ tiṇṇā uttiṇṇā nittiṇṇā atikkantā samatikkantā vītivattāti brūmi vadāmiti – taṇhaṃ pariññāya anāsavāse, ahampi te oghatiṇṇāti brūmi. Tenāha so brāhmaṇo –
'By fully understanding craving' means having fully understood craving through these three kinds of full understanding. 'Taintless' refers to the four taints: the taint of sensual desire, the taint of existence, the taint of views, and the taint of ignorance. Those for whom these taints are abandoned, their root cut off, made like a palm stump, brought to a state of non-existence, and are incapable of future arising, are called 'taintless ones,' arahants, those whose taints are destroyed. 'Having fully understood craving, O taintless ones, I too say that you have crossed the flood.' 'I say' (brūmi) means: 'Those who have fully understood craving and are taintless—I say, I declare, that they have crossed the flood of sensual desire, crossed the flood of existence, crossed the flood of views, crossed the flood of ignorance, crossed the entire path of transmigration, gone beyond, completely gone beyond, transcended, utterly transcended, and passed beyond.' Therefore, that brahmin said—
“Sau khi liễu tri ái dục” có nghĩa là đã liễu tri ái dục bằng ba loại liễu tri này. “Không còn lậu hoặc” có nghĩa là: có bốn lậu hoặc – dục lậu, hữu lậu, kiến lậu, vô minh lậu. Những vị nào đã đoạn trừ các lậu hoặc này, đã nhổ tận gốc rễ, đã làm như gốc cây thốt nốt, đã làm cho không còn hiện hữu, có tính chất không sanh khởi trong tương lai, các vị ấy được gọi là bậc vô lậu, là bậc A-la-hán, bậc đã tận trừ lậu hoặc. (Về câu) “Sau khi liễu tri ái dục, các vị ấy không còn lậu hoặc, Ta tuyên bố rằng các vị ấy đã vượt qua bộc lưu”. “Ta tuyên bố” có nghĩa là: những vị nào sau khi liễu tri ái dục, không còn lậu hoặc, Ta tuyên bố, Ta nói rằng các vị ấy đã vượt qua dục bộc, đã vượt qua hữu bộc, đã vượt qua kiến bộc, đã vượt qua vô minh bộc, đã vượt qua, đã vượt lên, đã vượt thoát, đã đi qua, đã hoàn toàn đi qua, đã đi khỏi tất cả con đường luân hồi – (đó là ý nghĩa của) “Sau khi liễu tri ái dục, các vị ấy không còn lậu hoặc, Ta tuyên bố rằng các vị ấy đã vượt qua bộc lưu”. Vì vậy, vị Bà-la-môn ấy đã nói:
‘‘Etābhinandāmi vaco mahesino, sukittitaṃ gotamanūpadhīkaṃ;
Ye sīdha diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā, sīlabbataṃ vāpi pahāya sabbaṃ.
“I rejoice in this word of the Great Sage, well-proclaimed by Gotama, which is without defiling substrata. Those who here, having abandoned all that is seen, heard, or sensed, and even all moral habits and observances,
“Con xin hoan hỷ lời dạy của bậc Đại sĩ, lời tán dương tuyệt vời của ngài Gotama, không còn sanh y; Những vị nào ở đây từ bỏ tất cả những gì đã thấy, đã nghe, hay đã nhận thức, hoặc giới cấm.
Anekarūpampi pahāya sabbaṃ, taṇhaṃ pariññāya anāsavāse;
Ahampi te oghatiṇṇāti brūmī’’ti.
having also abandoned all manifold forms, and having fully understood craving, are taintless—I too declare of them, ‘They have crossed the flood.’”
Từ bỏ tất cả các hình thức đa dạng, sau khi liễu tri ái dục, các vị ấy không còn lậu hoặc; Ta tuyên bố rằng các vị ấy đã vượt qua bộc lưu.”
Nandamāṇavapucchāniddeso sattamo.
The Exposition of the Questions of Nanda the Young Man, the Seventh.
Phần giải thích câu hỏi của thanh niên Nanda, chương thứ bảy.
8. Hemakamāṇavapucchāniddeso
8. The Exposition of the Questions of Hemaka the Young Man.
8. Phần giải thích câu hỏi của thanh niên Hemaka
53.
53.
53.
Ye me pubbe viyākaṃsu, [iccāyasmā hemako]
Huraṃ gotamasāsanā;
Iccāsi iti bhavissati, sabbaṃ taṃ itihītihaṃ;
Sabbaṃ taṃ takkavaḍḍhanaṃ, nāhaṃ tattha abhiramiṃ.
Those who in the past explained to me, [said the Venerable Hemaka,] apart from Gotama's Dispensation: 'Thus it was, thus it will be'—all that was mere tradition. All that was just an increase of speculation; I found no delight in that.
(Tôn giả Hemaka thưa rằng:) “Những vị trước đây đã giải thích cho con, trước giáo pháp của ngài Gotama, (rằng): ‘Sự việc đã là như vầy, sự việc sẽ là như vầy.’ Tất cả những điều đó chỉ là lời truyền khẩu, tất cả những điều đó chỉ làm tăng trưởng sự suy luận, con không hoan hỷ trong đó.”
Ye me pubbe viyākaṃsūti yo ca bāvarī brāhmaṇo ye caññe tassa ācariyā, te sakaṃ diṭṭhiṃ sakaṃ khantiṃ sakaṃ ruciṃ sakaṃ laddhiṃ sakaṃ ajjhāsayaṃ sakaṃ adhippāyaṃ byākaṃsu ācikkhiṃsu desayiṃsu paññapiṃsu paṭṭhapiṃsu vivariṃsu vibhajiṃsu uttānīakaṃsu pakāsesunti – ye me pubbe viyākaṃsu. Iccāyasmā hemakoti. Iccāti padasandhi…pe… padānupubbatāpetaṃ – iccāti. Āyasmāti piyavacanaṃ…pe…. Hemakoti tassa brāhmaṇassa nāmaṃ…pe… abhilāpoti – iccāyasmā hemako.
‘Those who previously explained to me’: The brahmin Bāvarī and his other teachers, they declared their own view, their own acceptance, their own preference, their own doctrine, their own inclination, their own intention. They explained, taught, proclaimed, established, revealed, analyzed, clarified, and illuminated. This is the meaning of ‘those who previously explained to me.’ ‘Thus the Venerable Hemaka’: ‘Thus’ is a particle for connection… and so on… this is the sequence of words—‘thus.’ ‘Venerable’ is a term of affection… and so on…. ‘Hemaka’ is that brahmin’s name… and so on… an appellation. This is the meaning of ‘thus the Venerable Hemaka.’
“Những vị trước đây đã giải thích cho con” có nghĩa là: vị Bà-la-môn Bāvarī và các vị thầy khác của ông ấy, họ đã giải thích, đã chỉ ra, đã thuyết giảng, đã làm cho biết, đã thiết lập, đã khai mở, đã phân tích, đã làm cho rõ ràng, đã trình bày kiến của mình, sự kham nhẫn của mình, sự ưa thích của mình, giáo lý của mình, khuynh hướng của mình, ý định của mình – (đó là ý nghĩa của) “những vị trước đây đã giải thích cho con”. “Tôn giả Hemaka thưa rằng”: “Iccā” là sự nối kết từ... (vân vân)... đây là thứ tự của các từ – “iccā”. “Āyasmā” là lời nói thân ái... (vân vân)... “Hemako” là tên của vị Bà-la-môn ấy... (vân vân)... là danh xưng – (đó là ý nghĩa của) “Tôn giả Hemaka thưa rằng”.
Huraṃ gotamasāsanāti huraṃ gotamasāsanā paraṃ gotamasāsanā pure gotamasāsanā paṭhamataraṃ gotamasāsanā buddhasāsanā jinasāsanā tathāgatasāsanā † arahantasāsanāti – huraṃ gotamasāsanā.
‘Apart from Gotama's Dispensation’ means: apart from Gotama's Dispensation, beyond Gotama's Dispensation, before Gotama's Dispensation, prior to Gotama's Dispensation, the Buddha's Dispensation, the Victor's Dispensation, the Tathāgata's Dispensation, the Arahant's Dispensation. This is the meaning of ‘apart from Gotama's Dispensation.’
“Trước giáo pháp của ngài Gotama” có nghĩa là: trước giáo pháp của ngài Gotama, sau giáo pháp của ngài Gotama, trước giáo pháp của ngài Gotama, trước tiên hơn giáo pháp của ngài Gotama, (tức là trước) giáo pháp của bậc Giác Ngộ, giáo pháp của bậc Chiến Thắng, giáo pháp của bậc Như Lai, giáo pháp của bậc A-la-hán – (đó là ý nghĩa của) “trước giáo pháp của ngài Gotama”.
Iccāsi iti bhavissatīti evaṃ kira āsi, evaṃ kira bhavissatīti – iccāsi iti bhavissati.
‘It was thus, it will be thus’ means: ‘It is said that it was thus, it is said that it will be thus.’ This is the meaning of ‘it was thus, it will be thus.’
“Sự việc đã là như vầy, sự việc sẽ là như vầy” có nghĩa là: nghe nói sự việc đã là như vậy, nghe nói sự việc sẽ là như vậy – (đó là ý nghĩa của) “sự việc đã là như vầy, sự việc sẽ là như vầy”.
Sabbaṃ taṃ itihītihanti sabbaṃ taṃ itihītihaṃ itikirāya paraṃparāya piṭakasampadāya takkahetu nayahetu ākāraparivitakkena diṭṭhinijjhānakkhantiyā na sāmaṃ sayamabhiññātaṃ na attapaccakkhadhammaṃ kathayiṃsūti – sabbaṃ taṃ itihītihaṃ.
‘All that is mere tradition’ means: All that is mere tradition, by hearsay, by lineage, by textual transmission, by reason of speculation, by reason of inference, by consideration of aspects, by the acceptance of a view upon reflection; they did not teach a doctrine directly known by themselves or personally experienced. This is the meaning of ‘all that is mere tradition.’
“Tất cả những điều đó chỉ là lời truyền khẩu” có nghĩa là: tất cả những điều đó chỉ là lời truyền khẩu, chỉ là nghe nói, chỉ là truyền thống, chỉ là dựa vào kinh điển, chỉ là do suy luận, chỉ là do phương pháp, chỉ là do suy xét về các khía cạnh, chỉ là do sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc; họ đã không nói về pháp được tự mình thắng tri, không phải là pháp được tự mình chứng nghiệm – (đó là ý nghĩa của) “tất cả những điều đó chỉ là lời truyền khẩu”.
Sabbaṃ taṃ takkavaḍḍhananti sabbaṃ taṃ takkavaḍḍhanaṃ vitakkavaḍḍhanaṃ saṅkappavaḍḍhanaṃ kāmavitakkavaḍḍhanaṃ byāpādavitakkavaḍḍhanaṃ vihiṃsāvitakkavaḍḍhanaṃ ñātivitakkavaḍḍhanaṃ janapadavitakkavaḍḍhanaṃ amarāvitakkavaḍḍhanaṃ parānudayatāpaṭisaṃyuttavitakkavaḍḍhanaṃ lābhasakkārasilokapaṭisaṃyuttavitakkavaḍḍhanaṃ anavaññattipaṭisaṃyuttavitakkavaḍḍhananti – sabbaṃ taṃ takkavaḍḍhanaṃ.
The phrase 'all that is an increase of reasoning' means: all that talk of saṃsāra is an increase of reasoning, an increase of various kinds of thought, an increase of unwholesome intention, an increase of thought concerning sensual pleasures, an increase of thought concerning ill-will, an increase of thought concerning harming, an increase of thought concerning relatives, an increase of thought concerning the country, an increase of unstable thought like the fish named Amarā, an increase of thought associated with love for others, an increase of thought associated with gain, honor, and fame, an increase of thought associated with making oneself clearly known to others. This is the meaning of the phrase 'all that is an increase of reasoning'.
Tất cả điều ấy là sự làm tăng trưởng sự suy tầm có nghĩa là: Tất cả điều ấy là sự làm tăng trưởng sự suy tầm, làm tăng trưởng tầm, làm tăng trưởng tư duy, làm tăng trưởng dục tầm, làm tăng trưởng sân tầm, làm tăng trưởng hại tầm, làm tăng trưởng tầm về quyến thuộc, làm tăng trưởng tầm về quốc độ, làm tăng trưởng tầm về sự bất tử, làm tăng trưởng tầm tương ứng với lòng thương người khác, làm tăng trưởng tầm tương ứng với lợi lộc, cung kính, và danh tiếng, làm tăng trưởng tầm tương ứng với việc không bị khinh miệt – (đây là ý nghĩa của) tất cả điều ấy là sự làm tăng trưởng sự suy tầm.
Nāhaṃ tattha abhiraminti nāhaṃ tattha abhiramiṃ na vindiṃ nādhigacchiṃ na paṭilabhinti – nāhaṃ tattha abhiramiṃ. Tenāha so brāhmaṇo –
The phrase 'I did not delight in that' means: I did not delight in that view of the brahmin Bāvarī and others, I did not find it, I did not follow it, I did not obtain it. This is the meaning of the phrase 'I did not delight in that.' Therefore, that brahmin said:
Ta không hoan hỷ ở nơi ấy có nghĩa là: Ta không hoan hỷ ở nơi ấy, không tìm thấy, không đạt đến, không chứng được – (đây là ý nghĩa của) ta không hoan hỷ ở nơi ấy. Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
‘‘Ye me pubbe viyākaṃsu, [iccāyasmā hemako]
Huraṃ gotamasāsanā;
Iccāsi iti bhavissati, sabbaṃ taṃ itihītihaṃ;
Sabbaṃ taṃ takkavaḍḍhanaṃ, nāhaṃ tattha abhirami’’nti.
“Those who formerly explained to me, [said the Venerable Hemaka,] apart from Gotama’s Dispensation, ‘It was thus, it will be thus’—all that is mere tradition. All that is an increase of reasoning; I did not delight in that.”
‘(Trưởng lão Hemaka thưa rằng:) Những ai trước đây đã giải thích cho tôi, ngoài giáo pháp của Gotama, (rằng) ‘đã là như vầy, sẽ là như vầy,’ tất cả điều ấy chỉ là lời truyền khẩu; tất cả điều ấy là sự làm tăng trưởng sự suy tầm, ta không hoan hỷ ở nơi ấy.’
54.
54.
54.
Tvañca me dhammamakkhāhi, taṇhānigghātanaṃ muni;
Yaṃ viditvā sato caraṃ, tare loke visattikaṃ.
“You, O Sage, declare to me the Dhamma, the destruction of craving, which having known, and practicing mindfully, one may cross over attachment in the world.”
Và Ngài, xin hãy thuyết giảng Pháp cho tôi, hỡi bậc Mâu-ni, Pháp đoạn trừ ái dục; Pháp mà khi biết được, sống chánh niệm, có thể vượt qua sự dính mắc trong thế gian.