Bản dịch
CND 9 — Diễn Giải Kinh Dhotaka
5. Dhotakamāṇavapucchāniddesa
(Tôn giả Dhotaka nói rằng:) “Thưa đức Thế Tôn, con hỏi ngài. Xin ngài hãy trả lời con về điều này. Thưa bậc đại ẩn sĩ, con mong mỏi lời nói của ngài. Sau khi lắng nghe lời tuyên bố của ngài, con có thể học tập về sự diệt tắt cho bản thân.”
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
( Tôn giả Dhotaka nói rằng:) “Thưa đức Thế Tôn, con hỏi ngài. Xin ngài hãy trả lời con về điều này. Thưa bậc đại ẩn sĩ, con mong mỏi lời nói của ngài. Sau khi lắng nghe lời tuyên bố của ngài, con có thể học tập về sự diệt tắt cho bản thân. ”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Dhotaka,) chính vì điều ấy ngươi hãy thực hiện sự nhiệt tâm, ngay tại nơi này, hãy là người có sự chín chắn, có niệm. Sau khi lắng nghe lời tuyên bố từ nơi đây, nên học tập về sự diệt tắt cho bản thân.”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
(Đức Thế Tôn nói: “Này Dhotaka,) chính vì điều ấy ngươi hãy thực hiện sự nhiệt tâm, ngay tại nơi này, hãy là người có sự chín chắn, có niệm. Sau khi lắng nghe lời tuyên bố từ nơi đây, nên học tập về sự diệt tắt cho bản thân.”
“ Con nhìn thấy ở thế giới của chư Thiên và loài người vị Bà-la-môn, không còn vướng bận, đang sinh hoạt (trong bốn oai nghi). Vì thế, thưa bậc Toàn Nhãn, con xin kính lễ ngài. Thưa vị dòng Sakya, xin ngài hãy giải thoát cho con khỏi các nỗi nghi hoặc .”
1. (Đức Thế Tôn nói: “Này Sabhiya,) sau khi loại trừ tất cả các điều ác, là người không còn vết nhơ, tốt lành, định tĩnh, có bản thân vững chãi, vị ấy đã vượt qua luân hồi, có sự toàn hảo, không nương nhờ, tự tại, vị ấy được gọi là Bà-la-môn.”
2. “ Đối với Ngài, không có bất cứ điều gì ở nơi đây là không được nhìn thấy, không được nhận thức, hoặc không thể biết được. Điều nào có thể biết được, Ngài đã biết rõ tất cả, vì thế đức Như Lai là bậc Toàn Nhãn .”
‘Vì thế, thưa bậc Toàn Nhãn, con xin kính lễ ngài’ là như thế.
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
“ Con nhìn thấy ở thế giới của chư Thiên và loài người vị Bà-la-môn, không còn vướng bận, đang sinh hoạt (trong bốn oai nghi). Vì thế, thưa bậc Toàn Nhãn, con xin kính lễ ngài. Thưa vị dòng Sakya, xin ngài hãy giải thoát cho con khỏi các nỗi nghi hoặc .”
“ Ta sẽ không có khả năng về việc giúp cho giải thoát bất cứ người nào ở thế gian có nỗi nghi hoặc, này Dhotaka. Nhưng trong khi biết rõ Giáo Pháp tối thượng, như vậy ngươi có thể vượt qua dòng lũ này .”
Hoặc là, không có kẻ nào khác là người cứu thoát. Nếu những người ấy có thể cứu thoát, thì họ có thể cứu thoát bằng sức mạnh của mình, bằng năng lực của mình, bằng sự tinh tấn của mình, bằng sự nỗ lực của mình, bằng sức mạnh nam nhân của mình, bằng năng lực nam nhân của mình, bằng sự tinh tấn nam nhân của mình, bằng sự nỗ lực nam nhân của mình, trong khi bản thân họ thực hành sự thực hành đúng đắn, sự thực hành phù hợp, sự thực hành không trái ngược, sự thực hành đưa đến lợi ích, sự thực hành đúng pháp và thuận pháp; - Ta sẽ không có khả năng về việc giúp cho giải thoát’ còn là như vậy.
Bởi vì điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
“ Này Cunda, thật vậy kẻ ấy, tự thân đã bị lún ở bãi lầy, sẽ nâng lên kẻ khác đã bị lún ở bãi lầy, sự kiện này không thể có được. Này Cunda, thật vậy kẻ ấy, tự thân không được thuần phục, không được huấn luyện, không được hoàn toàn tịch diệt, sẽ thuần phục, sẽ huấn luyện, sẽ giúp cho kẻ khác hoàn toàn tịch diệt, sự kiện này không thể có được .”
‘Ta sẽ không có khả năng về việc giúp cho giải thoát’ còn là như vậy.
Bởi vì điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
3. “ Việc ác đã được làm bởi chính bản thân, trở thành ô nhiễm bởi bản thân. Việc ác đã không được làm bởi bản thân, trở thành trong sạch bởi chính bản thân. Trong sạch (hay) không trong sạch tùy thuộc vào bản thân, không ai có thể làm cho người khác trở thành trong sạch .”
‘Ta sẽ không có khả năng về việc giúp cho giải thoát’ còn là như vậy.
Bởi vì điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
“ Này Bà-la-môn, tương tợ y như thế, Niết Bàn quả là có thật, con đường đưa đến Niết Bàn là có thật, ta là người chỉ dẫn là có thật, và hơn nữa các đệ tử của ta, trong khi được ta giáo huấn như vậy, trong khi được chỉ dạy như vậy, một số đệ tử đạt đến mục đích tột cùng là Niết Bàn, một số không đạt đến. Này Bà-la-môn, ở đây ta làm được điều gì? Này Bà-la-môn, Như Lai là người chỉ đường. Chư Phật chỉ ra con đường. Chúng sanh, trong khi tự thân thực hành, thì có thể giải thoát .”
‘Ta sẽ không có khả năng về việc giúp cho giải thoát’ còn là như vậy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
(Đức Thế Tôn nói: “Này Dhotaka,) Ta sẽ không có khả năng về việc giúp cho giải thoát bất cứ người nào ở thế gian có nỗi nghi hoặc, này Dhotaka. Nhưng trong khi biết rõ Giáo Pháp tối thượng, như vậy ngươi có thể vượt qua dòng lũ này .”
(Tôn giả Dhotaka nói rằng:) “Thưa đấng Phạm Thiên, xin ngài hãy từ mẫn chỉ dạy pháp viễn ly để con có thể nhận thức được pháp ấy, theo đó, con ví như hư không, không bị xáo trộn, con có thể sống ở chính nơi này, được an tịnh, không nương nhờ .”
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
“ Thưa đấng Phạm Thiên, xin ngài hãy từ mẫn chỉ dạy pháp viễn ly để con có thể nhận thức được pháp ấy, theo đó, con ví như hư không, không bị xáo trộn, con có thể sống ở chính nơi này, được an tịnh, không nương nhờ .”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Dhotaka,)
Ta sẽ giải thích cho ngươi về sự an tịnh,
về pháp đã được thấy, không phải do nghe nói lại;
sau khi hiểu pháp ấy, vị có niệm, trong khi sống,
có thể vượt qua sự vướng mắc ở thế gian.”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
(Đức Thế Tôn nói: “Này Dhotaka,)
Ta sẽ giải thích cho ngươi về sự an tịnh,
về pháp đã được thấy, không phải do nghe nói lại;
sau khi hiểu pháp ấy, vị có niệm, trong khi sống,
có thể vượt qua sự vướng mắc ở thế gian .”
“ Và con thích thú về điều ấy,
thưa bậc đại ẩn sĩ, về sự an tịnh tối thượng;
sau khi hiểu pháp ấy, vị có niệm, trong khi sống,
có thể vượt qua sự vướng mắc ở thế gian .”
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
“ Và con thích thú về điều ấy,
thưa bậc đại ẩn sĩ, về sự an tịnh tối thượng;
sau khi hiểu pháp ấy, vị có niệm, trong khi sống,
con có thể vượt qua sự vướng mắc ở thế gian .”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Dhotaka,) bất cứ điều gì mà ngươi tự mình nhận biết, ở bên trên, bên dưới, luôn cả bề ngang và khoảng giữa, sau khi hiểu điều này là ‘sự quyến luyến’ ở thế gian, ngươi chớ tạo ra tham ái ở hữu và phi hữu.”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
(Đức Thế Tôn nói: “Này Dhotaka,) bất cứ điều gì mà ngươi tự mình nhận biết, ở bên trên, bên dưới, luôn cả bề ngang và khoảng giữa, sau khi hiểu điều này là ‘sự quyến luyến’ ở thế gian, ngươi chớ tạo ra tham ái ở hữu và phi hữu.”
Cùng với lúc kết thúc câu kệ ngôn, –nt– “Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc đạo sư của con, con là người đệ tử.”
Diễn Giải Kinh Dhotaka là thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tiểu Diễn Giải (Cūḷaniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Iccāyasmā dhotakoti. Iccāti padasandhi…pe… āyasmāti piyavacanaṃ garuvacanaṃ sagāravasappatissādhivacanametaṃ āyasmāti. Dhotakoti tassa brāhmaṇassa nāmaṃ saṅkhā samaññā paññatti vohāro nāmaṃ nāmakammaṃ nāmadheyyaṃ nirutti byañjanaṃ abhilāpoti – iccāyasmā dhotako.
‘Said the venerable Dhotaka.’ ‘Said’: this is a conjunction of words … ‘Venerable’: this is a term of endearment, a term of respect, a designation with reverence and deference, that is, ‘venerable.’ ‘Dhotaka’: this is that brahmin’s name, reckoning, designation, convention, expression, appellation, nomenclature, name-making, term, etymology, phrasing, and utterance. Thus: ‘said the venerable Dhotaka.’
Trưởng lão Dhotaka đã thưa như vậy. (Trong câu này) Iccā là sự nối kết từ… (v.v.)… Āyasmā (trưởng lão) là lời nói thân ái, lời nói tôn trọng, là lời nói thể hiện sự kính trọng và tuân phục, đó là āyasmā. Dhotaka là tên của vị Bà-la-môn ấy, là sự gọi tên, sự quy ước, sự chế định, sự xưng hô, là tên, là việc đặt tên, là danh xưng, là sự giải thích, là sự biểu thị, là sự phát biểu – (đó là ý nghĩa của) trưởng lão Dhotaka đã thưa như vậy.
Vācābhikaṅkhāmi mahesi tuyhanti tuyhaṃ vacanaṃ byappathaṃ desanaṃ anusāsanaṃ anusiṭṭhaṃ kaṅkhāmi abhikaṅkhāmi icchāmi sādiyāmi patthayāmi pihayāmi abhijappāmi. Mahesīti kiṃ mahesi bhagavā? Mahantaṃ sīlakkhandhaṃ esī gavesī pariyesīti mahesi…pe… kahaṃ narāsabhoti mahesīti – vācābhikaṅkhāmi mahesi tuyhaṃ.
‘I long for your utterance, O Great Seer’: I long for, greatly long for, wish for, delight in, aspire to, yearn for, and crave your utterance, speech, teaching, instruction, and admonition. ‘Great Seer’: why is the Blessed One a Great Seer? He sought for, searched for, and explored the great aggregate of virtue… a bull among men is sought for, asking ‘Where?’ Therefore, he is a Great Seer. Thus: ‘I long for your utterance, O Great Seer.’
Con mong mỏi lời nói của Ngài, bạch Đại Sĩ có nghĩa là: con mong mỏi, con khao khát, con ước muốn, con vui thích, con nguyện cầu, con ao ước, con cầu mong lời nói, lời phát biểu, lời thuyết giảng, lời giáo huấn, lời chỉ dạy của Ngài. Đại Sĩ là gì? Đức Thế Tôn là Đại Sĩ. Ngài đã tìm kiếm, đã truy tầm, đã dò xét uẩn giới thanh tịnh vĩ đại, nên gọi là Đại Sĩ… (v.v.)… Bậc Nhân Ngưu ở đâu? (Ngài) đã được tìm kiếm, nên gọi là Đại Sĩ – (đó là ý nghĩa của) con mong mỏi lời nói của Ngài, bạch Đại Sĩ.
Tava sutvāna nigghosanti tuyhaṃ vacanaṃ byappathaṃ desanaṃ anusāsanaṃ anusiṭṭhaṃ sutvā suṇitvā uggahetvā upadhārayitvā upalakkhayitvāti – tava sutvāna nigghosaṃ.
‘Having heard your proclamation’: having heard, listened to, learned, retained, and noted your utterance, speech, teaching, and instruction. Thus: ‘having heard your proclamation.’
Sau khi nghe được âm vang (lời dạy) của Ngài có nghĩa là: sau khi đã nghe, đã lắng nghe, đã tiếp thu, đã ghi nhớ, đã ghi nhận lời nói, lời phát biểu, lời thuyết giảng, lời giáo huấn, lời chỉ dạy của Ngài – (đó là ý nghĩa của) sau khi nghe được âm vang (lời dạy) của Ngài.
Sikkhe nibbānamattanoti. Sikkhāti tisso sikkhā – adhisīlasikkhā, adhicittasikkhā, adhipaññāsikkhā…pe… ayaṃ adhipaññāsikkhā. Nibbānamattanoti attano rāgassa nibbāpanāya, dosassa nibbāpanāya, mohassa nibbāpanāya, kodhassa nibbāpanāya, upanāhassa nibbāpanāya…pe… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ samāya upasamāya vūpasamāya nibbāpanāya paṭinissaggāya paṭipassaddhiyā adhisīlampi sikkheyya, adhicittampi sikkheyya, adhipaññampi sikkheyya. Imā tisso sikkhāyo āvajjanto sikkheyya, jānanto sikkheyya, passanto sikkheyya, paccavekkhanto sikkheyya, cittaṃ padahanto sikkheyya, saddhāya adhimuccanto sikkheyya, vīriyaṃ paggaṇhanto sikkheyya, satiṃ upaṭṭhapento sikkheyya, cittaṃ samādahanto sikkheyya, paññāya pajānanto sikkheyya, abhiññeyyaṃ abhijānanto sikkheyya, pariññeyyaṃ parijānanto sikkheyya, pahātabbaṃ pajahanto sikkheyya, bhāvetabbaṃ bhāvento sikkheyya, sacchikātabbaṃ sacchikaronto sikkheyya, ācareyya samācareyya samādāya vatteyyāti – sikkhe nibbānamattano. Tenāha so brāhmaṇo –
‘May I train for my own Nibbāna.’ ‘Train’: there are three trainings: the training in the higher virtue, the training in the higher mind, the training in the higher wisdom … this is the training in the higher wisdom. ‘For my own Nibbāna’: for the quenching of one’s own lust, for the quenching of hatred, for the quenching of delusion, for the quenching of anger, for the quenching of enmity … for the stilling, calming, appeasing, quenching, relinquishment, and tranquillizing of all unwholesome volitional formations, one should train in the higher virtue, one should train in the higher mind, and one should train in the higher wisdom. One should train by adverting to these three trainings, one should train by knowing, by seeing, by reviewing, by exerting the mind, by resolving with faith, by exerting energy, by establishing mindfulness, by concentrating the mind, by understanding with wisdom, by directly knowing what should be directly known, by fully understanding what should be fully understood, by abandoning what should be abandoned, by developing what should be developed, by realizing what should be realized; one should practice the higher virtue, practice correctly the higher concentration, and undertake and live by the higher wisdom. Thus: ‘May I train for my own Nibbāna.’ Therefore that brahmin said:
Con sẽ học tập về Niết-bàn cho chính mình. (Trong câu này) Học tập là: có ba học giới – tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học… (v.v.)… đây là tăng thượng tuệ học. Niết-bàn cho chính mình có nghĩa là: để dập tắt tham của chính mình, để dập tắt sân, để dập tắt si, để dập tắt phẫn nộ, để dập tắt oán hận… (v.v.)… để làm cho an tịnh, làm cho lắng dịu, làm cho hoàn toàn an tịnh, để dập tắt, để xả ly, để làm cho lắng dịu tất cả các hành bất thiện, nên học tập cả tăng thượng giới, nên học tập cả tăng thượng tâm, nên học tập cả tăng thượng tuệ. Nên học tập bằng cách hướng tâm đến ba học giới này, nên học tập bằng cách biết, nên học tập bằng cách thấy, nên học tập bằng cách quán xét, nên học tập bằng cách nỗ lực tinh tấn, nên học tập bằng cách quyết tâm với đức tin, nên học tập bằng cách sách tấn tinh tấn, nên học tập bằng cách thiết lập niệm, nên học tập bằng cách định tâm, nên học tập bằng cách biết rõ với trí tuệ, nên học tập bằng cách thắng tri điều cần thắng tri, nên học tập bằng cách liễu tri điều cần liễu tri, nên học tập bằng cách đoạn tận điều cần đoạn tận, nên học tập bằng cách tu tập điều cần tu tập, nên học tập bằng cách chứng ngộ điều cần chứng ngộ, nên thực hành, nên thực hành đúng đắn, nên thọ trì và thực hành – (đó là ý nghĩa của) con sẽ học tập về Niết-bàn cho chính mình. Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói:
‘‘Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ, [iccāyasmā dhotako]
Vācābhikaṅkhāmi mahesi tuyhaṃ;
Tava sutvāna nigghosaṃ, sikkhe nibbānamattano’’ti.
I ask you, O Blessed One, tell me this, [said the venerable Dhotaka] I long for your utterance, O Great Seer; having heard your proclamation, may I train for my own Nibbāna.
‘Con xin hỏi Ngài, bạch Thế Tôn, xin hãy nói cho con điều ấy, [trưởng lão Dhotaka đã thưa như vậy] con mong mỏi lời nói của Ngài, bạch Đại Sĩ; sau khi nghe được âm vang (lời dạy) của Ngài, con sẽ học tập về Niết-bàn cho chính mình.’
31.
31.
31.
Tenahātappaṃ karohi, [dhotakāti bhagavā]
Idheva nipako sato;
Ito sutvāna nigghosaṃ, sikkhe nibbānamattano.
Then be ardent, Dhotaka, [said the Blessed One] right here be prudent and mindful; having heard the proclamation from here, train for your own Nibbāna.
Này Dhotaka, vậy thì hãy tinh tấn, hãy là người thận trọng, chánh niệm ngay tại đây. Sau khi nghe lời dạy từ ta, ngươi hãy tu tập vì Niết-bàn của chính mình.
Tenahātappaṃ karohīti ātappaṃ karohi, ussāhaṃ karohi, ussoḷhiṃ karohi, thāmaṃ karohi, dhitiṃ karohi, vīriyaṃ karohi, chandaṃ janehi sañjanehi upaṭṭhapehi samuṭṭhapehi nibbattehi abhinibbattehīti – tenahātappaṃ karohi.
‘Then be ardent’: be ardent, make an effort, be zealous, be steadfast, be resolute, be energetic; arouse desire, generate it, establish it, stir it up, produce it, and fully produce it. Thus: ‘Then be ardent.’
‘Vậy thì hãy tinh tấn’ (tenahātappaṃ karohi) có nghĩa là: Hãy thực hành sự tinh tấn, hãy nỗ lực, hãy gắng sức, hãy kiên trì, hãy quyết tâm, hãy tinh cần, hãy làm sanh khởi, làm cho sanh khởi tốt đẹp, làm cho hiện hữu, làm cho phát sanh, làm cho thành tựu, làm cho thành tựu viên mãn ý muốn. – (Đây là nghĩa của) ‘Vậy thì hãy tinh tấn’.
Dhotakāti bhagavā taṃ brāhmaṇaṃ nāmena ālapati. Bhagavāti gāravādhivacanametaṃ…pe… sacchikā paññatti, yadidaṃ bhagavāti – dhotakāti bhagavā.
“Dhotaka,” said the Blessed One: the Blessed One addresses that brahmin by name. “Blessed One”: this is a term of respect … a designation based on a truth realized, that is, “Blessed One.” Thus: “Dhotaka,” said the Blessed One.
‘Này Dhotaka,’ Đức Thế Tôn gọi vị Bà-la-môn ấy bằng tên. ‘Bhagavā’ là một danh xưng tôn kính... (v.v.)... là một chế định được chứng thực, đó là danh hiệu ‘Bhagavā’. – (Đây là nghĩa của) ‘Này Dhotaka, Đức Thế Tôn’.
Idheva nipako satoti. Idhāti imissā diṭṭhiyā imissā khantiyā imissā ruciyā imasmiṃ ādāye imasmiṃ dhamme imasmiṃ vinaye imasmiṃ dhammavinaye imasmiṃ pāvacane imasmiṃ brahmacariye imasmiṃ satthusāsane imasmiṃ attabhāve imasmiṃ manussaloke. Nipakoti nipako paṇḍito paññavā buddhimā ñāṇī vibhāvī medhāvī. Satoti catūhi kāraṇehi sato – kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvento sato…pe… so vuccati satoti – idheva nipako sato.
“Right here be prudent and mindful.” “Here”: in this view, this approval, this inclination, this undertaking, this Dhamma, this discipline, this Dhamma-and-discipline, this teaching, this holy life, this Teacher’s instruction, in this individual existence, in this human world. “Prudent”: one is prudent, wise, endowed with wisdom, intelligent, possessing knowledge, discerning, sagacious. “Mindful”: one is mindful for four reasons: one is mindful by developing the establishment of mindfulness by contemplating the body in the body … he is called “mindful.” Thus: “Right here be prudent and mindful.”
‘Ngay tại đây, là người thận trọng, chánh niệm.’ ‘Ở đây’ có nghĩa là: trong tà kiến này, trong sự kham nhẫn này, trong sở thích này, trong sự chấp thủ này, trong Pháp này, trong Luật này, trong Pháp và Luật này, trong lời dạy này, trong đời sống phạm hạnh này, trong giáo pháp của bậc Đạo Sư này, trong thân này, trong cõi người này. ‘Thận trọng’ (nipako) có nghĩa là người thận trọng, bậc hiền trí, người có trí tuệ, người có giác tuệ, người có tri kiến, người sáng suốt, người có minh tuệ. ‘Chánh niệm’ (sato) có nghĩa là có chánh niệm do bốn lý do – vị ấy có chánh niệm khi tu tập niệm xứ quán thân nơi thân... (v.v.)... vị ấy được gọi là người có chánh niệm. – (Đây là nghĩa của) ‘Ngay tại đây, là người thận trọng, chánh niệm.’
Ito sutvāna nigghosanti ito mayhaṃ vacanaṃ byappathaṃ desanaṃ anusāsanaṃ anusiṭṭhaṃ sutvā suṇitvā uggaṇhitvā upadhārayitvā upalakkhayitvāti – ito sutvāna nigghosaṃ.
“Having heard the proclamation from here”: having heard, listened to, learned, retained, and discerned the proclamation from me—my word, utterance, teaching, instruction, and admonition. Thus: “having heard the proclamation from here.”
‘Sau khi nghe lời dạy từ ta’ có nghĩa là: từ ta, sau khi đã nghe, đã lắng nghe, đã học thuộc, đã ghi nhớ, đã ghi nhận lời nói, lời trình bày, bài thuyết giảng, lời giáo huấn, lời chỉ dạy của ta. – (Đây là nghĩa của) ‘Sau khi nghe lời dạy từ ta.’
Sikkhe nibbānamattanoti. Sikkhāti tisso sikkhā – adhisīlasikkhā, adhicittasikkhā, adhipaññāsikkhā…pe… ayaṃ adhipaññāsikkhā. Nibbānamattanoti attano rāgassa nibbāpanāya, dosassa nibbāpanāya, mohassa nibbāpanāya, kodhassa nibbāpanāya, upanāhassa nibbāpanāya…pe… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ samāya upasamāya vūpasamāya nibbāpanāya paṭinissaggāya paṭipassaddhiyā adhisīlampi sikkheyya, adhicittampi sikkheyya, adhipaññampi sikkheyya. Imā tisso sikkhāyo āvajjanto sikkheyya, jānanto sikkheyya…pe… sacchikātabbaṃ sacchikaronto sikkheyya, ācareyya samācareyya samādāya vatteyyāti – sikkhe nibbānamattano. Tenāha bhagavā –
“Train for your own Nibbāna.” “Train”: there are three trainings: the training in higher virtue, the training in the higher mind, and the training in higher wisdom … this is the training in higher wisdom. “For your own Nibbāna”: for the quenching of one’s own lust, for the quenching of hatred, for the quenching of delusion, for the quenching of anger, for the quenching of enmity … for the stilling, calming, appeasing, quenching, relinquishment, and tranquillizing of all unwholesome volitional formations, one should train in the higher virtue, one should train in the higher mind, and one should train in the higher wisdom. One should train by adverting to these three trainings, by knowing … by realizing what should be realized; one should practice, practice correctly, undertake and live by them. Thus: “Train for your own Nibbāna.” Therefore the Blessed One said:
‘Ngươi hãy tu tập vì Niết-bàn của chính mình.’ ‘Sự tu tập’ (sikkhā) có ba loại: tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học... (v.v.)... đây là tăng thượng tuệ học. ‘Vì Niết-bàn của chính mình’ (nibbānamattano) có nghĩa là: vì sự dập tắt tham ái, vì sự dập tắt sân hận, vì sự dập tắt si mê, vì sự dập tắt phẫn nộ, vì sự dập tắt oán hận của chính mình... (v.v.)... vì sự làm cho lắng dịu, làm cho an tịnh, làm cho nguội lạnh, vì sự dập tắt, vì sự từ bỏ, vì sự an tịnh tất cả các hành bất thiện; vị ấy nên tu tập tăng thượng giới, nên tu tập tăng thượng tâm, nên tu tập tăng thượng tuệ. Vị ấy nên tu tập sau khi đã suy xét, nên tu tập sau khi đã biết rõ ba pháp học này... (v.v.)... vị ấy nên tu tập trong khi đang chứng ngộ điều cần được chứng ngộ, nên thực hành, nên hành trì, nên sống theo sau khi đã chấp nhận. – (Đây là nghĩa của) ‘Ngươi hãy tu tập vì Niết-bàn của chính mình.’ Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Tenahātappaṃ karohi, [dhotakāti bhagavā]
Idheva nipako sato;
Ito sutvāna nigghosaṃ, sikkhe nibbānamattano’’ti.
“Then be ardent, Dhotaka,” said the Blessed One, “right here be prudent and mindful; having heard the proclamation from here, train for your own Nibbāna.”
‘Này Dhotaka, vậy thì hãy tinh tấn, hãy là người thận trọng, chánh niệm ngay tại đây. Sau khi nghe lời dạy từ ta, ngươi hãy tu tập vì Niết-bàn của chính mình.’
32.
32.
32.
Passāmahaṃ devamanussaloke, akiñcanaṃ brāhmaṇamiriyamānaṃ;
Taṃ taṃ namassāmi samantacakkhu, pamuñca maṃ sakka kathaṃkathāhi.
I see in the world of devas and humans a brāhmaṇa, free from anxiety, faring on. To you I pay homage, O All-Seeing One; release me, O Sakyan, from my doubts.
Con thấy trong thế giới chư thiên và loài người, một vị Bà-la-môn vô sở hữu đang đi lại. Con xin đảnh lễ Ngài, bậc Toàn Nhãn. Kính lạy Ngài, bậc Thích Ca, xin hãy giải thoát con khỏi những hoài nghi.
Passāmahaṃ devamanussaloketi. Devāti tayo devā – sammutidevā, upapattidevā, visuddhidevā. Katame sammutidevā? Sammutidevā vuccanti rājāno ca rājakumārā ca deviyo ca. Ime vuccanti sammutidevā. Katame upapattidevā? Upapattidevā vuccanti cātumahārājikā devā tāvatiṃsā devā yāmā devā tusitā devā nimmānaratī devā paranimmitavasavattī devā brahmakāyikā devā ye ca devā taduttari †. Ime vuccanti upapattidevā. Katame visuddhidevā? Visuddhidevā vuccanti tathāgatasāvakā arahanto khīṇāsavā ye ca paccekabuddhā. Ime vuccanti visuddhidevā. Bhagavā sammutidevānañca upapattidevānañca visuddhidevānañca devo ca atidevo ca devātidevo ca sīhasīho nāganāgo gaṇigaṇī munimunī rājarājā. Passāmahaṃ devamanussaloketi manussaloke devaṃ passāmi atidevaṃ passāmi devātidevaṃ passāmi dakkhāmi olokemi nijjhāyāmi upaparikkhāmīti – passāmahaṃ devamanussaloke.
I see in the world of gods and humans: ‘Devas,’ this means there are three kinds of devas: devas by convention, devas by rebirth, and devas by purification. Who are the devas by convention? Kings, princes, and queens are called devas by convention. These are called the devas by convention. Who are the devas by rebirth? The devas of the Four Great Kings, the Tāvatiṃsa devas, the Yāma devas, the Tusita devas, the devas who delight in creating, the devas who wield power over others’ creations, the devas of the Brahma-world, and the devas beyond them are called devas by rebirth. These are called the devas by rebirth. Who are the devas by purification? The disciples of the Tathāgata, the arahants whose taints are destroyed, and paccekabuddhas are called devas by purification. These are called the devas by purification. The Blessed One is a deva to the devas by convention, the devas by rebirth, and the devas by purification; he is a deva, a supreme deva, a deva beyond devas, a lion of lions, a nāga of nāgas, a leader of leaders, a sage of sages, a king of kings. I see in the world of gods and humans: in the human world I see a deva, I see a supreme deva, I see a deva beyond devas; I see, I behold, I look upon, I contemplate, I scrutinize. Thus: I see in the world of gods and humans.
‘Con thấy trong thế giới chư thiên và loài người.’ ‘Chư thiên’ (devā) có ba loại: chư thiên do quy ước (sammutidevā), chư thiên do tái sanh (upapattidevā), và chư thiên do thanh tịnh (visuddhidevā). Ai là chư thiên do quy ước? Các vị vua, các hoàng tử, và các hoàng hậu được gọi là chư thiên do quy ước. Đây được gọi là chư thiên do quy ước. Ai là chư thiên do tái sanh? Các vị trời ở cõi Tứ Đại Thiên Vương, cõi Ba Mươi Ba, cõi Dạ Ma, cõi Đâu Suất, cõi Hóa Lạc Thiên, cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên, các vị Phạm thiên, và các vị trời ở cõi cao hơn nữa được gọi là chư thiên do tái sanh. Đây được gọi là chư thiên do tái sanh. Ai là chư thiên do thanh tịnh? Các vị Thánh đệ tử của Như Lai là bậc A-la-hán, các bậc lậu tận, và các vị Phật Độc Giác được gọi là chư thiên do thanh tịnh. Đây được gọi là chư thiên do thanh tịnh. Đức Thế Tôn là vị trời (deva), là vị trời siêu việt (atideva), và là vị trời của các vị trời (devātideva) của cả chư thiên do quy ước, chư thiên do tái sanh, và chư thiên do thanh tịnh; là sư tử của các sư tử, là rồng của các rồng, là thủ lĩnh của các thủ lĩnh, là bậc hiền nhân của các hiền nhân, là vua của các vị vua. ‘Con thấy trong thế giới chư thiên và loài người’ có nghĩa là: trong thế giới loài người, con thấy vị trời, con thấy vị trời siêu việt, con thấy vị trời của các vị trời, con trông thấy, con nhìn, con quán xét, con xem xét. – (Đây là nghĩa của) ‘Con thấy trong thế giới chư thiên và loài người.’
Ākiñcanaṃ brāhmaṇamiriyamānanti. Akiñcananti rāgakiñcanaṃ dosakiñcanaṃ mohakiñcanaṃ mānakiñcanaṃ diṭṭhikiñcanaṃ kilesakiñcanaṃ duccaritakiñcanaṃ, te kiñcanā buddhassa bhagavato pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā, tasmā buddho akiñcano. Brāhmaṇoti bhagavā sattannaṃ dhammānaṃ bāhitattā brāhmaṇo – sakkāyadiṭṭhi bāhitā hoti, vicikicchā bāhitā hoti, sīlabbataparāmāso bāhito hoti, rāgo bāhito hoti, doso bāhito hoti, moho bāhito hoti, māno bāhito hoti, bāhitāssa honti pāpakā akusalā dhammā saṃkilesikā ponobhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṃ jātijarāmaraṇiyā.
In the phrase ‘a brāhmaṇa with nothing, moving about’: ‘With nothing’ means the impediment of lust, the impediment of hatred, the impediment of delusion, the impediment of conceit, the impediment of views, the impediment of defilements, and the impediment of misconduct. For the Buddha, the Blessed One, those impediments have been abandoned, cut off at the root, made like a palm stump, brought to non-existence, and are of a nature not to arise again in the future. Therefore, the Buddha is one ‘with nothing.’ As for ‘brāhmaṇa’: the Blessed One is a brāhmaṇa because of having expelled seven things—identity view has been expelled, doubt has been expelled, clinging to rites and rituals has been expelled, lust has been expelled, hatred has been expelled, delusion has been expelled, and conceit has been expelled. For him, evil, unwholesome states that are defiling, that lead to renewed existence, that are accompanied by distress, that result in suffering, and that lead to future birth, aging, and death have been expelled.
‘Một vị Bà-la-môn vô sở hữu đang đi lại.’ ‘Vô sở hữu’ (akiñcana) có nghĩa là: chướng ngại tham ái, chướng ngại sân hận, chướng ngại si mê, chướng ngại mạn, chướng ngại tà kiến, chướng ngại phiền não, chướng ngại ác hạnh; những chướng ngại ấy đã được Đức Phật, Đức Thế Tôn đoạn trừ, nhổ tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt ngọn, làm cho không thể hiện hữu, có trạng thái không sanh khởi trong tương lai. Do đó, Đức Phật là bậc vô sở hữu. ‘Bà-la-môn’ (brāhmaṇa) có nghĩa là: Đức Thế Tôn được gọi là Bà-la-môn vì đã loại trừ bảy pháp – thân kiến đã được loại trừ, hoài nghi đã được loại trừ, giới cấm thủ đã được loại trừ, tham ái đã được loại trừ, sân hận đã được loại trừ, si mê đã được loại trừ, mạn đã được loại trừ; các pháp ác, bất thiện, làm ô nhiễm, đưa đến tái sanh, có phiền não, có quả khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai đã được vị ấy loại trừ.
Bāhitvā sabbapāpakāni, [sabhiyāti bhagavā]
Vimalo sādhusamāhito ṭhitatto;
Saṃsāramaticca kevalī so, asito tādi pavuccate sa brahmāti.
Having expelled all evil things, stainless, well-concentrated, with a steadfast heart; having transcended saṃsāra, he is perfected, unattached, imperturbable—he is called a Brahmā.
Này Sabhiya, (Đức Thế Tôn phán): ‘Sau khi đã loại trừ tất cả các điều ác, là người không tỳ vết, khéo định tĩnh, có tâm kiên định; vị ấy đã vượt qua luân hồi, là bậc toàn thiện, không bị trói buộc, bậc như vậy được gọi là Phạm thiên.’
Iriyamānanti carantaṃ viharantaṃ iriyantaṃ vattentaṃ pālentaṃ yapentaṃ yāpentanti – akiñcanaṃ brāhmaṇamiriyamānaṃ.
‘Moving about’ means wandering, dwelling, moving, proceeding, maintaining, sustaining, and keeping oneself going. This is the meaning of ‘a brāhmaṇa with nothing, moving about’.
‘Đang đi lại’ (iriyamānaṃ) có nghĩa là: đang đi, đang trú ngụ, đang hành xử, đang tiến hành, đang bảo trì, đang nuôi sống, đang làm cho nuôi sống. – (Đây là nghĩa của) ‘Một vị Bà-la-môn vô sở hữu đang đi lại.’
Taṃ taṃ namassāmi samantacakkhūti. Tanti bhagavantaṃ bhaṇati. Namassāmīti kāyena vā namassāmi, vācāya vā namassāmi, cittena vā namassāmi, anvatthapaṭipattiyā vā namassāmi, dhammānudhammapaṭipattiyā vā namassāmi sakkaromi garuṃ karomi mānemi pūjemi. Samantacakkhūti samantacakkhu vuccati sabbaññutañāṇaṃ. Bhagavā sabbaññutañāṇena upeto samupeto upāgato samupāgato upapanno samupapanno samannāgato.
In the phrase ‘To him I pay homage, the one with all-around vision’: ‘Him’ refers to the Blessed One. ‘I pay homage’ means: I pay homage with the body, or I pay homage with speech, or I pay homage with the mind, or I pay homage by the practice that accords with the goal, or I pay homage by the practice in conformity with the Dhamma; I honor him, I esteem him, I revere him, I venerate him. As for ‘the one with all-around vision’: the knowledge of omniscience is called ‘all-around vision.’ The Blessed One is endowed with the knowledge of omniscience, fully endowed with it, has attained it, has fully attained it, possesses it, fully possesses it, and is furnished with it.
‘Con xin đảnh lễ Ngài, bậc Toàn Nhãn.’ Chữ ‘Ngài’ (taṃ) là chỉ về Đức Thế Tôn. ‘Con xin đảnh lễ’ (namassāmi) có nghĩa là: con xin đảnh lễ bằng thân, hoặc con xin đảnh lễ bằng lời, hoặc con xin đảnh lễ bằng ý; hoặc con xin đảnh lễ bằng sự thực hành đúng theo ý nghĩa, hoặc con xin đảnh lễ bằng sự thực hành pháp tùy pháp; con tôn kính, con trọng vọng, con quý mến, con cúng dường. ‘Bậc Toàn Nhãn’ (samantacakkhu): trí toàn giác được gọi là toàn nhãn. Đức Thế Tôn đã thành tựu, đã thành tựu viên mãn, đã đạt đến, đã đạt đến trọn vẹn, đã chứng đắc, đã chứng đắc viên mãn, đã đầy đủ trí toàn giác.
‘‘Na tassa addiṭṭhamidhatthi † kiñci, atho aviññātamajānitabbaṃ;
Sabbaṃ abhiññāsi yadatthi neyyaṃ, tathāgato tena samantacakkhū’’ti.
“For him there is nothing here unseen, nor anything in the past unknown or in the future unknowable. He has directly known all that is knowable; therefore the Tathāgata is one with all-around vision.”
Đối với vị ấy, ở đây không có bất cứ điều gì là không được nhìn thấy; hơn nữa, không có gì là không được nhận biết (trong quá khứ) hoặc không thể biết được (trong tương lai). Vị ấy đã thắng tri tất cả những gì có thể biết được; do đó, Như Lai là bậc Toàn Nhãn.
Taṃ taṃ namassāmi samantacakkhu.
This is the meaning of the phrase ‘To him I pay homage, the one with all-around vision’.
Con xin đảnh lễ Ngài, bậc Toàn Nhãn.
Pamuñca maṃ sakka kathaṃkathāhīti. Sakkāti sakko bhagavā sakyakulā pabbajitotipi sakko. Atha vā, aḍḍho † mahaddhano dhanavātipi sakko. Tassimāni dhanāni, seyyathidaṃ – saddhādhanaṃ sīladhanaṃ hiridhanaṃ ottappadhanaṃ sutadhanaṃ cāgadhanaṃ paññādhanaṃ satipaṭṭhānadhanaṃ sammappadhānadhanaṃ iddhipādadhanaṃ indriyadhanaṃ baladhanaṃ bojjhaṅgadhanaṃ maggadhanaṃ phaladhanaṃ nibbānadhanaṃ. Imehi anekavidhehi dhanaratanehi aḍḍho mahaddhano dhanavātipi sakko. Atha vā, sakko pahu visavī alamatto sūro vīro vikkanto abhīrū acchambhī anutrāsī apalāyī pahīnabhayabheravo vigatalomahaṃsotipi sakko. Kathaṃkathā vuccati vicikicchā. Dukkhe kaṅkhā, dukkhasamudaye kaṅkhā, dukkhanirodhe kaṅkhā, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya kaṅkhā, pubbante kaṅkhā, aparante kaṅkhā, pubbantāparante kaṅkhā, idappaccayatāpaṭiccasamuppannesu dhammesu kaṅkhā. Yā evarūpā kaṅkhā kaṅkhāyanā kaṅkhāyitattaṃ vimati vicikicchā dveḷhakaṃ dvedhāpatho saṃsayo anekaṃsaggāho āsappanā parisappanā apariyogāhanā chambhitattaṃ cittassa manovilekho. Pamuñca maṃ sakka kathaṃkathāhīti muñca maṃ pamuñca maṃ mocehi maṃ pamocehi maṃ uddhara maṃ samuddhara maṃ vuṭṭhāpehi maṃ kathaṃkathāsallatoti – pamuñca maṃ sakka kathaṃkathāhi. Tenāha so brāhmaṇo –
Release me, Sakka, from doubts. ‘Sakka’: the Blessed One is Sakka because he went forth from the Sakyan clan. Or, he is Sakka because he is affluent, of great wealth, and rich. These are his treasures: the treasure of faith, the treasure of virtue, the treasure of moral shame, the treasure of moral dread, the treasure of learning, the treasure of generosity, the treasure of wisdom, the treasure of the foundations of mindfulness, the treasure of the right strivings, the treasure of the bases for spiritual power, the treasure of the spiritual faculties, the treasure of the spiritual powers, the treasure of the factors of enlightenment, the treasure of the path, the treasure of the fruit, the treasure of Nibbāna. Because he is affluent, of great wealth, and rich with these many kinds of treasure-gems, he is Sakka. Or, Sakka is one who is able, a master, sufficient, a hero, valiant, courageous, fearless, unperturbed, untrembling, not one to flee, one who has abandoned fear and terror, one whose hair-raising has departed. ‘Doubt’ is called perplexity. Doubt about suffering, doubt about the origin of suffering, doubt about the cessation of suffering, doubt about the path leading to the cessation of suffering; doubt about the past, doubt about the future, doubt about the past and future; doubt about specifically conditioned, dependently arisen phenomena. Such is doubt, doubting, the state of doubt, perplexity, uncertainty, wavering, being at a crossroads, indecision, taking many sides, faltering, stumbling, inability to grasp firmly, stupefaction of mind, and mental corruption. ‘Release me, Sakka, from doubts’ means: release me, fully release me, free me, fully free me, pull me out, fully pull me out, raise me up from the dart of doubt. Thus: ‘Release me, Sakka, from doubts.’ Therefore that brahmin said:
‘Xin Ngài hãy giải thoát cho con, hỡi đấng Sakka, khỏi những hoài nghi.’ Ở đây, Sakka là: Đức Thế Tôn là đấng Sakka vì Ngài đã xuất gia từ dòng họ Sakya. Hoặc là, Ngài là đấng Sakka vì Ngài giàu có, có tài sản lớn, có của cải. Những tài sản này của Ngài là: tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài, niệm xứ tài, chánh cần tài, như ý túc tài, căn tài, lực tài, giác chi tài, đạo tài, quả tài, Niết-bàn tài. Ngài giàu có, có tài sản lớn, có của cải với vô số loại bảo vật tài sản này, vì thế Ngài là đấng Sakka. Hoặc là, đấng Sakka có năng lực, hùng mạnh, có khả năng, dũng cảm, anh hùng, oai hùng, không sợ hãi, không run sợ, không kinh hãi, không trốn chạy, đã từ bỏ sự sợ hãi và kinh hoàng, đã hết sạch sự dựng tóc gáy, vì thế Ngài là đấng Sakka. Hoài nghi (kathaṃkathā) được gọi là nghi ngờ (vicikicchā). Sự phân vân về Khổ, sự phân vân về Khổ Tập, sự phân vân về Khổ Diệt, sự phân vân về Con Đường Đưa Đến Khổ Diệt; sự phân vân về quá khứ, sự phân vân về tương lai, sự phân vân về quá khứ và tương lai; sự phân vân về các pháp duyên sinh do duyên này. Bất cứ sự phân vân, trạng thái phân vân, bản chất của sự phân vân, sự do dự, sự nghi ngờ, sự lưỡng lự, con đường hai ngả, sự hoang mang, sự không nắm bắt được một cách chắc chắn, sự trôi giạt, sự loanh quanh, sự không thâm nhập, sự bối rối của tâm, sự mờ mịt của tâm trí nào có hình thức như vậy. ‘Xin Ngài hãy giải thoát cho con, hỡi đấng Sakka, khỏi những hoài nghi’ có nghĩa là: xin hãy giải thoát con, xin hãy hoàn toàn giải thoát con, xin hãy làm cho con được giải thoát, xin hãy làm cho con được hoàn toàn giải thoát, xin hãy nâng con lên, xin hãy hoàn toàn nâng con lên, xin hãy giúp con đứng dậy khỏi mũi tên hoài nghi. – ‘Xin Ngài hãy giải thoát cho con, hỡi đấng Sakka, khỏi những hoài nghi.’ Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói:
‘‘Passāmahaṃ devamanussaloke, akiñcanaṃ brāhmaṇamiriyamānaṃ;
Taṃ taṃ namassāmi samantacakkhu, pamuñca maṃ sakka kathaṃkathāhī’’ti.
“I see in the world of gods and humans a brahmin with nothing, moving about. To him, to him I pay homage, O one with vision all around; release me, Sakka, from doubts.”
‘Trong thế giới chư thiên và loài người, con thấy một vị Phạm chí vô sở hữu đang đi lại. Con xin đảnh lễ Ngài, bậc Toàn Nhãn; xin Ngài hãy giải thoát cho con, hỡi đấng Sakka, khỏi những hoài nghi.’
33.
33.
33.
Nāhaṃ sahissāmi pamocanāya, kathaṃkathiṃ dhotaka kañci loke;
Dhammañca seṭṭhaṃ ājānamāno, evaṃ tuvaṃ oghamimaṃ taresi.
“I am not able to bring about the release of any doubter in the world, Dhotaka. But by coming to know the supreme Dhamma, you can cross over this flood.”
Này Dhotaka, Ta không thể giải thoát cho bất cứ ai trong thế gian còn hoài nghi. Nhưng khi biết được Pháp tối thượng, chính con hãy vượt qua dòng bộc lưu này.
Nāhaṃ sahissāmi † pamocanāyāti nāhaṃ taṃ sakkomi muñcituṃ pamuñcituṃ mocetuṃ pamocetuṃ uddharituṃ samuddharituṃ uṭṭhāpetuṃ samuṭṭhāpetuṃ kathaṃkathāsallatoti. Evampi nāhaṃ sahissāmi pamocanāya. Atha vā, na īhāmi na samīhāmi na ussahāmi na vāyamāmi na ussāhaṃ karomi na ussoḷhiṃ karomi na thāmaṃ karomi na dhitiṃ karomi na vīriyaṃ karomi na chandaṃ janemi na sañjanemi na nibbattemi na abhinibbattemi assaddhe puggale acchandike kusīte hīnavīriye appaṭipajjamāne dhammadesanāyāti. Evampi nāhaṃ sahissāmi pamocanāya. Atha vā, natthañño koci mocetā. Te yadi moceyyuṃ sakena thāmena sakena balena sakena vīriyena sakena parakkamena sakena purisathāmena sakena purisabalena sakena purisavīriyena sakena purisaparakkamena attanā sammāpaṭipadaṃ anulomapaṭipadaṃ apaccanīkapaṭipadaṃ anvatthapaṭipadaṃ dhammānudhammapaṭipadaṃ paṭipajjamānā moceyyunti. Evampi nāhaṃ sahissāmi pamocanāya.
‘I am not able to bring about the release’ means: I am not able to release you, fully release you, free you, fully free you, pull you out, fully pull you out, raise you up, fully raise you up from the dart of doubt. Thus: ‘I am not able to bring about the release.’ Or: I do not make an effort, I do not desire, I do not endeavor, I do not strive, I do not make a determined effort, I do not take pains, I do not apply strength, I do not apply resolve, I do not apply energy; I do not generate, produce, bring forth, or create desire for a teaching of the Dhamma in a person who is faithless, without desire, lazy, of deficient energy, and not practicing. Thus: ‘I am not able to bring about the release.’ Or: there is no other who can bring about release. If they are to be released, they would be released by their own strength, their own power, their own energy, their own exertion, their own manly strength, their own manly power, their own manly energy, their own manly exertion, by themselves undertaking the right practice, the conformable practice, the unopposed practice, the practice according to the meaning, the practice in conformity with the Dhamma. Thus: ‘I am not able to bring about the release.’
‘Ta không thể giải thoát’ có nghĩa là: Ta không thể giải thoát ngươi, hoàn toàn giải thoát, làm cho được giải thoát, làm cho được hoàn toàn giải thoát, nâng lên, hoàn toàn nâng lên, giúp đứng dậy, giúp hoàn toàn đứng dậy khỏi mũi tên hoài nghi. Đây cũng là ý nghĩa của ‘Ta không thể giải thoát.’ Hoặc là: Ta không nỗ lực, không cố gắng, không phấn đấu, không gắng sức, không tạo ra sự phấn đấu, không tạo ra sự nỗ lực mạnh mẽ, không tạo ra sức mạnh, không tạo ra sự kiên trì, không tạo ra tinh tấn, không khởi lên ý muốn, không làm cho khởi lên, không tạo ra, không làm cho hoàn toàn tạo ra việc thuyết Pháp cho người không có tín, không có ý muốn, lười biếng, ít tinh tấn, không thực hành. Đây cũng là ý nghĩa của ‘Ta không thể giải thoát.’ Hoặc là: Không có ai khác có thể giải thoát. Nếu họ được giải thoát, là do họ tự mình thực hành con đường đúng đắn, con đường thuận theo, con đường không chống trái, con đường thuận theo mục đích, con đường thuận theo Pháp và Tùy Pháp, với sức mạnh của chính mình, với năng lực của chính mình, với tinh tấn của chính mình, với sự nỗ lực của chính mình, với sức mạnh của người nam, với năng lực của người nam, với tinh tấn của người nam, với sự nỗ lực của người nam, thì họ mới có thể được giải thoát. Đây cũng là ý nghĩa của ‘Ta không thể giải thoát.’
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘so vata, cunda, attanā palipapalipanno paraṃ palipapalipannaṃ uddharissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. So vata, cunda, attanā adanto avinīto aparinibbuto paraṃ damessati vinessati parinibbāpessatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjatīti. Evampi nāhaṃ sahissāmi pamocanāya.
This has been said by the Blessed One: ‘Cunda, that one who is himself stuck in the mud will pull out another who is stuck in the mud—this is not possible. Cunda, that one who is himself untamed, undisciplined, and unextinguished will tame, discipline, and lead another to final extinguishment—this is not possible.’ Thus: ‘I am not able to bring about the release.’
Điều này đã được Đức Thế Tôn nói: ‘Này Cunda, thật vậy, một người tự mình bị lún sâu trong bùn lầy mà có thể kéo người khác cũng bị lún sâu trong bùn lầy lên, điều ấy không thể xảy ra. Này Cunda, thật vậy, một người tự mình không được điều phục, không được rèn luyện, không được tịch tịnh mà có thể điều phục, rèn luyện, làm cho người khác được tịch tịnh, điều ấy không thể xảy ra.’ Đây cũng là ý nghĩa của ‘Ta không thể giải thoát.’
Vuttañhetaṃ bhagavatā –
This has been said by the Blessed One:
Điều này đã được Đức Thế Tôn nói:
‘‘Attanā hi † kataṃ pāpaṃ, attanā saṃkilissati;
Attanā akataṃ pāpaṃ, attanāva visujjhati;
Suddhi asuddhi paccattaṃ, nāñño aññaṃ visodhaye’’ti.
“By oneself indeed is evil done, by oneself is one defiled; by oneself is evil not done, by oneself is one purified. Purity and impurity are personal matters; one cannot purify another.”
‘Tự mình làm điều ác, tự mình bị nhiễm ô. Tự mình không làm ác, tự mình được trong sạch. Trong sạch hay nhiễm ô là do tự mình, không ai có thể làm cho người khác trong sạch được.’
Evampi nāhaṃ sahissāmi pamocanāya.
Thus: ‘I am not able to bring about the release.’
Đây cũng là ý nghĩa của ‘Ta không thể giải thoát.’
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘evameva kho, brāhmaṇa, tiṭṭhateva nibbānaṃ tiṭṭhati nibbānagāmimaggo tiṭṭhāmahaṃ samādapetā, atha ca pana mama sāvakā mayā evaṃ ovadiyamānā evaṃ anusāsiyamānā appekacce accantaniṭṭhaṃ nibbānaṃ ārādhenti ekacce nārādhentīti. Ettha kyāhaṃ, brāhmaṇa karomi? Maggakkhāyī, brāhmaṇa, tathāgato. Maggaṃ buddho ācikkhati. Attanā paṭipajjamānā mucceyyunti †. Evampi nāhaṃ sahissāmi pamocanāya’’.
This has been said by the Blessed One: ‘Just so, brahmin, Nibbāna exists, the path leading to Nibbāna exists, and I exist as one who exhorts. Yet while my disciples are being thus advised and instructed by me, some attain Nibbāna, the ultimate conclusion, but others do not. In that matter, brahmin, what can I do? The Tathāgata, brahmin, is a proclaimer of the path. The Buddha points out the path. Those who practice for themselves may be liberated.’ Thus: ‘I am not able to bring about the release.’
Điều này đã được Đức Thế Tôn nói: ‘Này Bà-la-môn, cũng vậy, Niết-bàn vẫn tồn tại, con đường đưa đến Niết-bàn vẫn tồn tại, và Ta vẫn ở đây để hướng dẫn. Tuy nhiên, các đệ tử của Ta, được Ta giáo huấn như vậy, được Ta chỉ dạy như vậy, một số đạt được mục đích cuối cùng là Niết-bàn, một số khác lại không đạt được. Này Bà-la-môn, ở đây Ta có thể làm gì được? Này Bà-la-môn, Như Lai là người chỉ đường. Ngài biết con đường và chỉ dạy. Tự mình thực hành thì mới có thể được giải thoát. Đây cũng là ý nghĩa của ‘Ta không thể giải thoát.’
Kathaṃkathiṃ dhotaka kañci loketi kathaṃkathiṃ puggalaṃ sakaṅkhaṃ sakhilaṃ sadveḷhakaṃ savicikicchaṃ. Kañcīti kañci khattiyaṃ vā brāhmaṇaṃ vā vessaṃ vā suddaṃ vā gahaṭṭhaṃ vā pabbajitaṃ vā devaṃ vā manussaṃ vā. Loketi apāyaloke…pe… āyatanaloketi – kathaṃkathiṃ dhotaka kañci loke.
Any doubter in the world, Dhotaka: ‘Any doubter’ means a person who is a doubter, who is perplexed, who has mental barrenness, who is wavering, who is uncertain. ‘Any’ means any khattiya, brahmin, vessa, sudda, householder, or one gone forth, any deva or human. ‘In the world’ means in the plane of misery …pe… in the world of the sense bases. Thus: any doubter in the world, Dhotaka.
‘Bất cứ ai trong thế gian còn hoài nghi, này Dhotaka’ có nghĩa là: một người còn hoài nghi, còn phân vân, còn có chướng ngại, còn lưỡng lự, còn nghi ngờ. ‘Bất cứ ai’ là bất cứ ai, dù là Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, hay Thủ-đà-la, tại gia hay xuất gia, chư thiên hay loài người. ‘Trong thế gian’ là trong thế giới khổ cảnh… cho đến… trong thế giới của các xứ. – ‘Bất cứ ai trong thế gian còn hoài nghi, này Dhotaka.’
Dhammañca seṭṭhaṃ ājānamānoti dhammaṃ seṭṭhaṃ vuccati amataṃ nibbānaṃ. Yo so sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ. Seṭṭhanti aggaṃ seṭṭhaṃ viseṭṭhaṃ pāmokkhaṃ uttamaṃ pavaraṃ dhammaṃ ājānamāno vijānamāno paṭivijānamāno paṭivijjhamānoti – dhammañca seṭṭhaṃ ājānamāno.
‘And knowing the supreme Dhamma’: The supreme Dhamma is called the deathless, Nibbāna. That is, the stilling of all formations, the relinquishment of all acquisitions, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna. ‘Supreme’ means chief, best, distinguished, foremost, highest, excellent. Knowing, understanding, discerning, and penetrating that Dhamma—thus, ‘and knowing the supreme Dhamma’.
‘Khi biết được Pháp tối thượng’ có nghĩa là: Pháp tối thượng được gọi là bất tử, là Niết-bàn. Đó là sự lắng dịu của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sở thủ, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Niết-bàn. ‘Tối thượng’ có nghĩa là cao cả, tối thượng, đặc biệt, chủ yếu, cao nhất, ưu việt. ‘Biết được’ có nghĩa là biết rõ, nhận biết, thấu hiểu, chứng ngộ. – ‘Khi biết được Pháp tối thượng.’
Evaṃ tuvaṃ oghamimaṃ taresīti evaṃ kāmoghaṃ bhavoghaṃ diṭṭhoghaṃ avijjoghaṃ tareyyāsi uttareyyāsi patareyyāsi samatikkameyyāsi vītivatteyyāsīti – evaṃ tuvaṃ oghamimaṃ taresi. Tenāha bhagavā –
‘Thus you will cross this flood’: thus you should cross the flood of sensual pleasure, the flood of existence, the flood of views, and the flood of ignorance; you should cross, cross over, traverse, transcend, and pass beyond. Thus, ‘thus you will cross this flood’. Therefore the Blessed One said:
"Như vậy, ngươi sẽ vượt qua được dòng bộc lưu này" có nghĩa là: như vậy, ngươi có thể vượt qua, có thể đi qua, có thể vượt lên, có thể chiến thắng, có thể thoát khỏi dục bộc, hữu bộc, kiến bộc, vô minh bộc. – Như vậy, ngươi sẽ vượt qua được dòng bộc lưu này. Do đó, đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Nāhaṃ sahissāmi pamocanāya, kathaṃkathiṃ dhotaka kañci loke;
Dhammañca seṭṭhaṃ ājānamāno, evaṃ tuvaṃ oghamimaṃ taresī’’ti.
“I am not able to bring about the release for any doubter in the world, O Dhotaka; but by knowing the supreme Dhamma, thus you will cross this flood.”
"Này Dhotaka, Ta không có khả năng giải thoát cho bất cứ ai ở đời còn hoài nghi. Khi đã biết được Pháp tối thượng, như vậy ngươi sẽ vượt qua được dòng bộc lưu này."
34.
34.
34.
Anusāsa brahme karuṇāyamāno, vivekadhammaṃ yamahaṃ vijaññaṃ;
Yathāhaṃ ākāsova † abyāpajjamāno †, idheva santo asito careyyaṃ.
“Instruct me, O Brahma, out of compassion, about the Dhamma of seclusion that I might come to know; so that I, like space, unhindered, might fare, being right here and unattached.”
Kính bạch đấng Phạm Thiên, xin Ngài hãy rủ lòng bi mẫn mà giáo huấn, về pháp tịch tịnh mà con có thể liễu tri. Để con, giống như hư không, không bị chướng ngại, ngay tại đây, được an tịnh, không nương tựa, mà an trú.
Anusāsa brahme karuṇāyamānoti anusāsa brahme anuggaṇha brahme anukampa brahmeti – anusāsa brahme. Karuṇāyamānoti karuṇāyamāno anudayamāno † anurakkhamāno anuggaṇhamāno anukampamānoti – anusāsa brahme karuṇāyamāno.
`Instruct me, O Exalted One, being compassionate`: `Instruct me, O Exalted One` means: instruct me, O Exalted One; guide me, O Exalted One; have compassion for me, O Exalted One. `Being compassionate` means: being compassionate, being kind, protecting, guiding, and having compassion. Thus, `Instruct me, O Exalted One, being compassionate`.
"Xin Ngài hãy rủ lòng bi mẫn mà giáo huấn, kính bạch đấng Phạm Thiên" có nghĩa là: xin Ngài hãy giáo huấn, kính bạch đấng Phạm Thiên; xin Ngài hãy chỉ dạy, kính bạch đấng Phạm Thiên; xin Ngài hãy thương xót, kính bạch đấng Phạm Thiên – đó là ý nghĩa của "xin Ngài hãy giáo huấn, kính bạch đấng Phạm Thiên". "Rủ lòng bi mẫn" có nghĩa là: rủ lòng bi mẫn, thể hiện lòng trắc ẩn, hộ trì, chỉ dạy, thương xót – đó là ý nghĩa của "xin Ngài hãy rủ lòng bi mẫn mà giáo huấn, kính bạch đấng Phạm Thiên".
Vivekadhammaṃ yamahaṃ vijaññanti vivekadhammaṃ vuccati amataṃ nibbānaṃ. Yo so sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ. Yamahaṃ vijaññanti yamahaṃ jāneyyaṃ ājāneyyaṃ vijāneyyaṃ paṭivijāneyyaṃ paṭivijjheyyaṃ adhigaccheyyaṃ phasseyyaṃ sacchikareyyanti – vivekadhammaṃ yamahaṃ vijaññaṃ.
`The Dhamma of seclusion that I might know`: The Dhamma of seclusion is called the deathless, Nibbāna. That is, the stilling of all formations, the relinquishment of all substrata, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna. `That I might know` means: that I might know, understand, discern, recognize, penetrate, attain, contact, and realize. Thus, `the Dhamma of seclusion that I might know`.
"Về pháp tịch tịnh mà con có thể liễu tri": Pháp tịch tịnh được gọi là bất tử, là Niết-bàn. Đó là sự tịch tịnh của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự diệt tận, Niết-bàn. "Mà con có thể liễu tri" có nghĩa là: pháp mà con có thể biết, có thể hiểu rõ, có thể liễu tri, có thể nhận biết, có thể thâm nhập, có thể đạt đến, có thể tiếp xúc, có thể chứng ngộ – đó là ý nghĩa của "về pháp tịch tịnh mà con có thể liễu tri".
Yathāhaṃ ākāsova abyāpajjamānoti yathā ākāso na pajjati na gaṇhati † na bajjhati na palibajjhati, evaṃ apajjamāno agaṇhamāno abajjhamāno apalibajjhamānoti – evampi ākāsova abyāpajjamāno. Yathā ākāso na rajjati lākhāya vā haliddiyā † vā nīliyā † vā mañjeṭṭhāya vā evaṃ arajjamāno adussamāno amuyhamāno akilissamānoti † – evampi ākāsova abyāpajjamāno. Yathā ākāso na kuppati na byāpajjati na patilīyati † na paṭihaññati, evaṃ akuppamāno abyāpajjamāno appatilīyamāno appaṭihaññamāno appaṭihatamānoti – evampi ākāsova abyāpajjamāno.
`So that I, like space, am unhindered`: Just as space is not stuck, does not get caught, is not bound, and is not ensnared, so too, not being stuck, not getting caught, not being bound, and not being ensnared—thus, `like space, unhindered`. Just as space is not dyed by lac, turmeric, indigo, or madder, so too, not being dyed, not being corrupted, not being deluded, and not being defiled—thus, `like space, unhindered`. Just as space is not agitated, is not afflicted, does not stand in anger, and is not struck, so too, not being agitated, not being afflicted, not standing in anger, not being struck, and not being struck back—thus, `like space, unhindered`.
"Để con, giống như hư không, không bị chướng ngại" có nghĩa là: giống như hư không không vướng mắc, không nắm giữ, không bị trói buộc, không bị ràng buộc, cũng vậy, không vướng mắc, không nắm giữ, không bị trói buộc, không bị ràng buộc – đây cũng là ý nghĩa của "giống như hư không, không bị chướng ngại". Giống như hư không không bị nhuộm bởi cánh kiến, hoặc nghệ, hoặc màu chàm, hoặc màu đỏ son, cũng vậy, không bị tham nhiễm, không bị sân hận, không bị si mê, không bị ô uế – đây cũng là ý nghĩa của "giống như hư không, không bị chướng ngại". Giống như hư không không bị khuấy động, không bị phiền não, không bị co rút, không bị va chạm, cũng vậy, không bị khuấy động, không bị phiền não, không bị co rút, không bị va chạm, không bị tổn hại – đây cũng là ý nghĩa của "giống như hư không, không bị chướng ngại".
Idheva santo asito careyyanti. Idheva santoti idheva santo idheva samāno idheva nisinno samāno imasmiṃyeva āsane nisinno samāno imissāyeva parisāya nisinno samānoti, evampi – idheva santo. Atha vā, idheva santo upasanto vūpasanto nibbuto paṭippassaddhoti, evampi – idheva santo. Asitoti dve nissayā – taṇhānissayo ca diṭṭhinissayo ca…pe… ayaṃ taṇhānissayo…pe… ayaṃ diṭṭhinissayo… taṇhānissayaṃ pahāya diṭṭhinissayaṃ paṭinissajjitvā cakkhuṃ anissito, sotaṃ anissito, ghānaṃ anissito, jivhaṃ anissito, kāyaṃ anissito, manaṃ anissito, rūpe… sadde… gandhe … rase… phoṭṭhabbe… dhamme… kulaṃ… gaṇaṃ… āvāsaṃ… lābhaṃ… yasaṃ… pasaṃsaṃ… sukhaṃ… cīvaraṃ… piṇḍapātaṃ… senāsanaṃ… gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ… kāmadhātuṃ… rūpadhātuṃ… arūpadhātuṃ… kāmabhavaṃ… rūpabhavaṃ… arūpabhavaṃ… saññābhavaṃ… asaññābhavaṃ… nevasaññānāsaññābhavaṃ… ekavokārabhavaṃ… catuvokārabhavaṃ… pañcavokārabhavaṃ… atītaṃ… anāgataṃ… paccuppannaṃ… diṭṭhasutamutaviññātabbe † dhamme asito anissito anallīno anupagato anajjhosito anadhimutto nikkhanto nissaṭo † vippamutto visaṃyutto vimariyādikatena cetasā. Careyyanti careyyaṃ vihareyyaṃ iriyeyyaṃ vatteyyaṃ yapeyyaṃ yāpeyyanti – idheva santo asito careyyaṃ. Tenāha so brāhmaṇo –
`Being right here, I would fare unreliant.` `Being right here` means: being right here, being right here, being seated right here, being seated on this very seat, being seated in this very assembly—thus, `being right here`. Or else, `being right here` means: being calmed, especially calmed, well calmed, extinguished, tranquil—thus, `being right here`. `Unreliant` means: there are two reliances—reliance on craving and reliance on views… this is reliance on craving… this is reliance on views… having abandoned reliance on craving, having relinquished reliance on views, one is not reliant on the eye, not reliant on the ear, not reliant on the nose, not reliant on the tongue, not reliant on the body, not reliant on the mind; not reliant on forms… sounds… smells… tastes… tactile objects… mental phenomena… a family… a group… a dwelling… gain… fame… praise… pleasure… robes… almsfood… lodging… medicinal requisites for the sick… the sensual-pleasure realm… the form realm… the formless realm… sensual-pleasure existence… form existence… formless existence… existence with perception… existence without perception… existence with neither-perception-nor-non-perception… existence with one constituent… existence with four constituents… existence with five constituents… the past… the future… the present… on things seen, heard, sensed, and cognized; one is unreliant, not clinging, not approaching, not settled upon, not intent, departed, released, liberated, disjoined, with a mind without boundaries. `I would fare` means: I would fare, I would dwell, I would move, I would proceed, I would maintain myself, I would sustain myself. Thus, `being right here, I would fare unreliant`. Therefore that brahmin said:
"Ngay tại đây, được an tịnh, không nương tựa, mà an trú". "Ngay tại đây, được an tịnh" có nghĩa là: ngay tại đây hiện hữu, ngay tại đây có mặt, ngay tại đây đang ngồi, đang ngồi trên chính chỗ ngồi này, đang ngồi trong chính hội chúng này – đây cũng là ý nghĩa của "ngay tại đây, được an tịnh". Hoặc là, ngay tại đây được an tịnh, được tịch tịnh, được hoàn toàn tịch tịnh, được dập tắt, được khinh an – đây cũng là ý nghĩa của "ngay tại đây, được an tịnh". "Không nương tựa" có nghĩa là: có hai sự nương tựa – nương tựa vào ái và nương tựa vào tà kiến... đây là sự nương tựa vào ái... đây là sự nương tựa vào tà kiến... đã từ bỏ sự nương tựa vào ái, đã xả ly sự nương tựa vào tà kiến, không nương tựa vào mắt, không nương tựa vào tai, không nương tựa vào mũi, không nương tựa vào lưỡi, không nương tựa vào thân, không nương tựa vào ý; không nương tựa vào sắc... âm thanh... hương... vị... xúc... pháp... gia tộc... hội chúng... trú xứ... lợi lộc... danh tiếng... tán thán... lạc... y... vật thực... sàng tọa... dược phẩm trị bệnh... dục giới... sắc giới... vô sắc giới... dục hữu... sắc hữu... vô sắc hữu... tưởng hữu... vô tưởng hữu... phi tưởng phi phi tưởng hữu... nhất uẩn hữu... tứ uẩn hữu... ngũ uẩn hữu... quá khứ... vị lai... hiện tại... các pháp được thấy, nghe, cảm nhận, nhận biết; không nương tựa, không y chỉ, không dính mắc, không đi đến, không chấp thủ, không quyết định, đã xuất ly, đã từ bỏ, đã hoàn toàn giải thoát, đã không còn tương ưng, với tâm không còn giới hạn. "Mà an trú" có nghĩa là: con sẽ an trú, con sẽ sống, con sẽ đi đứng, con sẽ hành xử, con sẽ duy trì, con sẽ bảo tồn – đó là ý nghĩa của "ngay tại đây, được an tịnh, không nương tựa, mà an trú". Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
‘‘Anusāsa brahme karuṇāyamāno, vivekadhammaṃ yamahaṃ vijaññaṃ;
Yathāhaṃ ākāsova abyāpajjamāno, idheva santo asito careyya’’nti.
“Instruct me, O Brahma, out of compassion, about the Dhamma of seclusion that I might come to know; so that I, like space, unhindered, might fare right here, at peace and unreliant.”
"Kính bạch đấng Phạm Thiên, xin Ngài hãy rủ lòng bi mẫn mà giáo huấn, về pháp tịch tịnh mà con có thể liễu tri. Để con, giống như hư không, không bị chướng ngại, ngay tại đây, được an tịnh, không nương tựa, mà an trú."
35.
35.
35.
Kittayissāmi te santiṃ, [dhotakāti bhagavā]
Diṭṭhe dhamme anītihaṃ;
Yaṃ viditvā sato caraṃ, tare loke visattikaṃ.
“I will declare peace to you,” said the Blessed One to Dhotaka, “a peace to be seen for oneself, not based on hearsay, having known which, faring on mindfully, one may cross over attachment in the world.”
(Đức Thế Tôn phán:) "Ta sẽ tuyên thuyết cho ngươi về sự an tịnh, trong pháp hiện tại, không do truyền thuyết; biết được pháp ấy, sống chánh niệm, vị ấy vượt qua sự dính mắc ở đời."
Kittayissāmi te santinti rāgassa santiṃ, dosassa santiṃ, mohassa santiṃ, kodhassa santiṃ, upanāhassa…pe… makkhassa… paḷāsassa… issāya… macchariyassa… māyāya… sāṭheyyassa… thambhassa… sārambhassa… mānassa… atimānassa… madassa… pamādassa… sabbakilesānaṃ… sabbaduccaritānaṃ… sabbadarathānaṃ… sabbapariḷāhānaṃ… sabbasantāpānaṃ… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ santiṃ upasantiṃ vūpasantiṃ nibbutiṃ paṭippassaddhiṃ kittayissāmi pakittayissāmi ācikkhissāmi desessāmi paññapessāmi paṭṭhapessāmi vivarissāmi vibhajissāmi uttānīkarissāmi pakāsissāmīti – kittayissāmi te santiṃ.
`I will declare peace to you`: the stilling of lust, the stilling of hatred, the stilling of delusion, the stilling of anger, the stilling of resentment … contempt … spite … envy … stinginess … deceit … craftiness … stubbornness … contention … conceit … arrogance … vanity … heedlessness; the stilling of all defilements, of all misconduct, of all distress, of all fevers, of all torments, of all unwholesome formations; the stilling, pacification, extinguishment, and tranquility. I will declare, proclaim, point out, teach, make known, establish, reveal, analyze, make plain, and illuminate it. Thus, `I will declare peace to you`.
"Ta sẽ tuyên thuyết cho ngươi về sự an tịnh" có nghĩa là: Ta sẽ tuyên thuyết, sẽ trình bày, sẽ chỉ rõ, sẽ giảng dạy, sẽ làm cho biết, sẽ thiết lập, sẽ khai mở, sẽ phân tích, sẽ làm cho hiển lộ, sẽ làm cho sáng tỏ về sự an tịnh khỏi tham, sự an tịnh khỏi sân, sự an tịnh khỏi si, sự an tịnh khỏi phẫn nộ, sự an tịnh khỏi oán hận... gièm pha... tranh cạnh... tật đố... xan tham... lừa dối... xảo trá... ngoan cố... hiếu thắng... kiêu mạn... quá mạn... say đắm... phóng dật... sự an tịnh, sự tịch tịnh, sự hoàn toàn tịch tịnh, sự dập tắt, sự khinh an khỏi tất cả các phiền não, tất cả các ác hạnh, tất cả các sầu muộn, tất cả các nhiệt não, tất cả các thiêu đốt, tất cả các bất thiện hành – đó là ý nghĩa của "Ta sẽ tuyên thuyết cho ngươi về sự an tịnh".
Dhotakāti bhagavāti. Dhotakāti bhagavā taṃ brāhmaṇaṃ nāmena ālapati. Bhagavāti gāravādhivacanametaṃ…pe… sacchikā paññatti, yadidaṃ bhagavāti – dhotakāti bhagavā.
`O Dhotaka, said the Blessed One`: `Dhotaka`: the Blessed One addresses that brahmin by his name. `Blessed One`: this is a term of respect … a designation based on realization, that is, `Blessed One`. Thus, `O Dhotaka, said the Blessed One`.
"Này Dhotaka, đức Thế Tôn". "Này Dhotaka", đức Thế Tôn gọi vị Bà-la-môn ấy bằng tên. "Thế Tôn" là một danh xưng tôn kính... là một khái niệm thực chứng, đó là "Thế Tôn" – đó là ý nghĩa của "Này Dhotaka, đức Thế Tôn".
Diṭṭhe dhamme anītihanti. Diṭṭhe dhammeti diṭṭhe dhamme ñāte dhamme tulite dhamme tīrite dhamme vibhūte dhamme vibhāvite dhamme sabbe saṅkhārā aniccāti…pe… yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhammanti diṭṭhe dhamme ñāte dhamme tulite dhamme tīrite dhamme vibhāvite dhamme vibhūte dhammeti, evampi – diṭṭhe dhamme…pe…. Atha vā, dukkhe diṭṭhe dukkhaṃ kathayissāmi, samudaye diṭṭhe samudayaṃ kathayissāmi, magge diṭṭhe maggaṃ kathayissāmi, nirodhe diṭṭhe nirodhaṃ kathayissāmīti, evampi – diṭṭhe dhamme…pe…. Atha vā, sandiṭṭhikaṃ akālikaṃ ehipassikaṃ opaneyyikaṃ † paccattaṃ veditabbaṃ viññūhīti, evampi – diṭṭhe dhamme. Anītihanti na itihītihaṃ na itikirāya na paramparāya na piṭakasampadāya na takkahetu na nayahetu na ākāraparivitakkena na diṭṭhinijjhānakkhantiyā sāmaṃ sayamabhiññātaṃ attapaccakkhadhammaṃ, taṃ kathayissāmīti – diṭṭhe dhamme anītihaṃ.
In the Dhamma to be seen for oneself, not based on hearsay. 'In the Dhamma to be seen for oneself' means: in the Dhamma seen, known, weighed, judged, made manifest, and developed, that is, ‘All formations are impermanent’ … ‘Whatever is subject to origination is all subject to cessation.’ Thus, 'in the Dhamma to be seen for oneself'…. Or else, having seen suffering, I will declare suffering; having seen the origin, I will declare the origin; having seen the path, I will declare the path; having seen cessation, I will declare cessation. Thus, 'in the Dhamma to be seen for oneself'…. Or else, it is directly visible, immediate, inviting one to come and see, leading onward, to be known personally by the wise. Thus, 'in the Dhamma to be seen for oneself'. 'Not based on hearsay' means: not by reports, not by tradition, not by lineage, not by the authority of scriptures, not by logical reasoning, not by inferential reasoning, not by reflection on reasons, not by the acceptance of a view after consideration, but the Dhamma known by oneself, of one's own accord, and directly perceived by oneself—that I will declare. Thus, 'in the Dhamma to be seen for oneself, not based on hearsay'.
Trong pháp được thấy, không do truyền thống. (Giải rằng:) ‘Trong pháp được thấy’ có nghĩa là: trong pháp được thấy, trong pháp được biết, trong pháp được cân lường, trong pháp được thẩm xét, trong pháp được làm cho hiển lộ, trong pháp được làm cho phát triển, (tức là) ‘tất cả các pháp hữu vi là vô thường’... cho đến... ‘bất cứ pháp nào có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có diệt tận,’ (đó là ý nghĩa) trong pháp được thấy, trong pháp được biết, trong pháp được cân lường, trong pháp được thẩm xét, trong pháp được làm cho phát triển, trong pháp được làm cho hiển lộ. Như vậy cũng là ý nghĩa của ‘trong pháp được thấy’... Hoặc là, trong khổ đế được thấy, Ta sẽ nói về khổ; trong tập đế được thấy, Ta sẽ nói về tập; trong đạo đế được thấy, Ta sẽ nói về đạo; trong diệt đế được thấy, Ta sẽ nói về diệt. Như vậy cũng là ý nghĩa của ‘trong pháp được thấy’... Hoặc là, (pháp) có thể được thấy ngay trong hiện tại, không có thời gian ngăn cách, có tính cách đến để mà thấy, có tính hướng thượng, được người trí tự mình chứng biết. Như vậy cũng là ý nghĩa của ‘trong pháp được thấy’. ‘Không do truyền thống’ có nghĩa là: không phải do truyền thuyết ‘việc đã là như vậy’, không phải do truyền khẩu ‘việc được nghe như vậy’, không phải do kế thừa, không phải do tương hợp với kinh điển, không phải do lý luận suông, không phải do suy diễn, không phải do cân nhắc các khía cạnh, không phải do chấp nhận kiến giải sau khi nghiền ngẫm, mà là pháp được tự mình thắng tri, tự mình chứng nghiệm. Ta sẽ nói về pháp ấy. (Do đó, câu kệ có nói:) ‘Trong pháp được thấy, không do truyền thống’.
Yaṃ viditvā sato caranti yaṃ viditaṃ katvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā; ‘‘sabbe saṅkhārā aniccā’’ti viditaṃ katvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā; ‘‘sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti…pe… ‘‘sabbe dhammā anattā’’ti…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti viditaṃ katvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. Satoti catūhi kāraṇehi sato – kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvento sato…pe… so vuccati sato. Caranti caranto viharanto iriyanto vattento pālento yapento yāpentoti – yaṃ viditvā sato caraṃ.
Having known which, faring on mindfully. 'Having known which' means: having known, weighed, judged, developed, and made manifest that ‘All formations are impermanent’; having known, weighed, judged, developed, and made manifest that ‘All formations are suffering’ … that ‘All phenomena are non-self’ … that ‘Whatever is subject to origination is all subject to cessation.’ 'Mindfully' means: one is mindful for four reasons: one is mindful by developing the establishment of mindfulness in the contemplation of the body in the body … so one is called mindful. 'Faring on' means: faring, dwelling, moving, proceeding, maintaining, supporting, keeping on. Thus, 'having known which, faring on mindfully'.
Pháp mà sau khi biết, người chánh niệm hành trì. (Giải rằng:) ‘Pháp mà sau khi biết’ có nghĩa là sau khi đã biết, đã cân lường, đã thẩm xét, đã làm cho phát triển, đã làm cho hiển lộ; sau khi đã biết, đã cân lường, đã thẩm xét, đã làm cho phát triển, đã làm cho hiển lộ rằng: ‘tất cả các pháp hữu vi là vô thường’; sau khi đã biết... rằng: ‘tất cả các pháp hữu vi là khổ’... cho đến... ‘tất cả các pháp là vô ngã’... cho đến... sau khi đã biết, đã cân lường, đã thẩm xét, đã làm cho phát triển, đã làm cho hiển lộ rằng: ‘bất cứ pháp nào có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có diệt tận’. ‘Chánh niệm’ có nghĩa là người có chánh niệm do bốn lý do: người ấy có chánh niệm khi tu tập niệm xứ quán thân trên thân... cho đến... người ấy được gọi là người có chánh niệm. ‘Hành trì’ có nghĩa là hành trì, an trú, đi lại, sinh hoạt, hộ trì, duy trì, bảo dưỡng. (Do đó, câu kệ có nói:) ‘Pháp mà sau khi biết, người chánh niệm hành trì’.
Tare loke visattikanti visattikā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Visattikāti kenaṭṭhena visattikā…pe… visaṭā vitthatāti visattikā. Loketi apāyaloke…pe… āyatanaloke. Tare loke visattikanti loke vesā visattikā, loke vetaṃ visattikaṃ sato tareyya uttareyya patareyya samatikkameyya vītivatteyyāti – tare loke visattikaṃ. Tenāha bhagavā –
`One may cross over attachment in the world`: `Attachment` is a term for craving. That is, lust, passion… covetousness, greed, the unwholesome root. `Attachment`: In what sense is it attachment?… Because it is spread out and extensive, it is called attachment. `In the world`: in the world of misery… in the world of the sense bases. `One may cross over attachment in the world` means: this is attachment in the world; being mindful, one should cross over, cross beyond, traverse, transcend, and pass beyond this attachment in the world. Thus, `one may cross over attachment in the world`. Therefore the Blessed One said:
Vượt qua sự dính mắc trong thế gian. (Giải rằng:) Tham ái được gọi là ‘sự dính mắc’. Đó là sự tham, sự tham đắm... cho đến... sự tham lam, lòng tham, cội rễ bất thiện. ‘Sự dính mắc’: do ý nghĩa nào mà gọi là ‘sự dính mắc’? ... (Vì nó) lan rộng, trải rộng, nên gọi là ‘sự dính mắc’. ‘Trong thế gian’ có nghĩa là trong cõi khổ... cho đến... trong xứ thế gian. ‘Vượt qua sự dính mắc trong thế gian’ có nghĩa là người có chánh niệm nên vượt qua, nên vượt qua một cách đặc biệt, nên vượt qua một cách riêng biệt, nên hoàn toàn vượt qua, nên vượt qua hẳn sự dính mắc ấy trong thế gian, sự dính mắc này trong thế gian. (Do đó, câu kệ có nói:) ‘Vượt qua sự dính mắc trong thế gian’. Vì thế, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Kittayissāmi te santiṃ, [dhotakāti bhagavā]
Diṭṭhe dhamme anītihaṃ;
Yaṃ viditvā sato caraṃ, tare loke visattika’’nti.
“I will declare peace to you,” said the Blessed One to Dhotaka, “a peace to be seen in this very life, not based on hearsay, having known which, faring on mindfully, one may cross over attachment in the world.”
«Này Dhotaka, Ta sẽ tuyên thuyết cho ngươi về sự tịch tịnh, trong pháp được thấy ngay hiện tại, không do truyền thống; pháp mà sau khi biết, người chánh niệm hành trì, sẽ vượt qua sự dính mắc trong thế gian.»
36.
36.
36.
Tañcāhaṃ abhinandāmi, mahesi santimuttamaṃ;
Yaṃ viditvā sato caraṃ, tare loke visattikaṃ.
“And I rejoice in that, O Great Seer, the supreme peace, having known which, faring on mindfully, one may cross over attachment in the world.”
Và con xin hoan hỷ điều ấy, hỡi bậc Đại Sĩ, sự tịch tịnh tối thượng; pháp mà sau khi biết, người chánh niệm hành trì, sẽ vượt qua sự dính mắc trong thế gian.
Tañcāhaṃ abhinandāmīti. Tanti tuyhaṃ vacanaṃ byappathaṃ desanaṃ anusāsanaṃ anusiṭṭhaṃ nandāmi abhinandāmi modāmi anumodāmi icchāmi sādiyāmi patthayāmi pihayāmi abhijappāmīti – tañcāhaṃ abhinandāmi.
`And I rejoice in that`: This means: I delight in, greatly delight in, rejoice in, and approve of your word, discourse, teaching, instruction, and admonition. I desire it, welcome it, long for it, yearn for it, and aspire to it—thus, `And I rejoice in that`.
‘Và con xin hoan hỷ điều ấy’. (Giải rằng:) ‘Điều ấy’ là lời nói, lời trình bày, bài thuyết giảng, lời giáo huấn, lời chỉ dạy của ngài. (Con) vui thích, rất hoan hỷ, hân hoan, tùy hỷ, mong muốn, chấp nhận, ước nguyện, khao khát, mong mỏi. (Do đó, câu kệ có nói:) ‘Và con xin hoan hỷ điều ấy’.
Mahesisantimuttamanti. Mahesīti kiṃ mahesi bhagavā? Mahantaṃ sīlakkhandhaṃ esī gavesī pariyesīti mahesi, mahantaṃ samādhikkhandhaṃ…pe… kahaṃ narāsabhoti mahesi. Santimuttamanti santi vuccati amataṃ nibbānaṃ. Yo so sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ. Uttamanti aggaṃ seṭṭhaṃ viseṭṭhaṃ pāmokkhaṃ uttamaṃ pavaranti – mahesi santimuttamaṃ.
`Great Seer, the highest peace`: `Great Seer`: Why is the Blessed One a Great Seer? Because he sought, searched for, and pursued the great aggregate of virtue, the great aggregate of concentration… and so on, he is a Great Seer. Also, because he was sought for [by gods and humans asking,] ‘Where is the bull among men?’, he is a Great Seer. `The highest peace`: 'Peace' is said to be the deathless, Nibbāna. That is, the stilling of all formations, the relinquishment of all acquisitions, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna. `The highest`: This means the foremost, the best, the most excellent, the principal, the supreme, the finest—thus, `Great Seer, the highest peace`.
‘Hỡi bậc Đại Sĩ, sự tịch tịnh tối thượng’. (Giải rằng:) ‘Bậc Đại Sĩ’: vì sao Đức Thế Tôn là bậc Đại Sĩ? Vì Ngài đã tìm cầu, truy tầm, kiếm tìm uẩn giới vĩ đại, nên gọi là Đại Sĩ; (vì Ngài đã tìm cầu) uẩn định vĩ đại... cho đến... (vì Ngài đã được tìm cầu với câu hỏi) ‘Bậc Nhân Ngưu ở đâu?’, nên gọi là Đại Sĩ. ‘Sự tịch tịnh tối thượng’: sự tịch tịnh được gọi là bất tử, là Niết-bàn. Đó là sự lắng dịu của tất cả các pháp hữu vi, sự từ bỏ tất cả các chấp thủ, sự đoạn tận tham ái, sự ly tham, sự diệt, Niết-bàn. ‘Tối thượng’ có nghĩa là cao cả, ưu việt, đặc biệt ưu việt, hàng đầu, tối thượng, cao quý. (Do đó, câu kệ có nói:) ‘Hỡi bậc Đại Sĩ, sự tịch tịnh tối thượng’.
Yaṃ viditvā sato caranti yaṃ viditaṃ katvā…pe… ‘‘sabbe saṅkhārā aniccā’’ti viditaṃ katvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā; ‘‘sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti… ‘‘sabbe dhammā anattā’’ti…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti viditaṃ katvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. Satoti catūhi kāraṇehi sato – kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvento sato…pe… so vuccati sato. Caranti caranto…pe… yāpentoti – yaṃ viditvā sato caraṃ.
'Having known which, one fares on mindfully': 'Having known which' ...pe... having made it known, having weighed, having investigated, having developed, and having made it manifest that 'all formations are impermanent'; ... that 'all formations are suffering'; ... that 'all dhammas are not-self'; ...pe... that 'whatever has the nature of arising, all that has the nature of ceasing.' 'Mindful': one is mindful for four reasons—by developing the establishment of mindfulness, which is the contemplation of the body in the body, one is mindful...pe... he is called mindful. 'Fares on': faring on...pe... maintaining oneself—thus, 'Having known which, one fares on mindfully.'
Pháp mà sau khi biết, người chánh niệm hành trì. (Giải rằng:) ‘Pháp mà sau khi biết’ có nghĩa là sau khi đã biết... cho đến... sau khi đã biết, đã cân lường, đã thẩm xét, đã làm cho phát triển, đã làm cho hiển lộ rằng: ‘tất cả các pháp hữu vi là vô thường’; (sau khi đã biết rằng:) ‘tất cả các pháp hữu vi là khổ’... ‘tất cả các pháp là vô ngã’... cho đến... sau khi đã biết, đã cân lường, đã thẩm xét, đã làm cho phát triển, đã làm cho hiển lộ rằng: ‘bất cứ pháp nào có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có diệt tận’. ‘Chánh niệm’ có nghĩa là người có chánh niệm do bốn lý do: người ấy có chánh niệm khi tu tập niệm xứ quán thân trên thân... cho đến... người ấy được gọi là người có chánh niệm. ‘Hành trì’ có nghĩa là hành trì... cho đến... bảo dưỡng. (Do đó, câu kệ có nói:) ‘Pháp mà sau khi biết, người chánh niệm hành trì’.
Tare loke visattikanti. Visattikā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Visattikāti kenaṭṭhena visattikā…pe… visaṭā vitthatāti visattikā. Loketi apāyaloke…pe… āyatanaloke. Tare loke visattikanti loke vesā visattikā, loke vetaṃ visattikaṃ sato tareyyaṃ uttareyyaṃ…pe… vītivatteyyanti – tare loke visattikaṃ. Tenāha so brāhmaṇo –
'One should cross over attachment in the world.' `Visattikā` is said to be craving: that which is lust, intense lust...pe... covetousness, greed, the unwholesome root. `Visattikā`: for what reason is it `visattikā`?...pe... Because it is pervasive and extensive, it is called `visattikā`. 'In the world': in the plane of misery...pe... in the world of the sense bases. 'One should cross over attachment in the world': being mindful, one should cross over that attachment in the world, cross beyond it...pe... transcend it. Thus: 'One should cross over attachment in the world.' Therefore, that brahmin said:
Vượt qua sự dính mắc trong thế gian. (Giải rằng:) Tham ái được gọi là ‘sự dính mắc’. Đó là sự tham, sự tham đắm... cho đến... sự tham lam, lòng tham, cội rễ bất thiện. ‘Sự dính mắc’: do ý nghĩa nào mà gọi là ‘sự dính mắc’? ... (Vì nó) lan rộng, trải rộng, nên gọi là ‘sự dính mắc’. ‘Trong thế gian’ có nghĩa là trong cõi khổ... cho đến... trong xứ thế gian. ‘Vượt qua sự dính mắc trong thế gian’ có nghĩa là người có chánh niệm, con sẽ vượt qua, con sẽ vượt qua một cách đặc biệt... cho đến... con sẽ vượt qua hẳn sự dính mắc ấy trong thế gian, sự dính mắc này trong thế gian. (Do đó, câu kệ có nói:) ‘Vượt qua sự dính mắc trong thế gian’. Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói:
‘‘Tañcāhaṃ abhinandāmi, mahesi santimuttamaṃ;
Yaṃ viditvā sato caraṃ, tare loke visattika’’nti.
"And I rejoice in that, O great seer, the highest peace; having known which, faring on mindfully, one may cross over attachment in the world."
«Và con xin hoan hỷ điều ấy, hỡi bậc Đại Sĩ, sự tịch tịnh tối thượng; pháp mà sau khi biết, người chánh niệm hành trì, sẽ vượt qua sự dính mắc trong thế gian.»
37.
37.
37.
Yaṃ kiñci sampajānāsi, [dhotakāti bhagavā]
Uddhaṃ adho tiriyañcāpi majjhe;
Etaṃ viditvā saṅgoti loke, bhavābhavāya mākāsi taṇhaṃ.
[Dhotaka, said the Blessed One:] Whatever you know well, whether in the future, the past, or in the present; having known this to be attachment in the world, do not create craving for any state of existence.
Này Dhotaka, bất cứ điều gì ngươi hiểu rõ, ở tương lai (trên), quá khứ (dưới), và cả hiện tại (ngang và giữa); sau khi biết điều này là sự dính mắc trong thế gian, chớ có tạo ra tham ái để đi đến tái sanh trong các cõi.
Yaṃ kiñci sampajānāsīti yaṃ kiñci sampajānāsi ājānāsi paṭivijānāsi paṭivijjhasīti – yaṃ kiñci sampajānāsi. Dhotakāti bhagavāti. Dhotakāti bhagavā taṃ brāhmaṇaṃ nāmena ālapati. Bhagavāti gāravādhivacanametaṃ…pe… sacchikā paññatti, yadidaṃ bhagavāti – dhotakāti bhagavā.
'Whatever you know well': whatever you know well, apprehend, recognize, and penetrate—thus, 'Whatever you know well.' 'Dhotaka, said the Blessed One': The Blessed One addresses that brahmin by name. 'Blessed One' is a term of reverence...pe... a designation based on realization, that is, 'Blessed One'—thus, 'Dhotaka, said the Blessed One.'
‘Bất cứ điều gì ngươi hiểu rõ’. (Giải rằng:) ‘Bất cứ điều gì ngươi hiểu rõ’ có nghĩa là ngươi hiểu rõ, biết rõ, phân biệt rõ, thông suốt. (Do đó, câu kệ có nói:) ‘Bất cứ điều gì ngươi hiểu rõ’. ‘Này Dhotaka, Đức Thế Tôn (nói)’. (Giải rằng:) ‘Này Dhotaka’: Đức Thế Tôn gọi vị Bà-la-môn ấy bằng tên. ‘Đức Thế Tôn’: đây là một danh xưng tôn kính... cho đến... là một danh từ chỉ định có thật, tức là ‘Đức Thế Tôn’. (Do đó, câu kệ có nói:) ‘Này Dhotaka, Đức Thế Tôn (nói)’.
Uddhaṃ adho tiriyañcāpi majjheti. Uddhanti anāgataṃ; adhoti atītaṃ; tiriyañcāpi majjheti paccuppannaṃ. Uddhanti devaloko; adhoti apāyaloko; tiriyañcāpi majjheti manussaloko. Atha vā, uddhanti kusalā dhammā; adhoti akusalā dhammā; tiriyañcāpi majjheti abyākatā dhammā. Uddhanti arūpadhātu; adhoti kāmadhātu; tiriyañcāpi majjheti rūpadhātu. Uddhanti sukhā vedanā; adhoti dukkhā vedanā; tiriyañcāpi majjheti adukkhamasukhā vedanā. Uddhanti uddhaṃ pādatalā; adhoti adho kesamatthakā; tiriyañcāpi majjheti vemajjheti – uddhaṃ adho tiriyañcāpi majjhe.
Regarding ‘Above, below, and across in the middle’: ‘Above’ is the future; ‘below’ is the past; ‘across in the middle’ is the present. ‘Above’ is the celestial world; ‘below’ is the plane of misery; ‘across in the middle’ is the human world. Or alternatively, ‘above’ are wholesome states; ‘below’ are unwholesome states; ‘across in the middle’ are indeterminate states. ‘Above’ is the formless realm; ‘below’ is the sense-sphere realm; ‘across in the middle’ is the form realm. ‘Above’ is pleasant feeling; ‘below’ is painful feeling; ‘across in the middle’ is neither-painful-nor-pleasant feeling. ‘Above’ is what is above the soles of the feet; ‘below’ is what is below the tips of the hair; ‘across in the middle’ is what is in between. This is the meaning of ‘above, below, and across in the middle’.
Về câu: ‘Bên trên, bên dưới, và cả bên ngang, ở giữa.’ ‘Bên trên’ là vị lai; ‘bên dưới’ là quá khứ; ‘và cả bên ngang, ở giữa’ là hiện tại. ‘Bên trên’ là cõi trời; ‘bên dưới’ là cõi khổ; ‘và cả bên ngang, ở giữa’ là cõi người. Hoặc nữa, ‘bên trên’ là các pháp thiện; ‘bên dưới’ là các pháp bất thiện; ‘và cả bên ngang, ở giữa’ là các pháp vô ký. ‘Bên trên’ là cõi vô sắc; ‘bên dưới’ là cõi dục; ‘và cả bên ngang, ở giữa’ là cõi sắc. ‘Bên trên’ là thọ lạc; ‘bên dưới’ là thọ khổ; ‘và cả bên ngang, ở giữa’ là thọ bất khổ bất lạc. ‘Bên trên’ là phía trên từ lòng bàn chân; ‘bên dưới’ là phía dưới từ ngọn tóc; ‘và cả bên ngang, ở giữa’ là ở khoảng giữa. – (Đây là ý nghĩa của) ‘bên trên, bên dưới, và cả bên ngang, ở giữa.’
Etaṃ viditvā saṅgoti loketi saṅgo eso lagganaṃ etaṃ bandhanaṃ etaṃ palibodho esoti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvāti – etaṃ viditvā saṅgoti loke.
Regarding ‘Having known this as attachment in the world’: This is an attachment, this is a clinging, this is a bond, this is an obstruction—having known this, having understood it, having weighed it, having investigated it, having developed the understanding of it, having made it clear. This is the meaning of ‘Having known this as attachment in the world’.
Về câu: ‘Biết điều này là sự dính mắc ở trong đời.’ (Nghĩa là) sau khi đã biết, đã nhận rõ, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho phát triển, đã làm cho hiển lộ rằng: ‘Đây là sự dính mắc, đây là sự bám víu, đây là sự trói buộc, đây là sự chướng ngại.’ – (Đây là ý nghĩa của) ‘biết điều này là sự dính mắc ở trong đời.’
Bhavābhavāya mākāsi taṇhanti. Taṇhāti rūpataṇhā saddataṇhā…pe… dhammataṇhā. Bhavābhavāyāti bhavābhavāya kammabhavāya punabbhavāya kāmabhavāya, kammabhavāya kāmabhavāya punabbhavāya rūpabhavāya, kammabhavāya rūpabhavāya punabbhavāya arūpabhavāya, kammabhavāya arūpabhavāya punabbhavāya punappunabbhavāya, punappunagatiyā punappunaupapattiyā punappunapaṭisandhiyā punappunaattabhāvābhinibbattiyā taṇhaṃ mākāsi mā janesi mā sañjanesi mā nibbattesi mābhinibbattesi, pajaha vinodehi byantīkarohi anabhāvaṃ gamehīti – bhavābhavāya mākāsi taṇhanti. Tenāha bhagavā –
Regarding ‘Do not create craving for one state of existence after another’: ‘Craving’ means craving for forms, craving for sounds... and so on... craving for mental phenomena. ‘For one state of existence after another’ means for various states of existence, for kamma-existence and renewed existence; for kamma-existence and renewed existence in the sense-sphere; for kamma-existence and renewed existence in the form sphere; for kamma-existence and renewed existence in the formless sphere; for repeated existence, for repeated faring on, for repeated arising, for repeated relinking, for the repeated generation of an individual existence—do not create craving, do not generate it, do not produce it, do not bring it into being, do not bring it fully into being. Abandon it, dispel it, bring it to an end, lead it to non-existence. This is the meaning of ‘Do not create craving for one state of existence after another.’ Therefore, the Blessed One said:
Về câu: ‘Chớ tạo tác tham ái cho hữu này hữu kia.’ ‘Tham ái’ là tham ái đối với sắc, tham ái đối với thanh… cho đến… tham ái đối với pháp. ‘Cho hữu này hữu kia’ (nghĩa là) đối với hữu này hữu kia, đối với nghiệp hữu, đối với tái hữu, đối với dục hữu, đối với nghiệp hữu trong cõi dục, đối với tái hữu trong cõi dục, đối với sắc hữu, đối với nghiệp hữu trong cõi sắc, đối với tái hữu trong cõi sắc, đối với vô sắc hữu, đối với nghiệp hữu trong cõi vô sắc, đối với tái hữu trong cõi vô sắc, đối với sự tái hữu lập đi lập lại, đối với thú tái sanh lập đi lập lại, đối với sự sanh khởi lập đi lập lại, đối với sự kết nối (tái sanh) lập đi lập lại, đối với sự thành tựu tự thể lập đi lập lại, (vị ấy) chớ tạo tác, chớ phát sanh, chớ làm cho sanh khởi, chớ làm cho khởi lên, chớ làm cho hoàn toàn khởi lên tham ái; hãy từ bỏ, hãy loại trừ, hãy chấm dứt, hãy đưa đến sự không tồn tại. – (Đây là ý nghĩa của) ‘chớ tạo tác tham ái cho hữu này hữu kia.’ Vì thế, đức Thế Tôn đã dạy rằng –
‘‘Yaṃ kiñci sampajānāsi, [dhotakāti bhagavā]
Uddhaṃ adho tiriyañcāpi majjhe;
Etaṃ viditvā saṅgoti loke, bhavābhavāya mākāsi taṇha’’nti.
“Whatever you clearly perceive, Dhotaka, above, below, across, and in the middle—having known this as attachment in the world, do not create craving for one state of existence after another.”
‘Bất cứ điều gì ngươi nhận biết, (này Dhotaka, đức Thế Tôn phán) ở bên trên, bên dưới, và cả bên ngang, ở giữa; sau khi biết điều này là sự dính mắc ở trong đời, chớ tạo tác tham ái cho hữu này hữu kia.’
Saha gāthāpariyosānā…pe… satthā me, bhante bhagavā, sāvakohamasmīti.
Simultaneously with the conclusion of the verse... and so on... he said, “Venerable sir, the Blessed One is my Teacher; I am his disciple.”
Cùng với sự kết thúc của bài kệ… cho đến… ‘Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư của con, con là đệ tử (của ngài).’
Dhotakamāṇavapucchāniddeso pañcamo.
The Exposition of the Questions of the Young Man Dhotaka is the fifth.
Phần giải thích câu hỏi của thanh niên Dhotaka, thứ năm.
6. Upasīvamāṇavapucchāniddeso
6. The Exposition of the Questions of the Young Man Upasīva
6. Phần giải thích câu hỏi của thanh niên Upasīva
38.
38.
38.
Eko ahaṃ sakka mahantamoghaṃ, [iccāyasmā upasīvo]
Anissito no visahāmi tārituṃ;
Ārammaṇaṃ † brūhi samantacakkhu, yaṃ nissito oghamimaṃ tareyyaṃ.
“O Sakka, being alone, I am not able to cross the great flood; [said the Venerable Upasīva] being unsupported, I am unable to cross. O One with the All-Seeing Eye, please tell me of a support, relying on which I might cross this flood.”
(Trưởng lão Upasīva thưa rằng:) ‘Thưa ngài Sakka, một mình con không nơi nương tựa, không thể nào vượt qua được dòng bộc lưu vĩ đại. Xin ngài, bậc Toàn Giác, hãy nói cho con biết đối tượng mà nương vào đó con có thể vượt qua dòng bộc lưu này.’