Bản dịch
CND 10 — Diễn Giải Kinh Upasīva
6. Upasīvamāṇavapucchāniddesa
(Tôn giả Upasīva nói rằng:) “Thưa vị dòng Sakya, một mình con, không nương tựa (nơi nào), con không có khả năng vượt qua dòng lũ lớn. Thưa bậc Toàn Nhãn, xin ngài hãy nói về đối tượng, được nương tựa vào nơi ấy, con có thể vượt qua dòng lũ này .”
2. “ Đối với Ngài, không có bất cứ điều gì ở nơi đây là không được nhìn thấy, không được nhận thức, hoặc không thể biết được. Điều nào có thể biết được, Ngài đã biết rõ tất cả, vì thế đức Như Lai là bậc Toàn Nhãn .”
- ‘Thưa bậc Toàn Nhãn, xin ngài hãy nói về đối tượng’ là như thế.
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
(Tôn giả Upasīva nói rằng:) “Thưa vị dòng Sakya, một mình con, không nương tựa (nơi nào), con không có khả năng vượt qua dòng lũ lớn. Thưa bậc Toàn Nhãn, xin ngài hãy nói về đối tượng, được nương tựa vào nơi ấy, con có thể vượt qua dòng lũ này .”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Upasīva,) trong khi xem xét về Vô Sở Hữu Xứ, có niệm, nương tựa vào (ý niệm) ‘không có gì,’ ngươi hãy vượt qua dòng lũ. Sau khi dứt bỏ các dục, đã xa lánh hẳn các điều nghi hoặc, ngươi hãy quán sát sự cạn kiệt của tham ái, đêm và ngày.”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
(Đức Thế Tôn nói: “Này Upasīva,) trong khi xem xét về Vô Sở Hữu Xứ, có niệm, nương tựa vào (ý niệm) ‘không có gì,’ ngươi hãy vượt qua dòng lũ. Sau khi dứt bỏ các dục, đã xa lánh hẳn các điều nghi hoặc, ngươi hãy quán sát sự cạn kiệt của tham ái, đêm và ngày .”
(Tôn giả Upasīva nói rằng:): “Vị nào đã xa lìa sự luyến ái ở tất cả các dục, đã nương tựa vào Vô Sở Hữu Xứ sau khi từ bỏ pháp (chứng đắc) khác, [1] đã thiên về sự giải-thoát-do-tưởng cao nhất, phải chăng vị ấy có thể trụ lại ở nơi ấy, không đi tiếp nữa?”
[1] Pháp (chứng đắc) khác: nói đến sáu loại chứng đắc thấp hơn (SnA. ii, 593-594), tức là sự chứng đắc bốn tầng thiền Sắc Giới và hai tầng thiền Không Vô Biên Xứ và Thức Vô Biên Xứ thuộc Vô Sắc Giới (ND).
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
(Tôn giả Upasīva nói rằng:): “Vị nào đã xa lìa sự luyến ái ở tất cả các dục, đã nương tựa vào Vô Sở Hữu Xứ sau khi từ bỏ pháp (chứng đắc) khác, đã thiên về sự giải-thoát-do-tưởng cao nhất, phải chăng vị ấy có thể trụ lại ở nơi ấy, không đi tiếp nữa?”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
(Đức Thế Tôn nói: “Này Upasīva,) vị nào đã xa lìa sự luyến ái ở tất cả các dục, đã nương tựa vào Vô Sở Hữu Xứ sau khi từ bỏ pháp (chứng đắc) khác, đã thiên về sự giải-thoát-do-tưởng cao nhất, vị ấy có thể trụ lại ở nơi ấy, không đi tiếp nữa.”
(Tôn giả Upasīva nói rằng:) “Nếu vị ấy trụ lại ở nơi ấy, không đi tiếp nữa, thậm chí một số năm, thưa bậc Toàn Nhãn, ngay tại chỗ ấy, vị ấy có thể có sự mát mẻ, được giải thoát, có phải thức của vị thuộc hạng như thế ấy có thể diệt tắt? ”
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
(Tôn giả Upasīva nói rằng:) “Nếu vị ấy trụ lại ở nơi ấy, không đi tiếp nữa, thậm chí một số năm, thưa bậc Toàn Nhãn, ngay tại chỗ ấy, vị ấy có thể có sự mát mẻ, được giải thoát, có phải thức của vị thuộc hạng như thế ấy có thể diệt tắt?”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
(Đức Thế Tôn nói: “Này Upasīva,) giống như ngọn lửa đã bị dập tắt bởi lực đẩy của làn gió, thời đi đến sự chấm dứt, không đạt đến danh xưng; tương tự như vậy, vị hiền trí đã được giải thoát khỏi danh thân thời đi đến sự chấm dứt, không đạt đến danh xưng.”
“ Có phải vị ấy đi đến sự chấm dứt hay vị ấy không có (hiện hữu), hay là vị ấy thật sự ở vào trạng thái trường tồn, vô bệnh? Thưa bậc hiền trí, xin ngài hãy giải thích tường tận điều ấy cho con, bởi vì pháp này đã được ngài biết đúng theo bản thể .”
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
“ Có phải vị ấy đi đến sự chấm dứt hay vị ấy không có (hiện hữu), hay là vị ấy thật sự ở vào trạng thái trường tồn, vô bệnh? Thưa bậc hiền trí, xin ngài hãy giải thích tường tận điều ấy cho con, bởi vì pháp này đã được ngài biết đúng theo bản thể .”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Upasīva,) đối với vị đã đi đến sự chấm dứt, thì không có sự ước lượng. Với điều nào người ta có thể nói về vị ấy, thì điều ấy không còn có đối với vị ấy. Khi tất cả các pháp đã được bứng lên hoàn toàn, ngay cả đường lối của lời nói cũng được bứng lên hoàn toàn .”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
(Đức Thế Tôn nói: “Này Upasīva,) đối với vị đã đi đến sự chấm dứt, thì không có sự ước lượng. Với điều nào người ta có thể nói về vị ấy, thì điều ấy không còn có đối với vị ấy. Khi tất cả các pháp đã được bứng lên hoàn toàn, ngay cả đường lối của lời nói cũng được bứng lên hoàn toàn.”
Cùng với lúc kết thúc câu kệ ngôn, –nt– (vị ấy) đã ngồi xuống, chắp tay lên, cúi lạy đức Thế Tôn (nói rằng): “Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc đạo sư của con, con là người đệ tử.”
Diễn Giải Kinh Upasīva là thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tiểu Diễn Giải (Cūḷaniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Eko ahaṃ sakka mahantamoghanti. Ekoti puggalo vā me dutiyo natthi, dhammo vā me dutiyo natthi, yaṃ vā puggalaṃ nissāya dhammaṃ vā nissāya mahantaṃ kāmoghaṃ bhavoghaṃ diṭṭhoghaṃ avijjoghaṃ tareyyaṃ uttareyyaṃ patareyyaṃ samatikkameyyaṃ vītivatteyyanti. Sakkāti sakko. Bhagavā sakyakulā pabbajitotipi sakko. Atha vā, aḍḍho mahaddhano dhanavātipi sakko. Tassimāni dhanāni, seyyathidaṃ – saddhādhanaṃ sīladhanaṃ hiridhanaṃ ottappadhanaṃ sutadhanaṃ cāgadhanaṃ paññādhanaṃ satipaṭṭhānadhanaṃ…pe… nibbānadhanaṃ. Imehi anekehi dhanaratanehi aḍḍho mahaddhano dhanavātipi sakko. Atha vā, sakko pahu visavī alamatto sūro vīro vikkanto abhīrū achambhī anutrāsī apalāyī pahīnabhayabheravo vigatalomahaṃsotipi sakkoti – eko ahaṃ sakka mahantamoghaṃ.
“Alone, O Sakka, I am not able to cross the great flood.” Herein, ‘alone’ means: For me there is no second person, for me there is no second Dhamma, by relying on which person or which Dhamma I might cross, cross over, cross through, transcend, and pass beyond the great flood of sensual pleasure, the flood of existence, the flood of views, and the flood of ignorance. ‘Sakka’: The Blessed One is a Sakka because he went forth from the Sakyan clan. Or else, he is a Sakka because he is rich, of great wealth, affluent. These are his treasures: the treasure of faith, the treasure of virtuous behavior, the treasure of moral shame, the treasure of moral dread, the treasure of learning, the treasure of generosity, the treasure of wisdom, the treasure of the foundations of mindfulness … the treasure of Nibbāna. Because he is rich, of great wealth, and affluent with these many Dhamma-jewels, he is a Sakka. Or else, a Sakka is one who is able, a master, competent, brave, valiant, delightful, fearless, undaunted, not startled, not one to flee, one who has abandoned fear and dread, one who is free from hair-raising. Thus he is a Sakka. “Alone, O Sakka, I am not able to cross the great flood.”
Về câu: ‘Thưa ngài Sakka, một mình con (không thể vượt qua) dòng bộc lưu vĩ đại.’ ‘Một mình’ (nghĩa là) đối với con không có người thứ hai, hoặc đối với con không có pháp thứ hai, mà nương vào người ấy hoặc nương vào pháp ấy con có thể vượt qua, vượt lên, vượt khỏi, vượt hẳn, đi qua khỏi dòng bộc lưu vĩ đại là dục bộc, hữu bộc, kiến bộc, và vô minh bộc. ‘Sakka’ là bậc Sakka. Đức Thế Tôn đã xuất gia từ dòng họ Sakya, vì thế (ngài) là Sakka. Hoặc nữa, (ngài) giàu có, có tài sản lớn, có của cải, vì thế cũng là Sakka. Những tài sản này là của ngài, đó là: tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài, niệm xứ tài… cho đến… Niết-bàn tài. Do giàu có, có tài sản lớn, có của cải với vô số pháp bảo này, nên (ngài) cũng là Sakka. Hoặc nữa, (ngài) là Sakka vì ngài có khả năng, có năng lực, có đủ sức mạnh, là bậc dũng cảm, là bậc anh hùng, là bậc can đảm, không sợ hãi, không rúng động, không kinh hãi, không tháo chạy, đã từ bỏ sự sợ hãi và kinh hoàng, đã đoạn trừ sự dựng tóc gáy. – (Đây là ý nghĩa của) ‘thưa ngài Sakka, một mình con (không thể vượt qua) dòng bộc lưu vĩ đại.’
Iccāyasmā upasīvoti. Iccāti padasandhi…pe…. Āyasmāti piyavacanaṃ…pe…. Upasīvoti tassa brāhmaṇassa nāmaṃ…pe… abhilāpoti – iccāyasmā upasīvo.
“Thus the Venerable Upasīva.” Herein, ‘thus’ is a conjunction of words…. ‘Venerable’ is an affectionate term…. ‘Upasīva’ is that brahmin’s name … a designation. Thus: “Thus the Venerable Upasīva.”
Về câu: ‘Trưởng lão Upasīva thưa rằng.’ ‘Iccā’ là sự liên kết từ… cho đến…. ‘Āyasmā’ là lời nói thân ái… cho đến…. ‘Upasīva’ là tên của vị Bà-la-môn ấy… cho đến… là cách gọi. – (Đây là ý nghĩa của) ‘trưởng lão Upasīva thưa rằng.’
Anissito no visahāmi tāritunti. Anissitoti puggalaṃ vā anissito dhammaṃ vā anissito no visahāmi na ussahāmi na sakkomi na paṭibalo mahantaṃ kāmoghaṃ bhavoghaṃ diṭṭhoghaṃ avijjoghaṃ tarituṃ uttarituṃ patarituṃ samatikkamituṃ vītivattitunti – anissito no visahāmi tārituṃ.
“Unsupported, I am unable to cross.” Herein, ‘unsupported’ means unsupported by a person or unsupported by a Dhamma. ‘I am unable’: I do not dare, I cannot make an effort, I cannot, I am not strong enough to cross, cross over, cross through, transcend, and pass beyond the great flood of sensual pleasure, the flood of existence, the flood of views, and the flood of ignorance. Thus: “Unsupported, I am unable to cross.”
Về câu: ‘Không nơi nương tựa, con không thể nào vượt qua.’ ‘Không nơi nương tựa’ (nghĩa là) không nương tựa vào một người nào hoặc không nương tựa vào một pháp nào, con không thể, không cố gắng, không có khả năng, không đủ sức để vượt qua, vượt lên, vượt khỏi, vượt hẳn, đi qua khỏi dòng bộc lưu vĩ đại là dục bộc, hữu bộc, kiến bộc, và vô minh bộc. – (Đây là ý nghĩa của) ‘không nơi nương tựa, con không thể nào vượt qua.’
Ārammaṇaṃ brūhi samantacakkhūti ārammaṇaṃ ālambaṇaṃ nissayaṃ upanissayaṃ brūhi ācikkhāhi desehi paññapehi paṭṭhapehi vivarāhi vibhajāhi uttānīkarohi pakāsehi. Samantacakkhūti samantacakkhu vuccati sabbaññutañāṇaṃ. Bhagavā tena sabbaññutañāṇena upeto samupeto upāgato samupāgato upapanno samupapanno samannāgato.
'Proclaim a support, O All-Seeing One.' Herein, 'a support' means a basis, a reliance, a decisive support. 'Proclaim' means: tell, teach, make known, establish, open up, analyze, make plain, reveal. 'O All-Seeing One': The knowledge of omniscience is called the All-Seeing Eye. The Blessed One is endowed with, fully endowed with, has attained, has fully attained, possesses, fully possesses, and is furnished with that knowledge of omniscience.
Về câu: ‘Xin ngài, bậc Toàn Giác, hãy nói cho con biết đối tượng.’ (Nghĩa là) xin ngài hãy nói, hãy chỉ dạy, hãy thuyết giảng, hãy làm cho biết, hãy thiết lập, hãy mở ra, hãy phân tích, hãy làm cho rõ ràng, hãy soi sáng về đối tượng, về chỗ bám víu, về nơi nương tựa, về nơi y chỉ. ‘Bậc Toàn Giác’ (nghĩa là) toàn tri trí được gọi là ‘toàn giác.’ Đức Thế Tôn đã đạt đến, đã hoàn toàn đạt đến, đã đi đến, đã hoàn toàn đi đến, đã thành tựu, đã hoàn toàn thành tựu, đã được trang bị toàn tri trí ấy.
Na tassa adiṭṭhamidhatthi kiñci, atho aviññātamajānitabbaṃ;
Sabbaṃ abhiññāsi yadatthi neyyaṃ, tathāgato tena samantacakkhūti.
There is nothing here at all unseen by him, nor anything uncognized or not to be known. He has directly known all that can be known; for that reason the Tathāgata is the All-Seeing One.
‘Ở đây, không có gì mà ngài chưa thấy, cũng không có gì chưa được biết, chưa được nhận thức; tất cả những gì cần biết, ngài đều đã thắng tri. Do đó, Như Lai là bậc Toàn Giác.’
Ārammaṇaṃ brūhi samantacakkhu.
Proclaim a support, O All-Seeing One.
Xin ngài, bậc Toàn Giác, hãy nói cho con biết đối tượng.
Yaṃ nissito oghamimaṃ tareyyanti. Yaṃ nissitoti yaṃ puggalaṃ vā nissito dhammaṃ vā nissito mahantaṃ kāmoghaṃ bhavoghaṃ diṭṭhoghaṃ avijjoghaṃ tareyyaṃ uttareyyaṃ patareyyaṃ samatikkameyyaṃ vītivatteyyanti – yaṃ nissito oghamimaṃ tareyyaṃ. Tenāha so brāhmaṇo –
'Relying on which I might cross this flood.' Herein, 'relying on which' means: relying on which person or relying on which Dhamma I might cross over, get beyond, traverse, transcend, and pass beyond the great flood of sensual pleasure, the flood of existence, the flood of views, and the flood of ignorance. Thus: 'relying on which I might cross this flood.' Therefore that brahmin said:
Về câu: ‘Mà nương vào đó con có thể vượt qua dòng bộc lưu này.’ ‘Mà nương vào đó’ (nghĩa là) nương vào người nào hoặc nương vào pháp nào mà con có thể vượt qua, vượt lên, vượt khỏi, vượt hẳn, đi qua khỏi dòng bộc lưu vĩ đại là dục bộc, hữu bộc, kiến bộc, và vô minh bộc. – (Đây là ý nghĩa của) ‘mà nương vào đó con có thể vượt qua dòng bộc lưu này.’ Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng –
‘‘Eko ahaṃ sakka mahantamoghaṃ, [iccāyasmā upasīvo]
Anissito no visahāmi tārituṃ;
Ārammaṇaṃ brūhi samantacakkhu, yaṃ nissito oghamimaṃ tareyya’’nti.
"Alone, O Sakka, I am in a great flood," [said the Venerable Upasīva,] "and unsupported, I am unable to cross. Proclaim a support, O All-Seeing One, relying on which I might cross this flood."
‘Thưa ngài Sakka, một mình con (trưởng lão Upasīva thưa rằng) không nơi nương tựa, không thể nào vượt qua được dòng bộc lưu vĩ đại. Xin ngài, bậc Toàn Giác, hãy nói cho con biết đối tượng mà nương vào đó con có thể vượt qua dòng bộc lưu này.’
39.
39.
39.
Ākiñcaññaṃ pekkhamāno satimā, [upasīvāti bhagavā]
Natthīti nissāya tarassu oghaṃ;
Kāme pahāya virato kathāhi, taṇhakkhayaṃ nattamahābhipassa † .
"Mindfully contemplating nothingness, Upasīva," [said the Blessed One,] "relying on 'There is nothing,' you should cross the flood. Having abandoned sensual pleasures, being free from doubts, day and night you should closely observe the destruction of craving."
(Đức Thế Tôn phán, này Upasīva:) ‘Với chánh niệm, hãy quán xét Vô Sở Hữu Xứ, nương vào (quan niệm) ‘không có gì’ mà vượt qua dòng bộc lưu. Sau khi đã từ bỏ các dục, xa lìa các hoài nghi, hãy quán chiếu sự đoạn tận tham ái (tức Niết-bàn) cả ngày lẫn đêm.’
Ākiñcaññaṃ pekkhamāno satimāti so brāhmaṇo pakatiyā ākiñcaññāyatanasamāpattiṃ lābhīyeva nissayaṃ na jānāti – ‘‘ayaṃ me nissayo’’ti. Tassa bhagavā nissayañca ācikkhati uttariñca niyyānapathaṃ. Ākiñcaññāyatanasamāpattiṃ sato samāpajjitvā tato vuṭṭhahitvā tattha jāte cittacetasike dhamme aniccato pekkhamāno, dukkhato…pe… rogato… gaṇḍato… sallato… aghato… ābādhato… parato… palokato… ītito… upaddavato… bhayato… upasaggato… calato… pabhaṅguto… addhuvato… atāṇato… aleṇato… asaraṇato… asaraṇībhūtato… rittato… tucchato… suññato… anattato… ādīnavato… vipariṇāmadhammato… asārakato… aghamūlato… bhavato… vibhavato… sāsavato… saṅkhatato… mārāmisato… jātidhammato… jarādhammato… byādhidhammato… maraṇadhammato… sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammato … samudayadhammato… atthaṅgamato… assādato… ādīnavato… nissaraṇato pekkhamāno dakkhamāno olokayamāno nijjhāyamāno upaparikkhamāno.
Regarding 'mindfully contemplating nothingness': That brahmin, by nature, is indeed an obtainer of the attainment of the base of nothingness, but he does not know the support, [thinking,] 'This is my support.' The Blessed One pointed out to him the support and, further, the path of escape. Having mindfully entered upon the attainment of the base of nothingness and then emerged from it, he contemplates the states of mind and mental factors that arose therein as impermanent, as suffering... as a disease... as a boil... as a dart... as a calamity... as an affliction... as other... as perishable... as a disaster... as a misfortune... as fear... as a menace... as unsteady... as fragile... as non-lasting... as without shelter... as without refuge... as without protection... as having become no protection... as empty... as void... as ownerless... as not-self... as disadvantageous... as subject to change... as coreless... as a root of misery... as becoming... as non-becoming... as tainted... as conditioned... as Māra's bait... as subject to birth... as subject to aging... as subject to illness... as subject to death... as subject to sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair... as subject to arising... as subject to passing away... as gratification... as danger... as escape—thus he contemplates, sees, observes, scrutinizes, and closely examines.
Ākiñcaññaṃ pekkhamāno satimā: Vị Bà-la-môn ấy, về bản chất, là người đã chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ Định, nhưng không biết nơi nương tựa rằng: “Đây là nơi nương tựa của ta.” Đối với vị ấy, đức Thế Tôn chỉ dạy về nơi nương tựa và con đường xuất ly cao hơn. Sau khi nhập Vô Sở Hữu Xứ Định một cách chánh niệm, sau khi xuất khỏi định ấy, vị ấy quán xét các pháp tâm và tâm sở sanh khởi ở trong đó là vô thường, là khổ… là bệnh… là ung nhọt… là mũi tên… là điều ác… là hoạn nạn… là của người khác… là hoại diệt… là tai ương… là hiểm họa… là đáng sợ… là tai ách… là dao động… là tan rã… là không bền vững… là không có nơi che chở… là không có nơi ẩn náu… là không có nơi nương tựa… là không phải là nơi nương tựa… là trống rỗng… là rỗng không… là không… là vô ngã… là sự nguy hại… là có tính chất biến hoại… là không có lõi cây… là gốc rễ của điều ác… là sự hiện hữu… là sự không hiện hữu… là có lậu hoặc… là pháp hữu vi… là mồi của Ác ma… là có tính chất sanh… là có tính chất già… là có tính chất bệnh… là có tính chất chết… là có tính chất sầu, bi, khổ, ưu, não… là có tính chất sanh khởi… là có tính chất đoạn diệt… là vị ngọt… là sự nguy hại… là sự xuất ly, trong khi đang nhìn, đang thấy, đang quan sát, đang chiêm nghiệm, đang thẩm xét.
Satimāti yā sati anussati paṭissati…pe… sammāsati – ayaṃ vuccati sati. Imāya satiyā upeto hoti…pe… samannāgato, so vuccati satimāti – ākiñcaññaṃ pekkhamāno satimā.
Regarding 'mindful': That which is mindfulness, recollection, remembrance... right mindfulness—this is called mindfulness. One who is endowed with... furnished with this mindfulness is called 'mindful.' Thus: 'mindfully contemplating nothingness.'
Satimā: Niệm nào, tùy niệm, tái niệm… chánh niệm – đây được gọi là niệm. Vị ấy được trang bị… được đầy đủ với niệm này, vị ấy được gọi là người có chánh niệm – (đây là ý nghĩa của) ākiñcaññaṃ pekkhamāno satimā.
Upasīvāti bhagavāti. Upasīvāti bhagavā taṃ brāhmaṇaṃ nāmena ālapati. Bhagavāti gāravādhivacanametaṃ…pe… sacchikā paññatti, yadidaṃ bhagavāti – upasīvāti bhagavā.
Regarding 'Upasīva, O Blessed One': Herein, 'Upasīva': the Blessed One addresses that brahmin by name. 'Blessed One': this is a term of respect... a designation for what has been realized, that is, 'Blessed One.' Thus: 'Upasīva, O Blessed One.'
Upasīvāti bhagavā: Đức Thế Tôn gọi vị Bà-la-môn ấy bằng tên: “Này Upasīva.” Bhagavā: Đây là danh xưng thể hiện sự tôn kính… là một khái niệm chỉ định có thật, đó là Bhagavā – (đây là ý nghĩa của) upasīvāti bhagavā.
Natthīti nissāya tarassu oghanti natthi kiñcīti ākiñcaññāyatanasamāpatti. Kiṃkāraṇā natthi kiñcīti ākiñcaññāyatanasamāpatti? Viññāṇañcāyatanasamāpattiṃ sato samāpajjitvā tato vuṭṭhahitvā taññeva viññāṇaṃ abhāveti, vibhāveti, antaradhāpeti, natthi kiñcīti passati. Taṃkāraṇā natthi kiñcīti ākiñcaññāyatanasamāpattiṃ nissāya upanissāya ālambaṇaṃ karitvā kāmoghaṃ bhavoghaṃ diṭṭhoghaṃ avijjoghaṃ tarassu uttarassu patarassu samatikkamassu vītivattassūti – natthīti nissāya tarassu oghaṃ.
'Relying on "There is nothing," cross the flood.' Herein, 'There is nothing' refers to the attainment of the base of nothingness. For what reason is the attainment of the base of nothingness called 'There is nothing'? Having mindfully attained the attainment of the base of infinite consciousness and then emerged from it, one causes that very consciousness not to be, to pass away, to disappear, and one sees, 'There is nothing.' For that reason, by relying on the attainment of the base of nothingness, by depending on it, by making it a support, you should cross, get beyond, traverse, transcend, and pass beyond the flood of sensual pleasure, the flood of existence, the flood of views, and the flood of ignorance. Thus: 'Relying on "There is nothing," cross the flood.'
Natthīti nissāya tarassu oghaṃ: Vô Sở Hữu Xứ Định (là thiền định) ‘không có gì cả.’ Tại sao lại là Vô Sở Hữu Xứ Định ‘không có gì cả?’ Sau khi nhập Thức Vô Biên Xứ Định một cách chánh niệm và xuất khỏi định ấy, vị ấy làm cho chính thức ấy không hiện hữu, làm cho nó biến mất, và thấy rằng ‘không có gì cả.’ Vì lý do đó, hãy nương tựa, đặc biệt nương tựa, lấy Vô Sở Hữu Xứ Định ‘không có gì cả’ làm đối tượng, rồi hãy vượt qua, hãy vượt lên, hãy vượt thoát, hãy đi qua, hãy siêu việt khỏi dục bộc, hữu bộc, kiến bộc, và vô minh bộc – (đây là ý nghĩa của) natthīti nissāya tarassu oghaṃ.
Kāme pahāya virato kathāhīti. Kāmāti uddānato dve kāmā – vatthukāmā ca kilesakāmā ca…pe… ime vuccanti vatthukāmā …pe… ime vuccanti kilesakāmā. Kāme pahāyāti vatthukāme parijānitvā kilesakāme pahāya pajahitvā vinodetvā byantīkaritvā anabhāvaṃ gametvāti – kāme pahāya. Virato kathāhīti kathaṃkathā vuccati vicikicchā. Dukkhe kaṅkhā…pe… chambhitattaṃ cittassa manovilekho kathaṃkathāya ārato virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – evampi virato kathāhi…pe… atha vā, dvattiṃsāya tiracchānakathāya ārato virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti evampi virato kathāhīti – kāme pahāya virato kathāhi.
'Having abandoned sensual pleasures, abstained from talk.' Herein, 'sensual pleasures': in brief, there are two kinds of sensual pleasures: sensual objects and sensual defilements.... These are called sensual objects.... These are called sensual defilements. 'Having abandoned sensual pleasures' means: having abandoned sensual objects, and having abandoned, given up, dispelled, terminated, and caused to not arise again the sensual defilements. Thus: 'having abandoned sensual pleasures.' Regarding 'abstained from talk': Questioning (kathaṃkathā) is called doubt (vicikicchā). Doubt about suffering... stiffness, mental confusion. One dwells abstained, especially abstained, and completely abstained from questioning, having gone out from it, discarded it, being disjoined and dissociated from it, with a mind that is without boundaries. In this way too one is 'abstained from talk.' ... Or else, one dwells abstained, especially abstained, and completely abstained from the thirty-two kinds of base talk, having gone out from it... with a mind that is without boundaries. In this way too one is 'abstained from talk.' Thus: 'Having abandoned sensual pleasures, abstained from talk.'
Kāme pahāya virato kathāhīti: Về ‘kāmā,’ tóm lại có hai loại dục: dục đối tượng và dục phiền não… đây được gọi là dục đối tượng… đây được gọi là dục phiền não. Kāme pahāya: Sau khi liễu tri dục đối tượng, vị ấy từ bỏ, đoạn trừ, xua tan, chấm dứt, làm cho không còn tồn tại dục phiền não – (đây là ý nghĩa của) kāme pahāya. Virato kathāhīti: Hoài nghi được gọi là ‘kathaṃkathā.’ Nghi ngờ về Khổ… sự cứng đờ, sự hoang mang của tâm; vị ấy xa lìa, từ bỏ, hoàn toàn từ bỏ, thoát ra, rũ bỏ, giải thoát, không còn liên hệ, sống với tâm không còn giới hạn do hoài nghi ấy – như vậy cũng là virato kathāhi… Hoặc là, vị ấy xa lìa, từ bỏ, hoàn toàn từ bỏ, thoát ra, rũ bỏ, giải thoát, không còn liên hệ, sống với tâm không còn giới hạn do ba mươi hai loại hý luận – như vậy cũng là virato kathāhīti – (đây là ý nghĩa của) kāme pahāya virato kathāhi.
Taṇhakkhayaṃ nattamahābhipassāti. Taṇhāti rūpataṇhā…pe… dhammataṇhā. Nattaṃ vuccati ratti. Ahoti divaso. Rattiñca divā ca taṇhakkhayaṃ rāgakkhayaṃ dosakkhayaṃ mohakkhayaṃ gatikkhayaṃ upapattikkhayaṃ paṭisandhikkhayaṃ bhavakkhayaṃ saṃsārakkhayaṃ vaṭṭakkhayaṃ passa abhipassa dakkha olokaya nijjhāya upaparikkhāti – taṇhakkhayaṃ nattamahābhipassa. Tenāha bhagavā –
'Day and night, intently observe the destruction of craving.' Herein, 'craving' means craving for forms... craving for mental objects. 'Nattaṃ' is said for night (ratti). 'Aha' is said for day (divaso). 'Day and night': see, intently observe, behold, look at, contemplate, and investigate the destruction of craving, the destruction of lust, the destruction of hatred, the destruction of delusion, the destruction of the five destinations, the destruction of the two kinds of rebirth, the destruction of the three kinds of relinking, the destruction of the three kinds of existence, the destruction of the wheel of saṃsāra, and the destruction of the three rounds. Thus: 'Day and night, intently observe the destruction of craving.' Therefore the Blessed One said:
Taṇhakkhayaṃ nattamahābhipassā: Về ‘taṇhā,’ (có) sắc ái… pháp ái. ‘Nattaṃ’ được gọi là ban đêm. ‘Aho’ được gọi là ban ngày. Cả đêm lẫn ngày, hãy thấy, hãy thấy rõ, hãy nhận biết, hãy quan sát, hãy chiêm nghiệm, hãy thẩm xét sự đoạn tận của ái, sự đoạn tận của tham, sự đoạn tận của sân, sự đoạn tận của si, sự đoạn tận của các cõi, sự đoạn tận của sự tái sanh, sự đoạn tận của sự nối liền, sự đoạn tận của các hữu, sự đoạn tận của luân hồi, sự đoạn tận của vòng luân chuyển – (đây là ý nghĩa của) taṇhakkhayaṃ nattamahābhipassa. Do đó, đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Ākiñcaññaṃ pekkhamāno satimā, [upasīvāti bhagavā]
Natthīti nissāya tarassu oghaṃ;
Kāme pahāya virato kathāhi, taṇhakkhayaṃ nattamahābhipassā’’ti.
"Mindfully contemplating nothingness, Upasīva," said the Blessed One, "relying on 'There is nothing,' you should cross the flood. Having abandoned sensual pleasures, abstaining from talk, day and night you should intently observe the destruction of craving."
“Này Upasīva, hãy là người có chánh niệm, quán xét Vô Sở Hữu Xứ, nương tựa vào ‘không có gì cả’ mà vượt qua bộc lưu; hãy từ bỏ các dục, xa lìa các hý luận, ngày và đêm hãy thấy rõ sự đoạn tận của ái.”
40.
40.
40.
Sabbesu kāmesu yo vītarāgo, [iccāyasmā upasīvo]
Ākiñcaññaṃ nissito hitvā maññaṃ;
Saññāvimokkhe paramedhimutto, tiṭṭhe nu so tattha anānuyāyī.
"One who for all sensual pleasures is free from lust," [said the Venerable Upasīva,] "relying on nothingness, having abandoned the other [attainments]; one supremely resolved on the liberation of perception—would he remain there, not proceeding further?"
Tôn giả Upasīva (hỏi): “Vị nào đã ly tham trong tất cả các dục, nương tựa vào Vô Sở Hữu Xứ, từ bỏ các (tầng thiền) khác; hướng tâm đến sự giải thoát cao nhất về tưởng, vị ấy có thể an trú ở đó mà không bị thoái chuyển chăng?”
Sabbesu kāmesu yo vītarāgoti. Sabbesūti sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ asesaṃ nissesaṃ pariyādiyanavacanametaṃ sabbesūti. Kāmesūti kāmāti uddānato dve kāmā – vatthukāmā ca kilesakāmā ca…pe… ime vuccanti vatthukāmā…pe… ime vuccanti kilesakāmā. Sabbesu kāmesu yo vītarāgoti. Sabbesu kāmesu yo vītarāgo vigatarāgo cattarāgo vantarāgo muttarāgo pahīnarāgo paṭinissaṭṭharāgo vikkhambhanatoti – sabbesu kāmesu yo vītarāgo.
'One who for all sensual pleasures is free from lust.' Herein, 'all': this term 'all' means entirely, in every way, without remainder, without exception; it is a term of complete inclusion. 'Sensual pleasures': in brief, there are two kinds of sensual pleasures: sensual objects and sensual defilements.... These are called sensual objects.... These are called sensual defilements. 'One who for all sensual pleasures is free from lust': one who for all sensual pleasures is free from lust, devoid of lust, has discarded lust, has spewed out lust, is released from lust, has abandoned lust, has relinquished lust by way of suppression. Thus: 'One who for all sensual pleasures is free from lust.'
Sabbesu kāmesu yo vītarāgo: Về ‘sabbesu,’ (có nghĩa là) toàn bộ, tất cả, không còn sót lại, không có ngoại lệ; đây là từ ngữ bao hàm tất cả. Về ‘kāmesu,’ về ‘kāmā,’ tóm lại có hai loại dục: dục đối tượng và dục phiền não… đây được gọi là dục đối tượng… đây được gọi là dục phiền não. Sabbesu kāmesu yo vītarāgo: Người nào trong tất cả các dục đã ly tham, đã hết tham, đã từ bỏ tham, đã nôn ra tham, đã giải thoát khỏi tham, đã đoạn trừ tham, đã xả ly tham bằng cách chế ngự – (đây là ý nghĩa của) sabbesu kāmesu yo vītarāgo.
Iccāyasmā upasīvoti. Iccāti padasandhi…pe…. Āyasmāti piyavacanaṃ…pe…. Upasīvoti tassa brāhmaṇassa nāmaṃ…pe… abhilāpoti – iccāyasmā upasīvo.
'Thus the Venerable Upasīva.' Herein, 'thus' is a conjunction of words.... 'Venerable' is an affectionate term.... 'Upasīva' is that brahmin's name ... a designation. Thus: 'Thus the Venerable Upasīva.'
Iccāyasmā upasīvo: ‘Iccā’ là sự kết hợp từ… ‘Āyasmā’ là một từ ngữ thân ái… ‘Upasīvo’ là tên của vị Bà-la-môn ấy… là một cách gọi – (đây là ý nghĩa của) iccāyasmā upasīvo.
Ākiñcaññaṃ nissito hitvā maññanti. Heṭṭhimā cha samāpattiyo hitvā cajitvā pariccajitvā atikkamitvā samatikkamitvā vītivattitvā ākiñcaññāyatanasamāpattiṃ nissito allīno upagato samupagato ajjhosito adhimuttoti – ākiñcaññaṃ nissito hitvā maññaṃ.
'Relying on nothingness, having abandoned the other [attainments].' Having abandoned, relinquished, forsaken, transcended, completely transcended, and gone beyond the six lower attainments, one is relying on, clinging to, entered upon, fully entered upon, settled upon, and resolved on the attainment of the base of nothingness. Thus: 'Relying on nothingness, having abandoned the other [attainments].'
Ākiñcaññaṃ nissito hitvā maññaṃ: Sau khi từ bỏ, xả ly, hoàn toàn xả ly, vượt qua, hoàn toàn vượt qua, siêu việt sáu tầng thiền chứng thấp hơn, vị ấy nương tựa, gắn bó, đạt đến, hoàn toàn đạt đến, quyết tâm, hướng tâm đến Vô Sở Hữu Xứ Định – (đây là ý nghĩa của) ākiñcaññaṃ nissito hitvā maññaṃ.
Saññāvimokkhe paramedhimuttoti saññāvimokkhā vuccanti satta saññāsamāpattiyo. Tāsaṃ saññāsamāpattīnaṃ ākiñcaññāyatanasamāpattivimokkho † aggo ca seṭṭho ca viseṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro ca, parame agge seṭṭhe viseṭṭhe pāmokkhe uttame pavare adhimuttivimokkhena adhimutto tatrādhimutto tadadhimutto taccarito tabbahulo taggaruko tanninno tappoṇo tappabbhāro tadadhimutto tadadhipateyyoti – saññāvimokkhe paramedhimutto.
Supremely resolved on the liberation through perception. The seven attainments with perception are called the liberations through perception. Among these attainments with perception, the attainment of the base of nothingness is a liberation, and it is the highest, best, most excellent, foremost, supreme, and sublime. In the supreme, highest, best, most excellent, foremost, supreme, and sublime liberation, one is resolved by means of the liberation of resolution; one is resolved on that, devoted to that, practicing that, abiding much in that, revering that, inclining to that, sloping towards that, bent on that, resolved on that, and having that as one's sovereign. Thus: 'supremely resolved on the liberation through perception.'
“Saññāvimokkhe paramedhimutto” (đã hướng tâm đến sự giải thoát về tưởng ở mức độ tối thượng): Bảy thiền chứng có tưởng được gọi là các sự giải thoát về tưởng. Trong số các thiền chứng có tưởng ấy, thiền chứng Vô Sở Hữu Xứ là sự giải thoát, là cao tột, là ưu việt, là đặc biệt ưu việt, là chủ yếu, là tối thượng, và là đặc biệt cao quý. Ở (thiền Vô Sở Hữu Xứ) cao quý, hàng đầu, ưu việt, đặc biệt ưu việt, chủ yếu, tối thượng, đặc biệt cao quý, vị ấy đã hướng tâm đến, đã hướng tâm đến nơi ấy, đã hướng tâm đến điều ấy, đã thực hành điều ấy, đã làm cho sung mãn điều ấy, đã xem trọng điều ấy, đã hướng về điều ấy, đã xuôi về điều ấy, đã nghiêng về điều ấy, đã hướng tâm đến điều ấy, đã lấy điều ấy làm chủ, do sự giải thoát bằng cách hướng tâm. Đây là ý nghĩa của câu “saññāvimokkhe paramedhimutto”.
Tiṭṭhe nu so tattha anānuyāyīti. Tiṭṭhe nūti saṃsayapucchā vimatipucchā dveḷhakapucchā anekaṃsapucchā, ‘‘evaṃ nu kho, nanu kho, kiṃ nu kho, kathaṃ nu kho’’ti – tiṭṭhe nu. Tatthāti ākiñcaññāyatane. Anānuyāyīti anānuyāyī aviccamāno † avigacchamāno anantaradhāyamāno aparihāyamāno…pe…. Atha vā, arajjamāno adussamāno amuyhamāno akilissamānoti – tiṭṭhe nu so tattha anānuyāyī. Tenāha so brāhmaṇo –
Would he remain there, not following on? ‘Would he remain?’ is a question of doubt, a question of uncertainty, a question of perplexity, a question of ambiguity: ‘Is it so? Is it not so? What now? How now?’ Thus: ‘Would he remain?’ ‘There’ means in the base of nothingness. ‘Not following on’ means not following on, not passing away, not departing, not disappearing, not declining.... Or else, not being impassioned, not being malevolent, not being deluded, not being defiled. Thus: ‘Would he remain there, not following on?’ Therefore that brahmin said:
“Tiṭṭhe nu so tattha anānuyāyīti” (vị ấy có lẽ sẽ an trú ở nơi ấy, không đi theo chăng?): “Tiṭṭhe nu” là câu hỏi có sự hoài nghi, câu hỏi có sự phân vân, câu hỏi có sự lưỡng lự, câu hỏi không chắc chắn, (như là): “Có lẽ sẽ an trú như vậy chăng? Chẳng phải sẽ an trú chăng? Sẽ an trú thế nào? Tại sao sẽ an trú?”. “Tattha” là ở cõi Vô Sở Hữu Xứ. “Anānuyāyī” là không đi theo, không di chuyển, không đi đến sự vắng bặt, không biến mất, không bị suy giảm... Hoặc là, không bị tham ái nhiễm ô, không bị sân hận làm hại, không bị si mê làm cho lầm lạc, không bị phiền não làm cho ô uế. Đây là ý nghĩa của câu “tiṭṭhe nu so tattha anānuyāyī”. Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói:
‘‘Sabbesu kāmesu yo vītarāgo, [iccāyasmā upasīvo]
Ākiñcaññaṃ nissito hitvā maññaṃ;
Saññāvimokkhe paramedhimutto, tiṭṭhe nu so tattha anānuyāyī’’ti.
‘He who is free from lust for all sensual pleasures, [said the venerable Upasīva] dependent on nothingness, having abandoned the other; supremely resolved on the liberation through perception, would he remain there, not following on?’
Tôn giả Upasīva đã nói: “Vị nào đã ly tham trong tất cả các dục, nương tựa vào Vô Sở Hữu Xứ, từ bỏ cái khác; đã hướng tâm đến sự giải thoát về tưởng ở mức độ tối thượng, vị ấy có lẽ sẽ an trú ở nơi ấy, không đi theo chăng?”.
41.
41.
41.
Sabbesu kāmesu yo vītarāgo, [upasīvāti bhagavā]
Ākiñcaññaṃ nissito hitvā maññaṃ;
Saññāvimokkhe paramedhimutto, tiṭṭheyya so tattha anānuyāyī.
‘He who is free from lust for all sensual pleasures, [said the Blessed One to Upasīva,] dependent on nothingness, having abandoned the other; supremely resolved on the liberation through perception, he would remain there, not following on.’
(Đức Thế Tôn): “Này Upasiva, vị nào đã ly tham trong tất cả các dục, nương tựa vào Vô Sở Hữu Xứ, từ bỏ cái khác; đã hướng tâm đến sự giải thoát về tưởng ở mức độ tối thượng, vị ấy sẽ an trú ở nơi ấy, không đi theo.”
Sabbesu kāmesu yo vītarāgoti. Sabbesūti sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ asesaṃ nissesaṃ pariyādiyanavacanametaṃ sabbesūti. Kāmesūti kāmāti uddānato dve kāmā – vatthukāmā ca kilesakāmā ca…pe… ime vuccanti vatthukāmā…pe… ime vuccanti kilesakāmā. Sabbesu kāmesu yo vītarāgoti sabbesu kāmesu yo vītarāgo…pe… paṭinissaṭṭharāgo vikkhambhanatoti – sabbesu kāmesu yo vītarāgo.
He who is free from lust for all sensual pleasures. ‘In all’: this is a term of complete comprehension—‘in all’ means entirely, in every way, wholly, without remainder, without exception. ‘Sensual pleasures’: in brief, there are two kinds of sensual pleasures: sensual pleasures as objects and sensual pleasures as defilements.... These are called sensual pleasures as objects.... These are called sensual pleasures as defilements. ‘He who is free from lust for all sensual pleasures’ means he who is free from lust for all sensual pleasures... whose lust is relinquished through suppression. Thus: ‘He who is free from lust for all sensual pleasures.’
“Sabbesu kāmesu yo vītarāgo” (vị nào đã ly tham trong tất cả các dục): “Sabbesu” là toàn thể, mọi phương diện, không còn sót lại, không có dư sót; từ “sabbesu” này là từ ngữ chỉ sự bao trùm. Về “kāmesu”, “kāmā” (các dục) theo tóm lược có hai loại: dục đối tượng và dục phiền não... những thứ này được gọi là dục đối tượng... những thứ này được gọi là dục phiền não. “Sabbesu kāmesu yo vītarāgo” là vị nào đã ly tham trong tất cả các dục... có tham ái đã được từ bỏ bằng cách chế ngự. Đây là ý nghĩa của câu “sabbesu kāmesu yo vītarāgo”.
Upasīvāti bhagavāti. Upasīvāti bhagavā taṃ brāhmaṇaṃ nāmena ālapati. Bhagavāti gāravādhivacanametaṃ…pe… sacchikā paññatti, yadidaṃ bhagavāti – upasīvāti bhagavā.
“The Blessed One [addresses] Upasiva.” The Blessed One addresses that brahmin by his name, Upasiva. “Blessed One” is a term of respect... a designation based on realization, that is, “Blessed One.” Thus: “The Blessed One [addresses] Upasiva.”
“Upasīvāti bhagavā” (Đức Thế Tôn gọi: “Này Upasiva”): “Upasīva”, Đức Thế Tôn gọi vị Bà-la-môn ấy bằng tên. “Bhagavā” là danh xưng thể hiện sự tôn kính... là danh từ chỉ định thực tại, đó là “Bhagavā”. Đây là ý nghĩa của câu “upasīvāti bhagavā”.
Ākiñcaññaṃ nissito hitvā maññanti. Heṭṭhimā cha samāpattiyo hitvā cajitvā pariccajitvā atikkamitvā samatikkamitvā vītivattitvā ākiñcaññāyatanasamāpattiṃ nissito allīno upagato samupagato ajjhosito adhimuttoti – ākiñcaññaṃ nissito hitvā maññaṃ.
“Dependent on nothingness, having abandoned conceiving.” This means: having abandoned, relinquished, forsaken, transcended, completely transcended, and gone beyond the six lower attainments, one is dependent on, clinging to, has approached, has fully approached, is settled upon, and is resolved on the attainment of the base of nothingness. Thus: “Dependent on nothingness, having abandoned conceiving.”
“Ākiñcaññaṃ nissito hitvā maññanti” (nương tựa vào Vô Sở Hữu Xứ, từ bỏ cái khác): (Nghĩa là) sau khi đã từ bỏ, xả ly, hoàn toàn xả ly, vượt qua, hoàn toàn vượt qua, đặc biệt vượt qua sáu thiền chứng thấp hơn, vị ấy nương tựa, gắn bó, đi đến gần, hoàn toàn đi đến gần, quyết định, hướng tâm đến thiền chứng Vô Sở Hữu Xứ. Đây là ý nghĩa của câu “ākiñcaññaṃ nissito hitvā maññaṃ”.
Saññāvimokkhe paramedhimuttoti saññāvimokkhā vuccanti satta saññāsamāpattiyo. Tāsaṃ saññāsamāpattīnaṃ ākiñcaññāyatanasamāpattivimokkho aggo ca seṭṭho ca viseṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro ca, parame agge seṭṭhe viseṭṭhe pāmokkhe uttame pavare adhimuttivimokkhena adhimutto tatrādhimutto tadadhimutto…pe… tadadhipateyyoti – saññāvimokkhe paramedhimutto.
“Supremely resolved on the liberation through perception.” The seven attainments of perception are called the liberations through perception. Among these attainments of perception, the liberation of the attainment of the base of nothingness is the highest, best, most excellent, foremost, supreme, and sublime. Resolved by means of this supreme liberation of resolution, one is resolved on that, devoted to that... and has that as one's sovereign. Thus: “supremely resolved on the liberation through perception.”
“Saññāvimokkhe paramedhimutto” (đã hướng tâm đến sự giải thoát về tưởng ở mức độ tối thượng): Bảy thiền chứng có tưởng được gọi là các sự giải thoát về tưởng. Trong số các thiền chứng có tưởng ấy, thiền chứng Vô Sở Hữu Xứ là sự giải thoát, là cao tột, là ưu việt, là đặc biệt ưu việt, là chủ yếu, là tối thượng, và là đặc biệt cao quý. Ở (thiền Vô Sở Hữu Xứ) cao quý, hàng đầu, ưu việt, đặc biệt ưu việt, chủ yếu, tối thượng, đặc biệt cao quý, vị ấy đã hướng tâm đến, đã hướng tâm đến nơi ấy, đã hướng tâm đến điều ấy... đã lấy điều ấy làm chủ, do sự giải thoát bằng cách hướng tâm. Đây là ý nghĩa của câu “saññāvimokkhe paramedhimutto”.
Tiṭṭheyya so tattha anānuyāyīti. Tiṭṭheyyāti tiṭṭheyya saṭṭhikappasahassāni. Tatthāti ākiñcaññāyatane. Anānuyāyīti anānuyāyī aviccamāno avigacchamāno anantaradhāyamāno aparihāyamāno. Atha vā, arajjamāno adussamāno amuyhamāno akilissamānoti – tiṭṭheyya so tattha anānuyāyī. Tenāha bhagavā –
“He would remain there, not following on.” ‘He would remain’ means he would remain for sixty thousand eons. ‘There’ means in the base of nothingness. ‘Not following on’ means not following on, not passing away, not departing, not disappearing, not declining. Or else, it means not being impassioned, not being malevolent, not being deluded, not being defiled. Thus: “he would remain there, not following on.” Therefore the Blessed One said:
“Tiṭṭheyya so tattha anānuyāyīti” (vị ấy sẽ an trú ở nơi ấy, không đi theo): “Tiṭṭheyya” là sẽ an trú trong sáu mươi ngàn đại kiếp. “Tattha” là ở cõi Vô Sở Hữu Xứ. “Anānuyāyī” là không đi theo, không di chuyển, không đi đến sự vắng bặt, không biến mất, không bị suy giảm. Hoặc là, không bị tham ái nhiễm ô, không bị sân hận làm hại, không bị si mê làm cho lầm lạc, không bị phiền não làm cho ô uế. Đây là ý nghĩa của câu “tiṭṭheyya so tattha anānuyāyī”. Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Sabbesu kāmesu yo vītarāgo, [upasīvāti bhagavā]
Ākiñcaññaṃ nissito hitvā maññaṃ;
Saññāvimokkhe paramedhimutto, tiṭṭheyya so tattha anānuyāyī’’ti.
“He who is free from lust for all sensual pleasures, [said the Blessed One to Upasiva,] dependent on nothingness, having abandoned conceiving; supremely resolved on the liberation through perception, he would remain there, not following on.”
(Đức Thế Tôn đã nói): “Này Upasiva, vị nào đã ly tham trong tất cả các dục, nương tựa vào Vô Sở Hữu Xứ, từ bỏ cái khác; đã hướng tâm đến sự giải thoát về tưởng ở mức độ tối thượng, vị ấy sẽ an trú ở nơi ấy, không đi theo.”
42.
42.
42.
Tiṭṭhe ce so tattha anānuyāyī, pūgampi vassāni † samantacakkhu;
Tattheva so sītisiyā vimutto, cavetha viññāṇaṃ tathāvidhassa.
“If he were to remain there, not following on, for a multitude of years, O All-Seeing One, would he become cool and liberated right there, and would the consciousness of such a one pass away?”
“Kính bạch bậc Toàn Giác, nếu vị ấy an trú ở nơi ấy, không đi theo, trong nhiều năm; vị ấy sẽ được giải thoát, trở nên tịch tịnh ngay tại nơi ấy chăng? Thức của vị như vậy có thể hoại diệt chăng?”.
Tiṭṭhe ce so tattha anānuyāyīti sace so tiṭṭheyya saṭṭhikappasahassāni. Tatthāti ākiñcaññāyatane. Anānuyāyīti anānuyāyī aviccamāno avigacchamāno anantaradhāyamāno aparihāyamāno. Atha vā, arajjamāno adussamāno amuyhamāno akilissamānoti – tiṭṭhe ce so tattha anānuyāyī.
“If he were to remain there, not following on.” This means: if he were to remain for sixty thousand eons. “There” means in the base of nothingness. “Not following on” means not following on, not passing away, not departing, not disappearing, not declining. Or else, it means not being impassioned, not being malevolent, not being deluded, not being defiled. This is the meaning of the phrase, “If he were to remain there, not following on.”
“Tiṭṭhe ce so tattha anānuyāyīti” (nếu vị ấy an trú ở nơi ấy, không đi theo): Nếu vị ấy sẽ an trú trong sáu mươi ngàn đại kiếp. “Tattha” là ở cõi Vô Sở Hữu Xứ. “Anānuyāyī” là không đi theo, không mệnh chung, không đi đến sự vắng bặt, không biến mất, không bị suy giảm. Hoặc là, không bị tham ái nhiễm ô, không bị sân hận làm hại, không bị si mê làm cho lầm lạc, không bị phiền não làm cho ô uế. Đây là ý nghĩa của câu “tiṭṭhe ce so tattha anānuyāyī”.
Pūgampi vassāni samantacakkhūti. Pūgampi vassānīti pūgampi vassāni bahūni vassāni † bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni bahūni vassasatasahassāni bahūni kappāni bahūni kappasatāni bahūni kappasahassāni bahūni kappasatasahassāni. Samantacakkhūti samantacakkhu vuccati sabbaññutañāṇaṃ…pe… tathāgato tena samantacakkhūti – pūgampi vassāni samantacakkhu.
“For a multitude of years, O All-Seeing One.” “A multitude of years” means: for a multitude of years, for many years, for many hundreds of years, for many thousands of years, for many hundreds of thousands of years; for many eons, for many hundreds of eons, for many thousands of eons, for many hundreds of thousands of eons. “All-Seeing One”: the knowledge of omniscience is called the “all-seeing eye”... Therefore, the Tathāgata is the All-Seeing One. This is the meaning of the phrase, “For a multitude of years, O All-Seeing One.”
“Pūgampi vassāni samantacakkhūti” (trong nhiều năm, kính bạch bậc Toàn Giác): “Pūgampi vassāni” là nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, nhiều kiếp, nhiều trăm kiếp, nhiều ngàn kiếp, nhiều trăm ngàn kiếp. “Samantacakkhu”: Toàn tri trí được gọi là Toàn Giác... Do đó, Như Lai được gọi là bậc Toàn Giác. Đây là ý nghĩa của câu “pūgampi vassāni samantacakkhu”.
Tattheva so sītisiyā vimutto, cavetha viññāṇaṃ tathāvidhassāti tattheva so sītibhāvamanuppatto nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo sassatisamaṃ tatheva tiṭṭheyya. Atha vā, tassa viññāṇaṃ caveyya ucchijjeyya nasseyya vinasseyya na bhaveyyāti punabbhavapaṭisandhiviññāṇaṃ nibbatteyya kāmadhātuyā vā rūpadhātuyā vā arūpadhātuyā vāti ākiñcaññāyatanaṃ samāpannassa sassatañca ucchedañca pucchati. Udāhu tattheva anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyeyya. Atha vā, tassa viññāṇaṃ caveyya puna paṭisandhiviññāṇaṃ nibbatteyya kāmadhātuyā vā rūpadhātuyā vā arūpadhātuyā vāti, ākiñcaññāyatanaṃ upapannassa parinibbānañca paṭisandhiñca pucchati. Tathāvidhassāti tathāvidhassa tādisassa tassaṇṭhitassa tappakārassa tappaṭibhāgassa ākiñcaññāyatanaṃ upapannassāti – tattheva so sītisiyā vimutto, cavetha viññāṇaṃ tathāvidhassa. Tenāha so brāhmaṇo –
“Would he become cool and liberated right there, and would the consciousness of such a one pass away?” This means: would he, having attained a state of coolness right there, remain there forever, being permanent, stable, eternal, and not subject to change? Or else, would his consciousness pass away, be cut off, perish, be destroyed, and cease to exist? Thus, concerning one who has attained the base of nothingness, he asks about eternalism and annihilationism. Or else, would he attain final Nibbāna right there with the Nibbāna-element with no residue remaining? Or else, would his consciousness pass away and a rebirth-linking consciousness arise again in the sensual realm, the form realm, or the formless realm? Thus, concerning one who has been reborn in the base of nothingness, he asks about final Nibbāna and rebirth. “Of such a one” means: of one of such a kind, of such a nature, in such a state, of such a character, of such a counterpart, one who has been reborn in the base of nothingness. This is the meaning of the phrase, “Would he become cool and liberated right there, and would the consciousness of such a one pass away?” Therefore, that brahmin said:
(Câu) “Tattheva so sītisiyā vimutto, cavetha viññāṇaṃ tathāvidhassa” có nghĩa là: Ngay tại nơi ấy, vị ấy đã đạt đến trạng thái tịch tịnh, là thường còn, là vững chắc, là vĩnh cửu, có pháp không biến đổi, sẽ tồn tại ngay tại nơi ấy một cách vĩnh viễn. Hoặc là, thức của vị ấy sẽ diệt mất, sẽ bị đoạn tận, sẽ bị hoại diệt, sẽ bị hủy diệt, sẽ không hiện hữu, (nghĩa là) thức tái sanh trong đời sau sẽ không khởi sanh ở cõi Dục, hay ở cõi Sắc, hay ở cõi Vô Sắc. (Như vậy), vị ấy hỏi về (thuyết) thường kiến và đoạn kiến đối với người đã chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ. Hoặc là, ngay tại nơi ấy, vị ấy sẽ nhập Vô Dư Y Niết-bàn với Niết-bàn giới. Hoặc là, thức của vị ấy sẽ diệt mất, rồi thức tái sanh sẽ khởi sanh trở lại ở cõi Dục, hay ở cõi Sắc, hay ở cõi Vô Sắc. (Như vậy), vị ấy hỏi về sự Bát-niết-bàn và sự tái sanh của người đã sanh vào Vô Sở Hữu Xứ. (Từ) “Tathāvidhassa” có nghĩa là: của người có trạng thái như vậy, của người tương tự như vậy, của người đã an trú ở nơi ấy, của người có phương cách như vậy, của người có phần tương đương như vậy, của người đã sanh vào Vô Sở Hữu Xứ. – (Đây là ý nghĩa của câu:) “Ngay tại nơi ấy, vị ấy được giải thoát, trở nên tịch tịnh, hay thức của người như vậy sẽ diệt mất.” Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
‘‘Tiṭṭhe ce so tattha anānuyāyī, pūgampi vassāni samantacakkhu;
Tattheva so sītisiyā vimutto, cavetha viññāṇaṃ tathāvidhassā’’ti.
‘If he were to remain there, not following on, for a multitude of years, O All-Seeing One, would he become cool and liberated right there, and would the consciousness of such a one pass away?’
“Bạch Ngài Toàn Giác Nhãn, nếu vị ấy an trú ở nơi ấy, không còn tùy thuộc, trong nhiều năm; Ngay tại nơi ấy, vị ấy được giải thoát, trở nên tịch tịnh, hay thức của người như vậy sẽ diệt mất?”
43.
43.
43.
Acci yathā vātavegena khittā, [upasīvāti bhagavā]
Atthaṃ paleti na upeti saṅkhaṃ;
Evaṃ munī nāmakāyā vimutto, atthaṃ paleti na upeti saṅkhaṃ.
‘Just as a flame tossed by the force of the wind,’ said the Blessed One to Upasīva, ‘goes to its setting and does not enter into reckoning; so a sage, liberated from the mentality-group, goes to his setting and does not enter into reckoning.’
(Thế Tôn phán:) “Này Upasīva, ví như ngọn lửa bị sức gió thổi mạnh, đã đi đến chỗ tắt, không thể được gọi tên; Cũng vậy, bậc ẩn sĩ được giải thoát khỏi danh thân, đã đi đến chỗ tắt, không thể được gọi tên.”
Acci yathā vātavegena khittāti acci vuccati jālasikhā. Vātāti puratthimā vātā pacchimā vātā uttarā vātā dakkhiṇā vātā sarajā vātā arajā vātā sītā vātā uṇhā vātā parittā vātā adhimattā vātā † verambhavātā pakkhavātā supaṇṇavātā tālapaṇṇavātā vidhūpanavātā. Vātavegena khittāti vātavegena khittā † ukkhittā nunnā paṇunnā khambhitā vikkhambhitāti – acci yathā vātavegena khittā. Upasīvāti bhagavāti. Upasīvāti bhagavā taṃ brāhmaṇaṃ nāmena ālapati. Bhagavāti gāravādhivacanametaṃ…pe… sacchikā paññatti, yadidaṃ bhagavāti – upasīvāti bhagavā.
Just as a flame tossed by the force of the wind. ‘Flame’ means the tip of a fire. ‘Wind’ means: east winds, west winds, north winds, south winds; dusty winds, dustless winds; cold winds, hot winds; light winds, strong winds; squall winds, wing-winds, supaṇṇa-winds, palm-leaf-winds, fan-winds. ‘Tossed by the force of the wind’ means tossed, thrown up, driven, propelled, shaken, thoroughly shaken by the force of the wind. Thus: ‘Just as a flame tossed by the force of the wind.’ Said the Blessed One to Upasīva. The Blessed One addresses that brahmin by his name, Upasīva. ‘Blessed One’ is a term of respect… a designation based on realization, that is, ‘Blessed One.’ Thus: ‘Said the Blessed One to Upasīva.’
(Câu) “Acci yathā vātavegena khittā” (ví như ngọn lửa bị sức gió thổi mạnh): “Acci” được gọi là ngọn lửa. “Vāta” (gió) là: gió từ phương đông, gió từ phương tây, gió từ phương bắc, gió từ phương nam, gió có bụi, gió không có bụi, gió lạnh, gió nóng, gió nhẹ, gió mạnh, gió bão, gió (từ) cánh, gió (từ chim) supaṇṇa, gió (từ) lá thốt nốt, gió (từ) quạt. (Cụm từ) “Vātavegena khittā” (bị sức gió thổi mạnh) có nghĩa là: bị sức gió thổi, thổi tung lên, đẩy đi, xô đi xa, làm rung động, làm rung động mạnh. – Đây là ý nghĩa của câu “Acci yathā vātavegena khittā.” (Câu) “Upasīvāti bhagavā” (Thế Tôn phán: “Này Upasīva”): Đức Thế Tôn gọi vị Bà-la-môn ấy bằng tên Upasīva. “Bhagavā” là một từ chỉ sự tôn kính... (v.v.)... là một danh xưng thực tế, đó là “Bhagavā.” – Đây là ý nghĩa của câu “Upasīvāti bhagavā.”
Atthaṃ paleti na upeti saṅkhanti. Atthaṃ paletīti atthaṃ paleti, atthaṃ gameti, atthaṃ gacchati nirujjhati vūpasamati paṭippassambhati. Na upeti saṅkhanti saṅkhaṃ † na upeti, uddesaṃ na upeti, gaṇanaṃ na upeti, paṇṇattiṃ na upeti, ‘‘puratthimaṃ vā disaṃ gatā, pacchimaṃ vā disaṃ gatā, uttaraṃ vā disaṃ gatā, dakkhiṇaṃ vā disaṃ gatā uddhaṃ vā gatā, adho vā gatā, tiriyaṃ vā gatā, vidisaṃ vā gatā’’ti, so hetu natthi, paccayo natthi, kāraṇaṃ natthi, yena saṅkhaṃ gaccheyyāti – atthaṃ paleti na upeti saṅkhaṃ.
Goes to its setting, it does not enter into reckoning. ‘Goes to its setting’ means it goes to its setting, it goes to its end, it goes to disappearance, it ceases, it is stilled, it is calmed. ‘It does not enter into reckoning’ means it does not enter into reckoning, it does not enter into designation, it does not enter into calculation, it does not enter into classification, as in: ‘It has gone to the eastern direction, or the western direction, or the northern direction, or the southern direction, or upwards, or downwards, or across, or to an intermediate direction.’ There is no cause, no condition, no reason whereby it could enter into reckoning. Thus: ‘Goes to its setting, it does not enter into reckoning.’
(Câu) “Atthaṃ paleti na upeti saṅkhaṃ” (đã đi đến chỗ tắt, không thể được gọi tên): (Cụm từ) “Atthaṃ paleti” có nghĩa là: đi đến chỗ tắt, đi đến chỗ diệt, đi đến chỗ biến mất, chấm dứt, lắng dịu, trở nên an tịnh. (Cụm từ) “Na upeti saṅkhaṃ” có nghĩa là: không thể được gọi tên, không thể được chỉ định, không thể được đếm, không thể được chế định, (như là:) “đã đi về phương đông, hay đã đi về phương tây, hay đã đi về phương bắc, hay đã đi về phương nam, hay đã đi lên trên, hay đã đi xuống dưới, hay đã đi ngang, hay đã đi về hướng trung gian.” Không có nhân ấy, không có duyên ấy, không có lý do ấy, mà nhờ đó có thể được gọi tên. – Đây là ý nghĩa của câu “Atthaṃ paleti na upeti saṅkhaṃ.”
Evaṃ munī nāmakāyā vimuttoti. Evanti opammasampaṭipādanaṃ. Munīti monaṃ vuccati ñāṇaṃ …pe… saṅgajālamaticca so muni. Nāmakāyā vimuttoti so muni pakatiyā pubbeva rūpakāyā vimutto. Tadaṅgaṃ samatikkamā † vikkhambhanappahānena pahīno. Tassa munino bhavantaṃ āgamma cattāro ariyamaggā paṭiladdhā honti. Catunnaṃ ariyamaggānaṃ paṭiladdhattā nāmakāyo ca rūpakāyo ca pariññātā honti. Nāmakāyassa ca rūpakāyassa ca pariññātattā nāmakāyā ca rūpakāyā ca mutto vimutto suvimutto accantaanupādāvimokkhenāti – evaṃ munī nāmakāyā vimutto.
Thus the sage is freed from the name-body. 'Thus' indicates the completion of the simile. 'Sage'—knowledge is called 'mona' (sagehood) …pe… having crossed the net of attachment, he is a sage. 'Freed from the name-body'—that sage is by nature freed from the form-body even before. The defilements are abandoned by overcoming through momentary abandonment and by suppression-abandonment. For that sage, by relying on the end of existence, the four noble paths are attained. Because the four noble paths have been attained, the name-body and the form-body are fully understood. Because the name-body and the form-body have been fully understood, he is freed, released, and completely liberated from the name-body and the form-body through ultimate liberation without grasping—thus the sage is freed from the name-body.
(Câu) “Evaṃ munī nāmakāyā vimutto” (Cũng vậy, bậc ẩn sĩ được giải thoát khỏi danh thân): “Evaṃ” (cũng vậy) là sự trình bày hoàn tất của ví dụ. “Munī” (bậc ẩn sĩ): sự tĩnh lặng được gọi là trí tuệ... (v.v.)... vượt qua lưới ái luyến, vị ấy là bậc ẩn sĩ. (Cụm từ) “Nāmakāyā vimutto” (được giải thoát khỏi danh thân): vị ẩn sĩ ấy, về bản chất, trước tiên đã được giải thoát khỏi sắc thân. Do đã vượt qua các chi phần tương ứng, (phiền não) đã được đoạn trừ bằng sự đoạn trừ theo cách đè nén. Đối với vị ẩn sĩ ấy, khi đến cuối của sự hiện hữu, bốn Thánh đạo được chứng đắc. Do đã chứng đắc bốn Thánh đạo, danh thân và sắc thân được liễu tri. Do đã liễu tri danh thân và sắc thân, vị ấy được thoát khỏi, được giải thoát, được hoàn toàn giải thoát khỏi cả danh thân và sắc thân bằng sự giải thoát hoàn toàn không còn chấp thủ. – Đây là ý nghĩa của câu “Evaṃ munī nāmakāyā vimutto.”
Atthaṃ paleti na upeti saṅkhanti. Atthaṃ paletīti anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyati. Na upeti saṅkhanti anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbuto saṅkhaṃ na upeti, uddesaṃ na upeti, gaṇanaṃ na upeti, paṇṇattiṃ na upeti – khattiyoti vā brāhmaṇoti vā vessoti vā suddoti vā gahaṭṭhoti vā pabbajitoti vā devoti vā manussoti vā rūpīti vā arūpīti vā saññīti vā asaññīti vā nevasaññīnāsaññīti vā. So hetu natthi paccayo natthi kāraṇaṃ natthi yena saṅkhaṃ gaccheyyāti – atthaṃ paleti na upeti saṅkhaṃ. Tenāha bhagavā –
He vanishes, he does not come to reckoning. 'He vanishes' means he is utterly extinguished in the Nibbāna-element without residue remaining. 'He does not come to reckoning' means one who has been utterly extinguished in the Nibbāna-element without residue remaining does not come to reckoning, does not come to designation, does not come to calculation, does not come to denotation—whether as a noble, a brahmin, a merchant, a worker, a householder, a renunciant, a god, a human, a form-being, a formless-being, a perceiving-being, a non-perceiving-being, or a neither-perceiving-nor-non-perceiving-being. There is no cause, no condition, no reason by which one might come to reckoning—he vanishes, he does not come to reckoning. Therefore the Blessed One said:
(Câu) “Atthaṃ paleti na upeti saṅkhaṃ” (đã đi đến chỗ tắt, không thể được gọi tên): (Cụm từ) “Atthaṃ paleti” có nghĩa là: vị ấy nhập Vô Dư Y Niết-bàn với Niết-bàn giới. (Cụm từ) “Na upeti saṅkhaṃ” có nghĩa là: người đã nhập Vô Dư Y Niết-bàn với Niết-bàn giới thì không thể được gọi tên, không thể được chỉ định, không thể được đếm, không thể được chế định – là Sát-đế-lỵ, hay Bà-la-môn, hay Phệ-xá, hay Thủ-đà, hay tại gia, hay xuất gia, hay chư thiên, hay loài người, hay có sắc, hay không có sắc, hay có tưởng, hay không có tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng. Không có nhân ấy, không có duyên ấy, không có lý do ấy, mà nhờ đó có thể được gọi tên. – Đây là ý nghĩa của câu “Atthaṃ paleti na upeti saṅkhaṃ.” Do đó, Đức Thế Tôn đã dạy rằng:
‘‘Acci yathā vātavegena khittā, [upasīvāti bhagavā]
Atthaṃ paleti na upeti saṅkhaṃ;
Evaṃ munī nāmakāyā vimutto, atthaṃ paleti na upeti saṅkha’’nti.
“As a flame tossed by the force of the wind, [Upasīva, said the Blessed One,] vanishes and cannot be reckoned; so too a sage freed from the name-body vanishes and cannot be reckoned.”
“Ví như ngọn lửa bị sức gió thổi mạnh, đã đi đến chỗ tắt, không thể được gọi tên; Cũng vậy, bậc ẩn sĩ được giải thoát khỏi danh thân, đã đi đến chỗ tắt, không thể được gọi tên.”
44.
44.
44.
Atthaṅgato so uda vā so natthi, udāhu ve sassatiyā arogo;
Taṃ me munī sādhu viyākarohi, tathā hi te vidito esa dhammo.
“Has he gone to rest or does he not exist, or is he eternally free from disease? O sage, kindly explain this to me, for this Dhamma is known to you.”
“Vị ấy đã đi đến chỗ tận diệt, hay vị ấy không còn hiện hữu, hay là vị ấy vĩnh viễn không còn biến hoại? Kính xin bậc Ẩn Sĩ hãy khéo giảng giải điều ấy cho con, vì quả thật pháp này đã được Ngài biết rõ.”
Atthaṅgato so uda vā so natthīti so atthaṅgato udāhu natthi so niruddho ucchinno vinaṭṭhoti – atthaṅgato so uda vā so natthi.
'Is he extinguished, or does he not exist?'—this means: Is he extinguished, or does he not exist? Is he ceased, cut off, destroyed?—thus: 'Is he extinguished, or does he not exist?'
(Câu) “Atthaṅgato so uda vā so natthi” (Vị ấy đã đi đến chỗ tận diệt, hay vị ấy không còn hiện hữu) có nghĩa là: Vị ấy đã đi đến chỗ tận diệt, hay là vị ấy không còn hiện hữu, đã chấm dứt, đã bị đoạn tận, đã bị hủy diệt. – Đây là ý nghĩa của câu “Atthaṅgato so uda vā so natthi.”
Udāhu ve sassatiyā arogoti udāhu nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo sassatisamaṃ tatheva tiṭṭheyyāti – udāhu ve sassatiyā arogo.
Or is he eternally free from disease?—this means: Or is he permanent, stable, eternal, of a nature not subject to change, and being perfectly permanent, would he remain right there in that very sphere of nothingness?—thus: Or is he eternally free from disease?
(Câu) “Udāhu ve sassatiyā arogo” (hay là vị ấy vĩnh viễn không còn biến hoại) có nghĩa là: Hay là vị ấy là thường còn, là vững chắc, là vĩnh cửu, có pháp không biến đổi, sẽ tồn tại ngay tại nơi ấy một cách vĩnh viễn. – Đây là ý nghĩa của câu “Udāhu ve sassatiyā arogo.”
Taṃ me munī sādhu viyākarohīti. Tanti yaṃ pucchāmi yaṃ yācāmi yaṃ ajjhesāmi yaṃ pasādemi. Munīti monaṃ vuccati ñāṇaṃ…pe… saṅgajālamaticca so muni. Sādhu viyākarohīti sādhu ācikkhāhi desehi paññapehi paṭṭhapehi vivarāhi vibhajāhi uttānīkarohi pakāsehīti – taṃ me munī sādhu viyākarohi.
That, O sage, kindly explain to me.—this means: That which I ask, that which I request, that which I entreat, that which I revere. 'Sage'—knowledge is called 'mona' (sagehood) [...]; having crossed over the entangling net of attachment, he is a sage. 'Kindly explain'—this means: kindly declare, teach, make known, establish, open up, analyze, make plain, reveal.—thus: That, O sage, kindly explain to me.
(Câu) “Taṃ me munī sādhu viyākarohi” (Kính xin bậc Ẩn Sĩ hãy khéo giảng giải điều ấy cho con): “Taṃ” (điều ấy) là: điều mà con hỏi, điều mà con cầu xin, điều mà con thỉnh cầu, điều mà con hoan hỷ. “Munī” (bậc Ẩn Sĩ): sự tĩnh lặng được gọi là trí tuệ... (v.v.)... vượt qua lưới ái luyến, vị ấy là bậc ẩn sĩ. (Cụm từ) “Sādhu viyākarohi” (hãy khéo giảng giải) có nghĩa là: xin hãy nói rõ, hãy thuyết giảng, hãy cho biết, hãy thiết lập, hãy khai mở, hãy phân tích, hãy làm cho hiển lộ, hãy trình bày. – Đây là ý nghĩa của câu “Taṃ me munī sādhu viyākarohi.”
Tathā hi te vidito esa dhammoti tathā hi te vidito tulito tīrito vibhūto vibhāvito esa dhammoti – tathā hi te vidito esa dhammo. Tenāha so brāhmaṇo –
For this Dhamma is known to you in such a way—this means: Indeed, by you this Dhamma has been known, weighed, considered, revealed, and illuminated in such a way as to make beings know—thus: For this Dhamma is known to you in such a way. Therefore that brahmin said:
‘Tathā hi te vidito esa dhammo’ti có nghĩa là: Quả thật, pháp này đã được ngài biết rõ, cân nhắc, thẩm xét, làm cho hiển lộ, làm cho sáng tỏ như thế. – Quả thật, pháp này đã được ngài biết rõ như thế. Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói:
‘‘Atthaṅgato so uda vā so natthi, udāhu ve sassatiyā arogo;
Taṃ me munī sādhu viyākarohi, tathā hi te vidito esa dhammo’’ti.
Has he gone to rest, or does he not exist, or is he eternally free from disease? That, O sage, kindly explain to me, for this Dhamma is known to you.
“Vị ấy đã đi đến chỗ lặn mất, hay là vị ấy không có? Hay là vị ấy được vô bệnh một cách thường hằng? Xin bậc Mâu-ni hãy khéo giảng giải điều ấy cho con, vì rằng pháp này đã được ngài biết rõ như thế.”
45.
45.
45.
Atthaṅgatassa na pamāṇamatthi, [upasīvāti bhagavā]
Yena naṃ vajjuṃ taṃ tassa natthi;
Sabbesu dhammesu samūhatesu, samūhatā vādapathāpi sabbe.
For one who has gone to rest, there is no measure, [Upasīva, said the Blessed One]. That ground by which one might speak of him exists not for him; when all dhammas have been uprooted, all pathways for speech are also uprooted.
(Thế Tôn phán: Này Upasīva), đối với người đã đi đến chỗ lặn mất thì không có sự đo lường. Cái nhân mà do đó người ta có thể nói về vị ấy, cái ấy không có nơi vị ấy. Khi tất cả các pháp đã được nhổ sạch, tất cả các con đường của ngôn thuyết cũng đều được nhổ sạch.
Atthaṅgatassa na pamāṇamatthīti atthaṅgatassa anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbutassa rūpapamāṇaṃ natthi, vedanāpamāṇaṃ natthi, saññāpamāṇaṃ natthi, saṅkhārapamāṇaṃ natthi, viññāṇapamāṇaṃ natthi, na atthi na saṃvijjati nupalabbhati pahīnaṃ samucchinnaṃ vūpasantaṃ paṭippassaddhaṃ abhabbuppattikaṃ ñāṇagginā daḍḍhanti – atthaṅgatassa na pamāṇamatthi. Upasīvāti bhagavāti upasīvāti bhagavā taṃ brāhmaṇaṃ nāmena ālapati. Bhagavāti gāravādhivacanametaṃ…pe… sacchikā paññatti, yadidaṃ bhagavāti – upasīvāti bhagavā.
For one who has gone to rest, there is no measure—this means: for one who has been utterly extinguished in the Nibbāna-element without residue remaining, there is no measure of form, no measure of feeling, no measure of perception, no measure of formations, no measure of consciousness. It does not exist, is not found, is not obtained—it is abandoned, cut off, pacified, calmed, incapable of future arising, burned by the fire of knowledge—thus: for one who has gone to rest, there is no measure. 'Upasīva, said the Blessed One'—this means: the Blessed One addressed that brahmin by name, 'Upasīva.' 'Blessed One' is a term of respect [...]; it is a designation that is a matter of direct experience, namely, 'Blessed One'—thus: 'Upasīva, said the Blessed One.'
‘Đối với người đã đi đến chỗ lặn mất thì không có sự đo lường’ có nghĩa là: đối với người đã đi đến chỗ lặn mất, đã tịch diệt Niết-bàn bằng Vô-dư-y Niết-bàn giới, thì không có sự đo lường về sắc, không có sự đo lường về thọ, không có sự đo lường về tưởng, không có sự đo lường về các hành, không có sự đo lường về thức; nó không có, không hiện hữu, không tìm thấy được; đã được từ bỏ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho an tịnh, đã được làm cho lắng dịu, không có khả năng sanh khởi lại, đã bị đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ. – ‘Đối với người đã đi đến chỗ lặn mất thì không có sự đo lường’. ‘Này Upasīva, Thế Tôn phán’ có nghĩa là: Thế Tôn gọi vị Bà-la-môn ấy bằng tên. ‘Bhagavā’ là một từ chỉ sự tôn kính... cho đến... là một danh xưng có thật, đó là ‘Bhagavā’. – ‘Này Upasīva, Thế Tôn phán’.
Yena naṃ vajjuṃ taṃ tassa natthīti yena taṃ rāgena † vadeyyuṃ, yena dosena vadeyyuṃ, yena mohena vadeyyuṃ, yena mānena vadeyyuṃ, yāya diṭṭhiyā vadeyyuṃ, yena uddhaccena vadeyyuṃ, yāya vicikicchāya vadeyyuṃ, yehi anusayehi vadeyyuṃ – rattoti vā duṭṭhoti vā mūḷhoti vā vinibaddhoti vā parāmaṭṭhoti vā vikkhepagatoti vā aniṭṭhaṅgatoti † vā thāmagatoti vā, te abhisaṅkhārā pahīnā. Abhisaṅkhārānaṃ pahīnattā gatiyā yena taṃ vadeyyuṃ – nerayikoti vā tiracchānayonikoti vā pettivisayikoti vā manussoti vā devoti vā rūpīti vā arūpīti vā saññīti vā asaññīti vā nevasaññīnāsaññīti vā, so hetu natthi paccayo natthi kāraṇaṃ natthi yena vadeyyuṃ katheyyuṃ bhaṇeyyuṃ dīpeyyuṃ vohareyyunti – yena naṃ vajjuṃ taṃ tassa natthi.
That by which one might describe him does not exist for him—this means: that by which they might speak of him with greed, with hate, with delusion, with conceit, with views, with restlessness, or with doubt, saying: ‘He is attached,’ or ‘He is corrupt,’ or ‘He is deluded,’ or ‘He is bound,’ or ‘He wrongly grasps,’ or ‘He has not reached a final conclusion,’ or ‘He has attained power’—those formations are abandoned. Because the formations are abandoned, there is no destination by which one might speak of him, saying: ‘a being in hell,’ or ‘an animal,’ or ‘a human being,’ or ‘a deva,’ or ‘one with form,’ or ‘one who is formless,’ or ‘one with perception,’ or ‘one with neither perception nor non-perception.’ There is no cause, no condition, no reason by which they might speak, tell, explain, or designate him—thus: That by which one might describe him does not exist for him.
‘Cái nhân mà do đó người ta có thể nói về vị ấy, cái ấy không có nơi vị ấy’ có nghĩa là: cái nhân tham mà do đó người ta có thể nói về vị ấy, cái nhân sân mà do đó người ta có thể nói về vị ấy, cái nhân si mà do đó người ta có thể nói về vị ấy, cái nhân mạn mà do đó người ta có thể nói về vị ấy, cái nhân tà kiến mà do đó người ta có thể nói về vị ấy, cái nhân trạo cử mà do đó người ta có thể nói về vị ấy, cái nhân hoài nghi mà do đó người ta có thể nói về vị ấy, các nhân tùy miên mà do đó người ta có thể nói về vị ấy – là người tham ái, hay là người sân hận, hay là người si mê, hay là người bị trói buộc, hay là người chấp thủ sai lầm, hay là người đi đến phóng dật, hay là người chưa đi đến chỗ quyết định, hay là người đã đi đến sức mạnh, các hành ấy đã được từ bỏ. Do các hành đã được từ bỏ, cái nhân thuộc về cõi mà do đó người ta có thể nói về vị ấy – là chúng sanh địa ngục, hay là chúng sanh thuộc loài bàng sanh, hay là chúng sanh thuộc cảnh giới ngạ quỷ, hay là người, hay là trời, hay là chúng sanh có sắc, hay là chúng sanh không có sắc, hay là chúng sanh có tưởng, hay là chúng sanh không có tưởng, hay là chúng sanh không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng, nhân ấy không có, duyên ấy không có, nguyên nhân ấy không có, mà do đó người ta có thể nói, có thể kể, có thể đọc, có thể chỉ rõ, có thể gọi tên. – ‘Cái nhân mà do đó người ta có thể nói về vị ấy, cái ấy không có nơi vị ấy’.
Sabbesu dhammesu samūhatesūti sabbesu dhammesu sabbesu khandhesu sabbesu āyatanesu sabbāsu dhātūsu sabbāsu gatīsu sabbāsu upapattīsu sabbāsu paṭisandhīsu sabbesu bhavesu sabbesu saṃsāresu sabbesu vaṭṭesu ūhatesu samūhatesu uddhatesu samuddhatesu uppāṭitesu samuppāṭitesu pahīnesu samucchinnesu vūpasantesu paṭippassaddhesu abhabbuppattikesu ñāṇagginā daḍḍhesūti – sabbesu dhammesu samūhatesu.
When all phenomena are uprooted—this means: in all phenomena, in all aggregates, in all sense bases, in all elements, in all destinies, in all states of rebirth, in all re-linkings, in all states of being, in all cycles of saṃsāra, in all rounds, uprooted, thoroughly uprooted, pulled out, thoroughly pulled out, torn up, completely torn up, abandoned, completely cut off, stilled, calmed, incapable of future arising, burned by the fire of knowledge—thus: when all phenomena are uprooted.
‘Khi tất cả các pháp đã được nhổ sạch’ có nghĩa là: khi tất cả các pháp, tất cả các uẩn, tất cả các xứ, tất cả các giới, tất cả các cõi, tất cả các sự sanh, tất cả các sự tái sanh, tất cả các cõi hữu, tất cả các vòng luân hồi, tất cả các vòng sinh tử, đã được nhổ lên, đã được nhổ sạch, đã được bứng lên, đã được bứng sạch, đã được lật đổ, đã được lật đổ hoàn toàn, đã được từ bỏ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho an tịnh, đã được làm cho lắng dịu, không có khả năng sanh khởi lại, đã bị đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ. – ‘Khi tất cả các pháp đã được nhổ sạch’.
Samūhatā vādapathāpi sabbeti vādapathā vuccanti kilesā ca khandhā ca abhisaṅkhārā ca. Tassa vādā ca vādapathā ca adhivacanāni ca adhivacanapathā ca nirutti ca niruttipathā ca paññatti ca paññattipathā ca ūhatā samūhatā uddhatā samuddhatā uppāṭitā samuppāṭitā pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭippassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhāti – samūhatā vādapathāpi sabbe. Tenāha bhagavā –
All paths of speech are uprooted—this means: paths of speech are said to be defilements, aggregates, and volitional formations. His speech and paths of speech, appellations and paths of appellations, expressions and paths of expressions, designations and paths of designations—all are uprooted, thoroughly uprooted, pulled out, thoroughly pulled out, torn up, completely torn up, abandoned, completely cut off, stilled, calmed, incapable of future arising, burned by the fire of knowledge—thus: all paths of speech are uprooted. Therefore the Blessed One said:
‘Tất cả các con đường của ngôn thuyết cũng đều được nhổ sạch’ có nghĩa là: các con đường của ngôn thuyết được gọi là các phiền não, các uẩn, và các hành. Đối với vị ấy, các lời nói và các con đường của lời nói, các danh xưng và các con đường của danh xưng, các ngữ nguyên và các con đường của ngữ nguyên, các khái niệm và các con đường của khái niệm, đã được nhổ lên, đã được nhổ sạch, đã được bứng lên, đã được bứng sạch, đã được lật đổ, đã được lật đổ hoàn toàn, đã được từ bỏ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho an tịnh, đã được làm cho lắng dịu, không có khả năng sanh khởi lại, đã bị đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ. – ‘Tất cả các con đường của ngôn thuyết cũng đều được nhổ sạch’. Do đó, Thế Tôn đã nói –
‘‘Atthaṅgatassa na pamāṇamatthi, [upasīvāti bhagavā]
Yena naṃ vajjuṃ taṃ tassa natthi;
Sabbesu dhammesu samūhatesu, samūhatā vādapathāpi sabbe’’ti.
“For one who has gone to his setting, there is no measure, [Upasīva, said the Blessed One.] That by which one might speak of him does not exist for him; when all phenomena are uprooted, all paths of speech are also uprooted.”
“(Thế Tôn phán: Này Upasīva), đối với người đã đi đến chỗ lặn mất thì không có sự đo lường. Cái nhân mà do đó người ta có thể nói về vị ấy, cái ấy không có nơi vị ấy. Khi tất cả các pháp đã được nhổ sạch, tất cả các con đường của ngôn thuyết cũng đều được nhổ sạch.”
Saha gāthāpariyosānā ye te brāhmaṇena saddhiṃ…pe… pañjaliko namassamāno nisinno hoti – satthā me, bhante bhagavā, sāvakohamasmīti.
At the conclusion of the verse, that brahmin... with hands raised in añjali, paying homage, was seated, [saying]: 'Bhante, the Blessed One is my Teacher; I am a disciple.'
Cùng với sự kết thúc của bài kệ, những vị nào cùng với vị Bà-la-môn ấy... cho đến... đã ngồi chắp tay đảnh lễ (và nói rằng): – “Bạch Thế Tôn, ngài là bậc Đạo Sư của con, con là đệ tử”.
Upasīvamāṇavapucchāniddeso chaṭṭho.
The Exposition on the Questions of the Young Man Upasīva, the Sixth.
Phần giải thích câu hỏi của thanh niên Upasīva, chương thứ sáu.