Bản dịch
CND 2 — Các Câu Hỏi Của Thanh Niên (Pārāyana)
Pucchā
1-1. (Tôn giả Ajita [1] hỏi:) “Thế giới bị bao trùm bởi cái gì? Không chói sáng bởi điều g ì? Ngài hãy nói cái gì là vật làm uế nhiễm đối với (thế giới) này? Sự nguy hiểm lớn lao của nó là gì?”
[1] Lúc đi đến gặp đức Thế Tôn, Ajita còn là một vị thanh niên Bà-la-môn ( māṇava ). Vào cuối buổi giảng Pháp, Ajita đã được thành tựu quả vị A-la-hán (SnA. ii, 588; Cullaniddesapāḷi – Tiểu Diễn Giải , TTPV tập 36, trang 89).
1-2. (Đức Thế Tôn nói: “Này Ajita,) thế giới bị bao trùm bởi vô minh, không chói sáng bởi keo kiệt, bởi xao lãng. Ta nói tham muốn là vật làm uế nhiễm, khổ là sự nguy hiểm lớn lao của nó (thế giới).”
1-3. (Tôn giả Ajita hỏi:) “Các dòng chảy chảy tràn khắp mọi nơi , c ái gì là sự ngăn cản các dòng chảy? Ngài hãy nói về sự chế ngự các dòng chảy , c ác dòng chảy được chặn đứng bởi cái gì?”
1-4. (Đức Thế Tôn nói: “Này Ajita,) những dòng chảy nào hiện diện ở thế gian, niệm là sự ngăn cản chúng. Ta nói về sự chế ngự các dòng chảy , c húng được chặn đứng bởi tuệ.”
1-5. (Tôn giả Ajita hỏi:) “Thưa ngài, tuệ và luôn cả niệm, danh và sắc; được tôi hỏi điều này, xin ngài hãy nói lên, ở đâu điều này được hoại diệt?”
1- 6 . “ Ngươi đã hỏi câu hỏi về điều nào, này Ajita, Ta (sẽ) trả lời cho ngươi về điều ấy, về việc danh và sắc được hoại diệt không dư sót. Do sự diệt tận của thức, ở đây, điều này (danh và sắc) được hoại diệt.”
1-7. “Những vị nào đã hiểu rõ Giáo Pháp (là các bậc A-la- hán) và những vị nào là các bậc Hữu Học đông đảo ở nơi này, tôi hỏi bậc Chín Chắn về oai nghi của những vị ấy, thưa ngài, xin ngài hãy nói lên.”
1-8. “Không nên khát khao ở các dục, không nên bị khuấy động bởi tâm, thiện xảo đối với tất cả các pháp, có niệm, vị tỳ khưu ra đi du phương.”
Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Ajita .
2-1 . (Tôn giả Tissametteyya hỏi rằng:) “Ở đây, người nào được hài lòng ở thế gian? Đối với người nào, các sự dao động không hiện hữu? Người nào, sau khi biết rõ cả hai đầu, không bị nhiễm bẩn ở khoảng giữa nhờ vào trí tuệ? Ngài nói ai là ‘bậc đại nhân’? Ở đây, người nào vượt qua thợ may (tham ái)?”
2-2 . (Đức Thế Tôn nói: “Này Metteyya,) vị có Phạm hạnh trong các dục, đã xa lìa tham ái, luôn luôn có niệm. Sau khi đã suy xét, vị tỳ khưu được tịch tịnh; đối với vị ấy, các sự dao động không hiện hữu.
2-3 . Vị ấy, sau khi biết rõ cả hai đầu, không bị nhiễm bẩn ở khoảng giữa nhờ vào trí tuệ. Ta nói vị ấy là ‘bậc đại nhân.’ Ở đây, vị ấy vượt qua thợ may (tham ái).”
Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Tissametteyya .
3-1. (Tôn giả Puṇṇaka hỏi rằng:) “Với ý định hỏi câu hỏi, tôi đã đi đến với bậc không dục vọng, bậc có sự nhìn thấy gốc rễ (của các pháp): ‘Nương tựa vào điều gì, các vị ẩn sĩ, loài người, các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn, đối với các thiên thần, đã chuẩn bị lễ hiến tế đông đảo tại nơi này, ở thế gian. Thưa đức Thế Tôn, tôi hỏi ngài. Xin ngài hãy trả lời tôi về điều này.”
3-2. (Đức Thế Tôn nói: “Này Puṇṇaka,) bất cứ những ai, các vị ẩn sĩ, loài người, các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn, đối với các thiên thần, đã chuẩn bị lễ hiến tế đông đảo tại nơi này, ở thế gian, này Puṇṇaka, trong khi mong ước bản thể này, bị phụ thuộc vào tuổi già, họ đã chuẩn bị lễ hiến tế.”
3-3. (Tôn giả Puṇṇaka hỏi rằng:) “Bất cứ những ai, các vị ẩn sĩ, loài người, các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn, đối với các thiên thần, đã chuẩn bị lễ hiến tế đông đảo tại nơi này, ở thế gian, thưa đức Thế Tôn, có phải những người ấy, không xao lãng ở đường lối tế lễ, thưa ngài, thì họ đã vượt qua sanh và già? Thưa đức Thế Tôn, tôi hỏi ngài. Xin ngài hãy trả lời tôi về điều này.”
3-4. (Đức Thế Tôn nói: “Này Puṇṇaka,) những kẻ mong ước, khen ngợi, cầu khấn, cúng tế, những kẻ cầu khấn các dục bởi vì lợi lộc, Ta nói rằng: ‘Những kẻ ấy, do sự gắn bó vào tế lễ, bị luyến ái với sự luyến ái vào hiện hữu, đã không vượt qua sanh và già.’”
3-5. (Tôn giả Puṇṇaka hỏi rằng:) “Thưa ngài, nếu những kẻ ấy, do sự gắn bó vào tế lễ, đã không vượt qua sanh và già nhờ vào các lễ hiến tế, vậy giờ đây, thưa ngài, người nào ở thế giới chư Thiên và nhân loại đã vượt qua sanh và già? Thưa đức Thế Tôn, tôi hỏi ngài. Xin ngài hãy trả lời tôi về điều này.”
3-6. (Đức Thế Tôn nói: “Này Puṇṇaka,) sau khi đã suy xét nơi này và nơi khác ở thế gian, vị nào không có sự dao động tại bất cứ nơi nào ở thế gian, là bậc an tịnh, không còn khói mù, không phiền muộn, không mong cầu, Ta nói rằng, vị ấy đã vượt qua sanh và già.”
Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Puṇṇaka.
4-1. (Tôn giả Mettagū nói rằng:) “Thưa đức Thế Tôn, tôi hỏi ngài. Xin ngài hãy trả lời tôi về điều này. Tôi nghĩ rằng ngài là bậc đã đạt được sự hiểu biết, có bản thân đã được tu tập. Từ đâu mà các khổ này đã được khởi lên, bất kể loại nào ở thế gian, với nhiều hình thức?”
4-2. (Đức Thế Tôn nói: “Này Mettagū,) quả thật ngươi đã hỏi Ta về nguồn sanh khởi của khổ. Ta sẽ tuyên thuyết về điều ấy cho ngươi theo như điều Ta nhận biết. Các khổ phát khởi đều có căn nguyên là mầm tái sanh, bất kể loại nào ở thế gian, với nhiều hình thức.
4-3. Thật vậy, kẻ nào, (do) không biết, tạo ra mầm tái sanh, là kẻ ngu, (sẽ) đi đến khổ lần này rồi lần khác. Vì thế, người có sự quán xét về sự sanh ra và phát khởi của khổ, trong khi biết, không nên tạo ra mầm tái sanh.”
4-4. (Tôn giả Mettagū nói rằng:) “Điều nào chúng tôi đã hỏi ngài, ngài đã giải thích cho chúng tôi. Chúng tôi hỏi ngài điều khác, vậy xin ngài hãy trả lời điều ấy. Làm thế nào các bậc sáng trí vượt qua dòng lũ, sanh và già, sầu muộn và than vãn? Thưa bậc hiền trí, xin ngài hãy khéo léo giảng rõ điều ấy cho tôi, bởi vì pháp này đã được ngài biết đúng theo bản thể.”
4-5. (Đức Thế Tôn nói: “Này Mettagū,) Ta sẽ giải thích cho ngươi Giáo Pháp, về pháp đã được thấy, không phải do nghe nói lại, sau khi hiểu pháp ấy, vị có niệm, trong khi sống, có thể vượt qua sự vướng mắc ở thế gian.”
4-6. “Và tôi thích thú Giáo Pháp tối thượng ấy, thưa bậc đại ẩn sĩ. Sau khi hiểu pháp ấy, vị có niệm, trong khi sống, có thể vượt qua sự vướng mắc ở thế gian.”
4-7. (Đức Thế Tôn nói: “Này Mettagū,) bất cứ điều gì mà ngươi tự mình nhận biết, bên trên, bên dưới, luôn cả bề ngang và khoảng giữa, ngươi hãy xua đi sự vui thích, sự chấp chặt, và tâm thức liên quan đến các pháp ấy; không nên trụ lại ở hiện hữu.
4-8. An trú như vậy, có niệm, không xao lãng, vị tỳ khưu, trong khi sống, sau khi từ bỏ các vật đã được chấp là của ta, là vị hiểu biết, ngay tại nơi này, có thể dứt bỏ khổ đau, sanh, già, sầu muộn và than vãn.”
4-9. (Tôn giả Mettagū nói rằng:) “Tôi thích thú lời nói này của bậc đại ẩn sĩ, đã khéo được trình bày, thưa ngài Gotama, không liên quan đến mầm tái sanh, bởi vì đức Thế Tôn đương nhiên đã dứt bỏ khổ, bởi vì pháp này đã được ngài biết đúng theo bản thể.
4-10. Và thưa bậc hiền trí, những người nào được ngài giáo huấn không ngừng nghỉ, những người ấy chắc chắn có thể dứt bỏ khổ đau. Vì thế, thưa bậc long tượng, sau khi gặp ngài, con xin kính lễ ngài. Mong sao đức Thế Tôn sẽ giáo huấn con không ngừng nghỉ.”
4-11. (Đức Thế Tôn nói: “Này Mettagū,) vị Bà-la-môn nào mà ngươi có thể biết rõ là bậc đã đạt được sự hiểu biết, không còn vướng bận, không bị dính mắc ở dục và hữu, vị ấy đương nhiên đã vượt qua dòng lũ này, và đã vượt qua đến bờ kia, không còn cọc nhọn (ô nhiễm), không còn hoài nghi.
4-12. “Và người nào ở nơi này, có sự hiểu biết, là bậc đã đạt được sự hiểu biết, sau khi tháo gỡ sự bấu víu này ở hữu và phi hữu, người ấy có tham ái đã được xa lìa, không còn phiền muộn, không có mong cầu, Ta nói rằng, vị ấy đã vượt qua sanh và già.”
Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Mettagū.
5-1. (Tôn giả Dhotaka nói rằng:) “Thưa đức Thế Tôn, con hỏi ngài. Xin ngài hãy trả lời con về điều này. Thưa bậc đại ẩn sĩ, con mong mỏi lời nói của ngài. Sau khi lắng nghe lời tuyên bố của ngài, con có thể học tập về sự tịch diệt cho bản thân.”
5-2. (Đức Thế Tôn nói: “Này Dhotaka,) chính vì điều ấy, ngươi hãy thực hiện sự năng nổ, ngay tại nơi này, hãy là người có sự chín chắn, có niệm. Sau khi lắng nghe lời tuyên bố từ nơi đây, nên học tập về sự tịch diệt cho bản thân.”
5-3. (Tôn giả Dhotaka nói rằng:) “Con nhìn thấy ở thế giới của chư Thiên và loài người vị Bà-la-môn không còn vướng bận đang hành xử (bốn oai nghi). Vì thế, thưa bậc Toàn Nhãn, con xin kính lễ ngài. Thưa vị dòng Sakya, xin ngài hãy giải thoát cho con khỏi các mối nghi ngờ.”
5-4. (Đức Thế Tôn nói: “Này Dhotaka,) Ta sẽ không có khả năng về việc giúp cho giải thoát bất cứ người nào ở thế gian có nỗi nghi hoặc, này Dhotaka. Nhưng trong khi biết rõ Giáo Pháp tối thượng, như vậy ngươi có thể vượt qua dòng lũ này.”
5-5. (Tôn giả Dhotaka nói rằng:) “Thưa đấng Phạm Thiên, xin ngài hãy từ mẫn chỉ dạy pháp viễn ly để con có thể nhận thức được pháp ấy, theo đó, ví như hư không, không bị xáo trộn, con có thể sống ở chính nơi này, được an tịnh, không nương nhờ.”
5-6. (Đức Thế Tôn nói: “Này Dhotaka,) Ta sẽ giải thích cho ngươi về sự an tịnh, về pháp đã được thấy, không phải do nghe nói lại; sau khi hiểu pháp ấy, vị có niệm, trong khi sống, có thể vượt qua sự vướng mắc ở thế gian.”
5-7. (Tôn giả Dhotaka nói rằng:) “Và con thích thú về điều ấy, thưa bậc đại ẩn sĩ, về sự an tịnh tối thượng; sau khi hiểu pháp ấy, vị có niệm, trong khi sống, có thể vượt qua sự vướng mắc ở thế gian.”
5-8. (Đức Thế Tôn nói: “Này Dhotaka,) bất cứ điều gì mà ngươi tự mình nhận biết, ở bên trên, bên dưới, luôn cả bề ngang và khoảng giữa, sau khi hiểu điều này là ‘sự quyến luyến’ ở thế gian, ngươi chớ tạo ra tham ái ở hữu và phi hữu.”
Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Dhotaka .
6-1. (Tôn giả Upasīva nói rằng:) “Thưa vị dòng Sakya, một mình con, không nương tựa (nơi nào), con không có khả năng vượt qua dòng lũ lớn. Thưa bậc Toàn Nhãn, xin ngài hãy nói về đối tượng, được nương tựa vào nơi ấy, con có thể vượt qua dòng lũ này.”
6-2. (Đức Thế Tôn nói: “Này Upasīva,) trong khi xem xét về Vô Sở Hữu Xứ, có niệm, nương tựa vào (ý niệm) ‘không có gì,’ ngươi hãy vượt qua dòng lũ. Sau khi dứt bỏ các dục, đã xa lánh hẳn các điều nghi hoặc, ngươi hãy quán sát sự cạn kiệt của tham ái, đêm và ngày.”
6-3. (Tôn giả Upasīva nói rằng:): “Vị nào đã xa lìa sự luyến ái ở tất cả các dục, đã nương tựa vào Vô Sở Hữu Xứ sau khi từ bỏ pháp (chứng đắc) khác, [1] đã thiên về sự giải-thoát-do-tưởng cao nhất, phải chăng vị ấy có thể trụ lại ở nơi ấy, không đi tiếp nữa?”
[1] Pháp (chứng đắc) khác: nói đến sáu loại chứng đắc thấp hơn (SnA. ii, 593-594), tức là sự chứng đắc bốn tầng thiền Sắc Giới và hai tầng thiền Không Vô Biên Xứ và Thức Vô Biên Xứ thuộc Vô Sắc Giới (ND).
6-4. (Đức Thế Tôn nói: “Này Upasīva,) vị nào đã xa lìa sự luyến ái ở tất cả các dục, đã nương tựa vào Vô Sở Hữu Xứ sau khi từ bỏ pháp (chứng đắc) khác, đã thiên về sự giải-thoát-do-tưởng cao nhất, vị ấy có thể trụ lại ở nơi ấy, không đi tiếp nữa.”
6-5. (Tôn giả Upasīva nói rằng:) “Nếu vị ấy trụ lại ở nơi ấy, không đi tiếp nữa, thậm chí một số năm, thưa bậc Toàn Nhãn, ngay tại chỗ ấy, vị ấy có thể có sự mát mẻ, được giải thoát, có phải thức của vị thuộc hạng như thế ấy có thể diệt tắt?”
6-6. (Đức Thế Tôn nói: “Này Upasīva,) giống như ngọn lửa đã bị dập tắt bởi lực đẩy của làn gió, thời đi đến sự chấm dứt, không đạt đến danh xưng; tương tự như vậy, vị hiền trí đã được giải thoát khỏi danh thân (tập hợp các yếu tố thuộc về tâm) thời đi đến sự chấm dứt, không đạt đến danh xưng.
6-7. (Tôn giả Upasīva nói rằng:) “Có phải vị ấy đi đến sự chấm dứt hay vị ấy không có (hiện hữu), hay là vị ấy thật sự ở vào trạng thái trường tồn, vô bệnh? Thưa bậc hiền trí, xin ngài hãy giải thích tường tận điều ấy cho con, bởi vì pháp này đã được ngài biết đúng theo bản thể.”
6-8. (Đức Thế Tôn nói: “Này Upasīva,) đối với vị đã đi đến sự chấm dứt, thì không có sự ước lượng. Với điều nào người ta có thể nói về vị ấy, thì điều ấy không còn có đối với vị ấy. Khi tất cả các pháp đã được bứng lên hoàn toàn, ngay cả đường lối của lời nói cũng được bứng lên hoàn toàn.”
Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Upasīva .
(Tôn giả Nanda nói rằng:) “‘Các bậc hiền trí hiện hữu ở thế gian,’ dân chúng nói như thế; theo ngài, điều này (có ý nghĩa) thế nào? Họ nói người đã thành tựu về trí là bậc hiền trí, hay là người đã thực sự thành tựu về lối sống?”
7-2. (Đức Thế Tôn nói: “Này Nanda,) không phải do thấy, không phải do nghe, không phải do trí, mà các bậc thiện xảo ở nơi đây gọi là bậc hiền trí. Những người nào sau khi tiêu diệt đạo binh (ô nhiễm), sống không phiền muộn, không mong cầu, Ta nói rằng những người ấy là các bậc hiền trí.”
7-3. (Tôn giả Nanda nói rằng:) “Bất cứ những Sa-môn và Bà-la-môn nào nói rằng sự trong sạch là do thấy và do nghe, nói rằng sự trong sạch là do giới và phận sự, nói rằng sự trong sạch là do nhiều hình thức, có phải những vị ấy, thưa đức Thế Tôn, trong khi sống kiềm chế ở nơi ấy, họ đã vượt qua sanh và già, thưa ngài? Con hỏi ngài, thưa đức Thế Tôn, xin ngài hãy trả lời con về điều này.”
7-4. (Đức Thế Tôn nói: “Này Nanda,) bất cứ những vị Sa-môn và Bà-la-môn nào nói rằng sự trong sạch là do thấy và do nghe, nói rằng sự trong sạch là do giới và phận sự, nói rằng sự trong sạch là do nhiều hình thức, mặc dầu những vị ấy, trong khi sống kiềm chế ở nơi ấy, Ta nói rằng: ‘Họ đã không vượt qua sanh và già.’”
7-5. (Tôn giả Nanda nói rằng:) “Bất cứ những vị Sa-môn và Bà-la-môn nào nói rằng sự trong sạch là do thấy và do nghe, nói rằng sự trong sạch là do giới và phận sự, nói rằng sự trong sạch là do nhiều hình thức.
7-6. Thưa bậc hiền trí, nếu ngài nói những vị ấy là không vượt qua dòng lũ, vậy giờ đây, thưa ngài, người nào ở thế giới chư Thiên và nhân loại đã vượt qua sanh và già? Con hỏi ngài, thưa đức Thế Tôn, xin ngài hãy trả lời con về điều này.”
7-7. (Đức Thế Tôn nói: “Này Nanda,) Ta không nói rằng tất cả các vị Sa-môn và Bà-la-môn đều bị bao trùm bởi sanh và già. Ở đây, những vị nào đã dứt bỏ điều đã được thấy, hoặc đã được nghe, hoặc đã được cảm giác, hoặc thậm chí tất cả giới và phận sự, hoặc đã dứt bỏ mọi hình thức nhiều loại, đã biết toàn diện về tham ái, không còn lậu hoặc, Ta nói rằng ‘những con người ấy thật sự đã vượt qua dòng lũ.’”
7-8. (Tôn giả Nanda nói rằng:) “Thưa ngài Gotama, con thích thú lời nói này của bậc đại ẩn sĩ, đã khéo được trình bày, không liên quan đến mầm tái sanh. Ở đây, những vị nào đã dứt bỏ điều đã được thấy, hoặc đã được nghe, hoặc đã được cảm giác, hoặc thậm chí tất cả giới và phận sự, hoặc đã dứt bỏ mọi hình thức nhiều loại, đã biết toàn diện về tham ái, không còn lậu hoặc, con cũng nói rằng ‘những vị ấy đã vượt qua dòng lũ.’”
Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Nanda .
8-1. (Tôn giả Hemaka nói rằng:) “Những người nào trước đây đã giải thích cho con khác với lời dạy của Gotama (nói rằng): ‘Đã là như vầy, sẽ là như vầy,’ mọi điều ấy đều do nghe nói lại theo truyền thống, mọi điều ấy đều là sự tăng trưởng suy nghĩ, con không thích thú về điều ấy.
8-2. Và xin ngài hãy nói ra cho con về pháp diệt trừ tham ái, thưa bậc hiền trí; sau khi hiểu pháp ấy, con có niệm, trong khi sống, có thể vượt qua sự vướng mắc ở thế gian.”
8-3. “Ở đây, sự xua đi mong muốn và luyến ái ở các vật có vẻ đáng yêu đã được thấy, đã được nghe, đã được cảm giác, đã được nhận thức, này Hemaka, là vị thế Niết Bàn, Bất Hoại.
8-4. Sau khi hiểu thông điều này, những người nào có niệm, đã nhận thức được Giáo Pháp, đã được diệt tắt, và những người ấy luôn luôn yên tịnh, họ đã vượt qua sự vướng mắc ở thế gian.”
Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Hemaka .
9-1. (Tôn giả Todeyya nói rằng:) “Ở người nào các dục không sinh tồn, đối với người nào tham ái không tìm thấy, và người nào đã vượt qua các nỗi nghi hoặc, sự giải thoát của người ấy là như thế nào?”
9-2. (Đức Thế Tôn nói: “Này Todeyya,) ở người nào các dục không sinh tồn, đối với người nào tham ái không tìm thấy, và người nào đã vượt qua các nỗi nghi hoặc, đối với người ấy không có sự giải thoát nào khác nữa.”
9-3. “Vị ấy không còn mong ước, hay là (vị ấy) đang mong ước? Vị ấy có tuệ hay là có sự sắp đặt nhờ vào tuệ? Thưa vị dòng Sakya, để cho con có thể nhận biết về vị hiền trí, thưa bậc Toàn Nhãn, xin ngài hãy nói rõ điều ấy cho con.”
9-4. “Vị ấy không còn mong ước, vị ấy không mong ước. Vị ấy có tuệ và không có sự sắp đặt nhờ vào tuệ. Này Todeyya, ngươi hãy nhận biết về vị hiền trí là như vậy, là vị không còn vướng bận, không bị dính mắc ở dục và hữu.”
Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Todeyya .
10-1. (Tôn giả Kappa nói rằng:) “Thưa ngài, xin ngài hãy nói về hòn đảo cho những người đang bị chế ngự bởi sanh và tử, cho những người đang đứng giữa hồ nước, ở dòng lũ có sự nguy hiểm lớn đã được sanh ra. Và xin ngài hãy nói ra cho con về hòn đảo để cho cái (khổ) khác giống như cái (khổ) này không thể xảy ra.”
10-2. (Đức Thế Tôn nói: “Này Kappa,) Ta sẽ nói với ngươi về hòn đảo cho những người đang bị chế ngự bởi sanh và tử, cho những người đang đứng giữa hồ nước, ở dòng lũ có sự nguy hiểm lớn đã được sanh ra, này Kappa.
10-3. Hòn đảo này là không vướng bận, không nắm giữ, không có cái nào khác, Ta gọi cái ấy là ‘Niết Bàn,’ sự đoạn diệt hoàn toàn sanh và tử.
10-4. Sau khi hiểu thông điều này, những người nào có niệm, đã nhận thức được Giáo Pháp, đã được diệt tắt, những người ấy không đi theo quyền lực của Ma Vương, những người ấy không là nô bộc của Ma Vương.”
Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Kappa.
11-1. (Tôn giả Jatukaṇṇī nói rằng:) “Thưa bậc anh hùng, sau khi con nghe về vị không có ham muốn các dục, con đã đi đến để hỏi vị đã vượt qua dòng lũ, không có ham muốn. Thưa bậc có nhãn quan (trí Toàn Giác) đã được đồng sanh, xin ngài hãy nói về vị thế an tịnh. Thưa đức Thế Tôn, xin ngài hãy nói cho con về điều này đúng theo sự thật.
11-2. Bởi vì sau khi đã chế ngự các dục, đức Thế Tôn hành xử (các oai nghi) ví như thái dương có sức nóng (chế ngự) trái đất bằng sức nóng. Thưa bậc có tuệ bao la, đối với con là người có tuệ nhỏ nhoi, xin ngài hãy chỉ bảo về Giáo Pháp để con có thể nhận thức sự lìa bỏ đối với sanh và già ở nơi đây.”
11-3. (Đức Thế Tôn nói: “Này Jatukaṇṇī,) ngươi hãy dẹp bỏ sự thèm khát ở các dục để nhìn thấy sự xuất ly là an toàn. Dầu đã được nắm bắt hay đã được vứt bỏ, sự vướng bận chớ có hiện diện đối với ngươi.
11-4. Điều (ô nhiễm) nào trước đây (quá khứ), ngươi hãy làm khô héo điều ấy. Chớ có bất cứ điều (ô nhiễm) gì sanh khởi đến ngươi sau này (vị lai). Nếu ngươi sẽ không nắm lấy (điều gì) ở khoảng giữa (hiện tại), ngươi sẽ sống, được an tịnh.
11-5. Này Bà-la-môn, đối với vị đã xa lìa sự thèm khát ở danh và sắc về mọi phương diện, đối với vị này các lậu hoặc không hiện hữu, bởi vì chúng, con người rơi vào sự thống trị của Tử thần.”
Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Jatukaṇṇī .
12-1. (Tôn giả Bhadrāvudha nói rằng:) “Con khẩn cầu bậc khôn ngoan, bậc từ bỏ chỗ trú ngụ, bậc cắt đứt tham ái, bậc không còn dục vọng, bậc từ bỏ niềm vui, bậc đã vượt qua dòng lũ, bậc đã được giải thoát, bậc từ bỏ sự sắp đặt (do tham ái và tà kiến). Sau khi lắng nghe bậc Long Tượng, từ đây họ sẽ ra đi.
12-2. Trong khi mong mỏi lời nói của Ngài, thưa bậc anh hùng, vô số người từ các xứ sở đã tụ hội lại. Xin Ngài hãy khéo léo giải thích cho họ, bởi vì pháp này đã được Ngài biết đúng theo bản thể.”
12-3. (Đức Thế Tôn nói: “Này Bhadrāvudha,) nên dẹp bỏ mọi sự nắm giữ và tham ái ở bên trên, bên dưới, luôn cả bề ngang và khoảng giữa. Bởi vì, mỗi một điều gì họ chấp thủ ở thế gian, do chính điều ấy Ma Vương theo đuổi loài người.
12-4. Bởi vậy, trong khi nhận biết, vị tỳ khưu, có niệm, không nên chấp thủ bất cứ điều gì ở khắp thế gian, trong khi xem xét chúng sanh bị dính mắc ở sự nắm giữ, nhân loại này bị vướng mắc ở lãnh địa của Thần Chết.”
Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Bhadrāvudha .
13-1. (Tôn giả Udaya nói rằng:) “Với ý định (hỏi) câu hỏi, con đã đi đến bậc có thiền chứng, không còn bụi bặm, đang ngồi, bậc đã làm xong phận sự, không còn lậu hoặc, đã đi đến bờ kia của tất cả các pháp, xin ngài hãy nói về sự giải thoát do trí giác ngộ, về sự phá vỡ vô minh.
13-2. (Đức Thế Tôn nói: “Này Udaya,) sự dứt bỏ đối với những mong muốn về dục và những nỗi ưu phiền, cả hai loại, việc xua đi sự dã dượi, và việc che lấp các trạng thái hối hận.
13-3. Ta nói về sự giải thoát do trí giác ngộ, về sự phá vỡ vô minh có xả và niệm hoàn toàn trong sạch, có sự suy tầm đúng pháp đi trước.”
13-4. (Tôn giả Udaya nói rằng:) “Thế gian có cái gì là sự ràng buộc? Cái gì, đối với nó, là phương tiện xem xét? Do lìa bỏ cái gì được gọi là ‘Niết Bàn’?”
13-5. (Đức Thế Tôn nói: “Này Udaya,) Thế gian có vui thích là sự ràng buộc. Suy tầm, đối với nó, là phương tiện xem xét. Do lìa bỏ tham ái được gọi là ‘Niết Bàn.’”
13-6. (Tôn giả Udaya nói rằng:) “Như thế nào đối với vị có niệm, trong lúc thực hành, thức (của vị ấy) được đình chỉ? Chúng con đã đi đến để hỏi đức Thế Tôn, hãy cho chúng con nghe lời nói ấy của Ngài.”
13-7. “Đối với vị không thích thú cảm thọ ở nội phần và ngoại phần, đối với vị có niệm như vậy, trong lúc thực hành, thức (của vị ấy) được đình chỉ.”
Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Udaya .
14-1. (Tôn giả Posāla nói rằng:) “Với ý định (hỏi) câu hỏi, con đã đi đến gặp bậc đã ngự đến bờ kia của tất cả các pháp, vị chỉ ra thời quá khứ, không còn dục vọng, đã cắt đứt sự nghi ngờ.
14-2. Đối với vị có sắc tưởng đã không còn, có sự dứt bỏ toàn bộ về thân, đang nhìn thấy nội phần và ngoại phần là ‘không có gì,’ thưa vị dòng Sakya, con hỏi thêm về trí (của vị ấy); vị thuộc hạng như thế ấy nên được hướng dẫn thế nào?”
14-3. (Đức Thế Tôn nói: “Này Posāla,) trong khi biết rõ tất cả các chỗ trú của thức, đức Như Lai biết vị ấy đang trú (ở đâu), bị thiên về (điều gì), có điều ấy là mục tiêu.
14-4. Sau khi biết được nguồn sanh khởi của Vô Sở Hữu, (biết được) rằng: ‘sự ràng buộc bởi vui thích,’ sau khi biết rõ điều ấy như vậy, từ đó nhìn thấy rõ nơi ấy; đây là trí như thật của vị ấy, của vị Bà-la-môn đã sống hoàn hảo.”
Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Posāla.
.
15-1. (Tôn giả Mogharāja nói rằng:) “Con đã hỏi vị dòng Sakya hai lần. Bậc Hữu Nhãn đã không giải đáp cho con. Và con đã được nghe rằng: ‘(Được hỏi) đến lần thứ ba, bậc Thiên Nhân Ẩn Sĩ (sẽ) giải đáp.’
15-2. Thế giới này, thế giới khác, thế giới Phạm Thiên luôn cả chư Thiên không (thể) biết rõ quan điểm của Ngài, của vị Gotama có danh tiếng.
15-3. Con đã đi đến bậc có nhãn quan vượt trội như vậy với ý định (hỏi) câu hỏi: Người đang xem xét thế gian như thế nào thì Tử Thần không nhìn thấy (người ấy)?”
Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Mogharāja .
Dứt Câu Hỏi Của Thanh Niên Piṅgiya .
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tiểu Diễn Giải (Cūḷaniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Ajitamāṇavapucchā
1. The Questions of Ajita
1. Câu Hỏi Của Thanh Niên Ajita
57.
57.
57.
‘‘Kenassu nivuto loko, [iccāyasmā ajito]
Kenassu nappakāsati;
Kissābhilepanaṃ brūsi, kiṃsu tassa mahabbhayaṃ’’.
“By what is the world shrouded? [thus asked the venerable Ajita] By what does it not shine? What do you say is its defilement? What is its great fear?”
(Tôn giả Ajita hỏi): “Thế gian bị cái gì che đậy? Do đâu thế gian không sáng tỏ? Ngài nói cái gì là sự thoa phết của nó, và cái gì là nỗi sợ hãi lớn của nó?”
58.
58.
58.
‘‘Avijjāya nivuto loko, [ajitāti bhagavā]
Vevicchā pamādā nappakāsati;
Jappābhilepanaṃ brūmi, dukkhamassa mahabbhayaṃ’’.
“The world is shrouded by ignorance, [O Ajita, said the Blessed One,] due to stinginess and negligence, it does not shine. I say craving is its defilement, and suffering is its great fear.”
(Đức Thế Tôn đáp): “Này Ajita, thế gian bị vô minh che đậy. Do keo kiệt và dể duôi, nó không sáng tỏ. Ta nói rằng tham ái là sự thoa phết, và khổ là nỗi sợ hãi lớn của nó.”
59.
59.
59.
‘‘Savanti sabbadhi sotā, [iccāyasmā ajito]
Sotānaṃ kiṃ nivāraṇaṃ;
Sotānaṃ saṃvaraṃ brūhi, kena sotā pidhiyyare’’.
“Streams flow everywhere; [thus asked the venerable Ajita] what is the obstruction for the streams? Tell me the restraint for the streams; by what are the streams shut off?”
(Tôn giả Ajita hỏi): “Các dòng chảy (phiền não) tuôn khắp mọi nơi. Cái gì là sự ngăn chận các dòng chảy ấy? Xin hãy nói về sự chế ngự các dòng chảy, do đâu các dòng chảy được bít lại?”
60.
60.
60.
‘‘Yāni sotāni lokasmiṃ, [ajitāti bhagavā]
Sati tesaṃ nivāraṇaṃ;
Sotānaṃ saṃvaraṃ brūmi, paññāyete pidhiyyare’’.
“Whatever streams there are in the world, [O Ajita, said the Blessed One,] mindfulness is their obstruction. I declare the restraint for the streams: by wisdom they are shut off.”
(Đức Thế Tôn đáp): “Này Ajita, đối với các dòng chảy nào có trong thế gian, niệm là sự ngăn chận chúng. Ta nói rằng đó là sự chế ngự các dòng chảy; chúng được bít lại bởi trí tuệ.”
61.
61.
61.
‘‘Paññā ceva sati cāpi †, [iccāyasmā ajito]
Nāmarūpañca mārisa;
“Wisdom and mindfulness, [thus asked the venerable Ajita] and name-and-form, O venerable sir;
(Tôn giả Ajita hỏi): “Thưa Ngài, có trí tuệ, niệm, và cả danh và sắc;
Etaṃ me puṭṭho pabrūhi, katthetaṃ uparujjhati’’.
this I ask you, please declare: wherein does this cease without remainder?”
Khi được con hỏi, xin Ngài hãy nói cho con điều này: Chúng diệt tận ở đâu?”
62.
62.
62.
‘‘Yametaṃ pañhaṃ apucchi, ajita taṃ vadāmi te;
Yattha nāmañca rūpañca, asesaṃ uparujjhati;
Viññāṇassa nirodhena, etthetaṃ uparujjhati’’.
“That question which you asked, Ajita, I shall declare to you: where name and form cease without remainder; through the cessation of consciousness, it is there that this ceases.”
(Đức Thế Tôn đáp): “Này Ajita, câu hỏi mà ngươi đã hỏi, Ta sẽ trả lời cho ngươi: Nơi nào danh và sắc diệt tận không còn dư sót; do sự diệt của thức, chúng diệt tận tại nơi ấy.”
63.
63.
63.
‘‘Ye ca saṅkhātadhammāse, ye ca sekhā † puthū idha;
Tesaṃ me nipako iriyaṃ, puṭṭho pabrūhi mārisa’’.
“Of those who have comprehended the Dhamma, and the many trainees here, being asked, O wise one, declare to me their conduct, O venerable sir.”
“Thưa Ngài, những vị đã liễu tri các pháp và những vị hữu học, có rất nhiều ở đây. Thưa bậc trí tuệ, khi được con hỏi, xin hãy nói cho con về hạnh kiểm của họ.”
64.
64.
64.
‘‘Kāmesu nābhigijjheyya, manasānāvilo siyā;
Kusalo sabbadhammānaṃ, sato bhikkhu paribbaje’’ti.
“He should not be greedy for sensual pleasures; his mind should be unagitated. Skilled in all phenomena, a mindful bhikkhu should wander.”
“Vị ấy không nên tham đắm các dục, tâm không bị vẩn đục. Vị ấy thiện xảo trong tất cả các pháp, là một vị Tỳ khưu chánh niệm, nên du hành (như vậy).”
Ajitamāṇavapucchā paṭhamā.
The First Question of the Youth Ajita.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Ajita, Phần Thứ Nhất.
2. Tissametteyyamāṇavapucchā
2. The Question of the Brahmin Youth Tissametteyya
2. Câu Hỏi Của Thanh Niên Tissa Metteyya
65.
65.
65.
‘‘Kodha santusito loke, [iccāyasmā tissametteyyo]
Kassa no santi iñjitā;
Ko ubhantamabhiññāya, majjhe mantā na lippati †;
Kaṃ brūsi mahāpurisoti, ko idha sibbinimaccagā’’ti †.
2. “Who in this world is contented? [thus asked the venerable Tissametteyya] For whom are there no agitations? Who, having directly known both ends, is not defiled by wisdom in the middle? Whom do you call a great person? Who here has overcome the seamstress, craving?”
(Tôn giả Tissa Metteyya hỏi): “Ai là người tri túc trong thế gian này? Ai là người không có những dao động? Ai là người sau khi liễu tri hai cực đoan, không bị dính mắc ở khoảng giữa bởi trí tuệ? Ngài gọi ai là bậc vĩ nhân? Ai ở đây đã vượt qua được người thợ may (tham ái)?”
66.
66.
66.
‘‘Kāmesu brahmacariyavā, [metteyyāti bhagavā]
Vītataṇho sadā sato;
Saṅkhāya nibbuto bhikkhu, tassa no santi iñjitā.
“The bhikkhu who lives the holy life in regard to sensual pleasures, [Metteyya, said the Blessed One,] who is free from craving and always mindful; having discerned, he is extinguished. For him, there are no agitations.”
(Đức Thế Tôn đáp): “Này Metteyya, vị Tỳ khưu nào sống phạm hạnh trong các dục, vị ấy là người tri túc. Vị Tỳ khưu đã đoạn tận ái dục, luôn chánh niệm, sau khi thẩm sát đã được tịch tịnh, vị ấy không có những dao động.”
67.
67.
67.
‘‘So ubhantamabhiññāya, majjhe mantā na lippati;
Taṃ brūmi mahāpurisoti, so idha sibbinimaccagā’’ti.
“He, having directly known both ends, is not defiled by wisdom in the middle. Him I call a great person; he here has overcome the seamstress, craving.”
“Vị ấy, sau khi liễu tri hai cực đoan, không bị dính mắc ở khoảng giữa bởi trí tuệ. Ta gọi vị ấy là bậc vĩ nhân. Vị ấy ở đây đã vượt qua được người thợ may (tham ái).”
Tissametteyyamāṇavapucchā dutiyā.
The Second Question of the Youth Tissametteyya.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Tissa Metteyya, Phần Thứ Hai.
3. Puṇṇakamāṇavapucchā
3. The Question of the Brahmin Youth Puṇṇaka
3. Câu Hỏi Của Thanh Niên Puṇṇaka
68.
68.
68.
‘‘Anejaṃ mūladassāviṃ, [iccāyasmā puṇṇako]
Atthi pañhena āgamaṃ;
Kiṃ nissitā isayo manujā, khattiyā brāhmaṇā devatānaṃ;
Yaññamakappayiṃsu puthūdha loke, pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ’’.
“To the one who is unperturbed, the seer of the root, [thus said the venerable Puṇṇaka] I have come with a question. Dependent on what did the seers, humans, khattiyas, and brahmins perform many sacrifices to the gods here in this world? I ask you this, O Blessed One; please declare it to me.”
(Tôn giả Puṇṇaka hỏi): “Con đã đến với một câu hỏi, đến với bậc không còn dao động, bậc đã thấy được cội rễ. Nương tựa vào điều gì mà các ẩn sĩ, con người, các vị Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn ở thế gian này đã thực hiện nhiều lễ tế thần? Con xin hỏi Ngài điều đó, thưa Đức Thế Tôn, xin hãy nói cho con.”
69.
69.
69.
‘‘Ye kecime isayo manujā, [puṇṇakāti bhagavā]
Khattiyā brāhmaṇā devatānaṃ;
Yaññamakappayiṃsu puthūdha loke, āsīsamānā puṇṇaka itthattaṃ;
Jaraṃ sitā yaññamakappayiṃsu’’.
3. “Whoever the seers, humans, khattiyas, and brahmins were, [Puṇṇaka, said the Blessed One,] who performed many sacrifices to the gods here in this world, they performed those sacrifices desiring this or that state of existence. Dependent on old age, they performed those sacrifices.”
(Đức Thế Tôn đáp): “Này Puṇṇaka, bất cứ ẩn sĩ, con người, Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn nào đã thực hiện nhiều lễ tế thần ở thế gian này, họ làm vậy, này Puṇṇaka, vì mong cầu một sự hiện hữu nào đó. Nương tựa vào già, họ đã thực hiện các lễ tế.”
70.
70.
70.
‘‘Ye kecime isayo manujā, [iccāyasmā puṇṇako]
Khattiyā brāhmaṇā devatānaṃ;
Yaññamakappayiṃsu puthūdha loke, kaccisu te bhagavā yaññapathe appamattā;
Atāruṃ jātiñca jarañca mārisa, pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ’’.
Those seers, humans, khattiyas, and brahmins who performed many sacrifices to the gods here in this world—[thus said the venerable Puṇṇaka]—were they, O Blessed One, heedful on the path of sacrifice? Did they cross over birth and aging, O venerable sir? I ask you this, O Blessed One; please declare it to me.
(Tôn giả Puṇṇaka hỏi): “Bất cứ ẩn sĩ, con người, Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn nào đã thực hiện nhiều lễ tế thần ở thế gian này, thưa Đức Thế Tôn, phải chăng họ, những người không dể duôi trên con đường tế lễ, đã vượt qua được sanh và già, thưa Ngài? Con xin hỏi Ngài điều đó, thưa Đức Thế Tôn, xin hãy nói cho con.”
71.
71.
71.
‘‘Āsīsanti thomayanti, abhijappanti juhanti; [Puṇṇakāti bhagavā]
Kāmābhijappanti paṭicca lābhaṃ, te yājayogā bhavarāgarattā;
Nātariṃsu jātijaranti brūmi’’.
They desire, they praise, they utter words of longing, they sacrifice; [Puṇṇaka, said the Blessed One], on account of gain, they repeatedly utter words of longing for sensual pleasures. Those devoted to sacrifice, impassioned with the lust for becoming, have not crossed beyond birth and aging, I say.
(Đức Thế Tôn đáp): “Họ mong cầu, họ tán thán, họ ao ước, họ cúng dường; họ ao ước các dục vọng duyên theo lợi lộc. Những người chuyên tâm tế lễ ấy, bị ái nhiễm trong hữu ái, Ta nói rằng họ đã không vượt qua được sanh và già.”
72.
72.
72.
‘‘Te ce nātariṃsu yājayogā, [iccāyasmā puṇṇako]
Yaññehi jātiñca jarañca mārisa;
Atha ko carahi devamanussaloke, atāri jātiñca jarañca mārisa;
Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ’’.
If those devoted to sacrifice have not crossed over birth and aging by means of sacrifices, Venerable Sir, [thus spoke the Venerable Puṇṇaka], then who indeed in the world of gods and humans has crossed over birth and aging, Venerable Sir? I ask you, Blessed One, tell me this.
(Tôn giả Puṇṇaka hỏi): “Thưa Ngài, nếu những người chuyên tâm tế lễ ấy đã không vượt qua được sanh và già bằng các lễ tế, vậy thì, thưa Ngài, ai trong thế giới của chư thiên và loài người đã vượt qua được sanh và già? Con xin hỏi Ngài điều đó, thưa Đức Thế Tôn, xin hãy nói cho con.”
73.
73.
73.
‘‘Saṅkhāya lokasmi paroparāni, [puṇṇakāti bhagavā]
Yassiñjitaṃ natthi kuhiñci loke;
Santo vidhūmo anīgho nirāso, atāri so jātijaranti brūmī’’ti.
Having comprehended with wisdom the high and low in the world, [Puṇṇaka, said the Blessed One], for whom there is no agitation anywhere in the world—peaceful, smokeless, untroubled, without longing—that one has crossed over birth and aging, I say.
(Đức Thế Tôn đáp): “Này Puṇṇaka, người nào trong thế gian, sau khi đã thẩm sát các pháp cao thấp, không còn dao động ở bất cứ đâu trong thế gian; người ấy tịch tịnh, không còn khói (phiền não), không còn phiền muộn, không còn hy vọng. Ta nói rằng người ấy đã vượt qua được sanh và già.”
Puṇṇakamāṇavapucchā tatiyā.
The Third Question, of the young man Puṇṇaka, is concluded.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Puṇṇaka, Phần Thứ Ba.
4. Mettagūmāṇavapucchā
4. The Question of the Brahmin Youth Mettagū
4. Câu Hỏi Của Thanh Niên Mettagū
74.
74.
74.
‘‘Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ, [iccāyasmā mettagū]
Maññāmi taṃ vedaguṃ bhāvitattaṃ;
Kuto nu dukkhā samudāgatā ime, ye keci lokasmimanekarūpā’’.
4. I ask you, Blessed One, tell me this, [thus spoke the Venerable Mettagū]. I consider you one who has attained ultimate knowledge, one with a developed self. From where have they arisen, these sufferings of many forms that are in the world?
(Tôn giả Mettagū hỏi): “Con xin hỏi Ngài, thưa Đức Thế Tôn, xin hãy nói cho con điều này. Con xem Ngài là bậc thông đạt (Veda), bậc đã tu tập tự thân. Những khổ đau này, bất cứ loại nào có nhiều hình thức trong thế gian, chúng từ đâu mà phát sanh?”
75.
75.
75.
‘‘Dukkhassa ve maṃ pabhavaṃ apucchasi, [mettagūti bhagavā]
Taṃ te pavakkhāmi yathā pajānaṃ;
Upadhinidānā pabhavanti dukkhā, ye keci lokasmimanekarūpā.
You have asked me about the origin of suffering, [Mettagū, said the Blessed One], and I will declare it to you as I know it. Whatever sufferings of many forms there are in the world, they arise with acquisition as their cause.
(Đức Thế Tôn đáp): “Này Mettagū, ngươi đã hỏi Ta về nguồn gốc của khổ. Ta sẽ giảng cho ngươi điều đó như Ta đã biết. Bất cứ khổ đau nào có nhiều hình thức trong thế gian, chúng phát sanh đều có sanh y làm nhân.”
76.
76.
76.
‘‘Yo ve avidvā upadhiṃ karoti, punappunaṃ dukkhamupeti mando;
Tasmā pajānaṃ upadhiṃ na kayirā, dukkhassa jātippabhavānupassī’’.
Whoever, being ignorant, creates an acquisition, that foolish person encounters suffering again and again. Therefore, one who knows, seeing the origin of the birth of suffering, should not create an acquisition.
“Người nào do vô minh mà tạo ra sanh y, kẻ ngu si ấy lại đi vào đau khổ hết lần này đến lần khác. Do đó, người có trí, thấy được sanh y là nguồn gốc của khổ, không nên tạo ra sanh y.”
77.
77.
77.
‘‘Yaṃ taṃ apucchimha akittayī no, aññaṃ taṃ pucchāma tadiṅgha brūhi;
‘Kathaṃ nu dhīrā vitaranti oghaṃ, jātiṃ jaraṃ sokapariddavañca’;
Taṃ me muni sādhu viyākarohi, tathā hi te vidito esa dhammo’’.
That which we asked you, you have declared to us. We will ask you another thing; come, tell us this: ‘How do the wise cross over the flood—birth and aging, sorrow and lamentation?’ Explain that well to me, O Sage, for this Dhamma is truly known to you.
“Điều mà chúng con đã hỏi, Ngài đã tuyên thuyết cho chúng con rồi. Chúng con xin hỏi Ngài điều khác, xin Ngài hãy nói điều ấy: ‘Làm thế nào bậc hiền trí vượt qua bộc lưu, sanh, già, sầu và bi?’ Kính bạch bậc Mâu-ni, xin Ngài hãy khéo giải thích điều ấy cho con, vì rằng pháp ấy đã được Ngài biết rõ như vậy.”
78.
78.
78.
‘‘Kittayissāmi te dhammaṃ, [mettagūti bhagavā]
Diṭṭhe dhamme anītihaṃ;
Yaṃ viditvā sato caraṃ, tare loke visattikaṃ’’.
I will declare the Dhamma to you, [Mettagū, said the Blessed One], directly visible, not based on hearsay; having known which, one who fares mindfully can cross beyond attachment in the world.
(Thế Tôn phán:) “Này Mettagū, Ta sẽ tuyên thuyết pháp cho ngươi, pháp được thấy trong hiện tại, không phải là lời truyền khẩu; người nào biết pháp ấy, sống chánh niệm, có thể vượt qua sự dính mắc trong thế gian.”
79.
79.
79.
‘‘Tañcāhaṃ abhinandāmi, mahesi dhammamuttamaṃ;
Yaṃ viditvā sato caraṃ, tare loke visattikaṃ’’.
And I rejoice in that, O Great Sage, the supreme Dhamma; having known which, one who fares mindfully can cross beyond attachment in the world.
“Kính bạch bậc Đại sĩ, con xin hoan hỷ pháp tối thượng ấy; người nào biết pháp ấy, sống chánh niệm, có thể vượt qua sự dính mắc trong thế gian.”
80.
80.
80.
‘‘Yaṃ kiñci sampajānāsi, [mettagūti bhagavā]
Uddhaṃ adho tiriyañcāpi majjhe;
Etesu nandiñca nivesanañca, panujja viññāṇaṃ bhave na tiṭṭhe.
Whatever you clearly perceive, [Mettagū, said the Blessed One], above, below, across, and in the middle—having dispelled delight and adherence in regard to these, consciousness should not be established in existence.
(Thế Tôn phán:) “Này Mettagū, bất cứ điều gì ngươi nhận biết, ở trên, ở dưới, và cả ở ngang, ở giữa; đối với những thứ này, hãy loại bỏ sự hoan hỷ và sự an trú, hãy xua tan thức, chớ có an trú trong các cõi hữu.”
81.
81.
81.
‘‘Evaṃvihārī sato appamatto, bhikkhu caraṃ hitvā mamāyitāni;
Jātiṃ jaraṃ sokapariddavañca, idheva vidvā pajaheyya dukkhaṃ’’.
A bhikkhu dwelling thus, mindful and diligent, faring on, having abandoned things held as 'mine,' should, having known, abandon suffering—birth, aging, sorrow, and lamentation—right in this very existence.
“Vị Tỳ khưu sống như vậy, chánh niệm, không buông lung, trong khi hành trì, từ bỏ những gì là ‘của ta’; bậc trí ngay tại đây có thể từ bỏ sanh, già, sầu, bi, và khổ đau.”
82.
82.
82.
‘‘Etābhinandāmi vaco mahesino, sukittitaṃ gotamanūpadhīkaṃ;
Addhā hi bhagavā pahāsi dukkhaṃ, tathā hi te vidito esa dhammo.
I greatly delight in this word of the great seer, well-proclaimed by Gotama, concerning the state without acquisitions. Truly, O Blessed One, you have abandoned suffering; for in such a way is this Dhamma known by you.
“Con xin hoan hỷ lời dạy này của bậc Đại sĩ, được khéo tuyên thuyết, này Gotama, về trạng thái không còn sanh y. Chắc chắn rằng Thế Tôn đã từ bỏ khổ đau, vì rằng pháp ấy đã được Ngài biết rõ như vậy.”
83.
83.
83.
‘‘Te cāpi nūnappajaheyyu dukkhaṃ, ye tvaṃ muni aṭṭhitaṃ ovadeyya;
Taṃ taṃ namassāmi samecca nāga, appeva maṃ bhagavā aṭṭhitaṃ ovadeyya’’.
Surely they too would abandon suffering, those whom you, O sage, would steadfastly advise. Therefore, O Nāga, having approached, I pay homage to you. Perhaps the Blessed One might steadfastly advise me.
“Chắc chắn những vị ấy cũng sẽ từ bỏ khổ đau, những vị mà Ngài, bậc Mâu-ni, kiên trì giáo huấn. Con đến gần và đảnh lễ Ngài, bậc Long Tượng; mong rằng Thế Tôn cũng sẽ kiên trì giáo huấn cho con.”
84.
84.
84.
‘‘Yaṃ brāhmaṇaṃ vedagumābhijaññā, akiñcanaṃ kāmabhave asattaṃ;
Addhā hi so oghamimaṃ atāri, tiṇṇo ca pāraṃ akhilo akaṅkho.
Whomever one should know as a brahmin, a master of knowledge, one with no impediments, unattached to sensual existence—truly, he has crossed this flood. Having crossed to the far shore, he is without defect, without doubt.
“Ngươi nên biết vị Bà-la-môn, bậc thông đạt Vệ-đà, là người vô sở hữu, không dính mắc trong cõi dục. Chắc chắn vị ấy đã vượt qua bộc lưu này, đã qua đến bờ kia, không còn phiền não, không còn nghi hoặc.”
85.
85.
85.
‘‘Vidvā ca yo vedagū naro idha, bhavābhave saṅgamimaṃ visajja;
So vītataṇho anīgho nirāso, atāri so jātijaranti brūmī’’ti.
And whatever person here is a wise one, a master of knowledge, having abandoned this attachment to existences great and small, he is free from craving, free from suffering, free from desire. He has crossed over birth and aging, thus I declare.
“Và người nào ở đây là bậc trí, bậc thông đạt Vệ-đà, từ bỏ sự dính mắc này trong các cõi hữu, vị ấy không còn tham ái, không còn phiền muộn, không còn mong cầu. Ta nói rằng, vị ấy đã vượt qua sanh và già.”
Mettagūmāṇavapucchā catutthī.
The Fourth Question, of the young man Mettagū, is concluded.
Câu hỏi của thanh niên Mettagū, (phần) thứ tư.
5. Dhotakamāṇavapucchā
5. The Question of the Brahmin Youth Dhotaka
5. Câu hỏi của thanh niên Dhotaka
86.
86.
86.
‘‘Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ, [iccāyasmā dhotako]
Vācābhikaṅkhāmi mahesi tuyhaṃ;
Tava sutvāna nigghosaṃ, sikkhe nibbānamattano’’.
I ask you, O Blessed One, please tell me this. [Thus asked the venerable Dhotaka.] I long for your speech, O great seer. Having heard your proclamation, I shall train for my own Nibbāna.
(Trưởng lão Dhotaka thưa rằng:) “Kính bạch Thế Tôn, con xin hỏi Ngài, xin Ngài hãy nói điều ấy cho con. Kính bạch bậc Đại sĩ, con mong mỏi lời dạy của Ngài. Sau khi nghe được âm thanh (lời dạy) của Ngài, con sẽ học tập vì sự tịch tịnh của chính mình.”
87.
87.
87.
‘‘Tenahātappaṃ karohi, [dhotakāti bhagavā]
Idheva nipako sato;
Ito sutvāna nigghosaṃ, sikkhe nibbānamattano’’.
5. Then, O Dhotaka, [said the Blessed One,] you should make an effort. Right here, being discerning and mindful, having heard the proclamation from here, you should train for your own Nibbāna.
(Thế Tôn phán:) “Này Dhotaka, vậy thì hãy tinh tấn. Ngay tại đây, hãy là người trí tuệ, có chánh niệm. Sau khi nghe âm thanh (lời dạy) từ Ta, ngươi hãy học tập vì sự tịch tịnh của chính mình.”
88.
88.
88.
‘‘Passāmahaṃ devamanussaloke, akiñcanaṃ brāhmaṇamiriyamānaṃ;
Taṃ taṃ namassāmi samantacakkhu, pamuñca maṃ sakka kathaṃkathāhi’’.
I see in the world of devas and humans a brahmin faring on, one with no impediments. Therefore, O one with the all-around eye, I pay homage to you. O Sakyan, release me from my doubts.
“Con thấy ở trong cõi trời và cõi người, một vị Bà-la-môn vô sở hữu đang đi lại. Con xin đảnh lễ Ngài, bậc Toàn Giác. Kính bạch đấng Thích Ca, xin hãy giải thoát con khỏi những nghi hoặc.”
89.
89.
89.
‘‘Nāhaṃ sahissāmi pamocanāya, kathaṃkathiṃ dhotaka kañci loke;
Dhammañca seṭṭhaṃ abhijānamāno †, evaṃ tuvaṃ oghamimaṃ taresi’’.
I am not able, O Dhotaka, to liberate anyone in the world from doubt. But by directly knowing the excellent Dhamma, in this way you may cross this flood.
“Này Dhotaka, Ta không thể giải thoát bất kỳ ai trong thế gian khỏi sự nghi hoặc. Nhưng khi tự mình biết rõ pháp tối thượng, như vậy ngươi sẽ vượt qua bộc lưu này.”
90.
90.
90.
‘‘Anusāsa brahme karuṇāyamāno, vivekadhammaṃ yamahaṃ vijaññaṃ;
Yathāhaṃ ākāsova abyāpajjamāno, idheva santo asito careyyaṃ’’.
O supreme one, being compassionate, please instruct me regarding the Dhamma of seclusion, so that I may know it. That I, like the sky, being undisturbed, may fare on right here, independent.
“Kính bạch bậc Phạm Thiên, xin Ngài vì lòng bi mẫn mà giáo huấn về pháp viễn ly mà con có thể biết được; để con, giống như hư không, không bị phiền não, sống ngay tại đây, không bị lệ thuộc, và có thể hành trì.”
91.
91.
91.
‘‘Kittayissāmi te santiṃ, [dhotakāti bhagavā]
Diṭṭhe dhamme anītihaṃ;
Yaṃ viditvā sato caraṃ, tare loke visattikaṃ’’.
I shall proclaim to you peace, [O Dhotaka, said the Blessed One,] which is in this visible life, not based on hearsay. Having known which, one who fares on mindfully may cross over attachment in the world.
(Thế Tôn phán:) “Này Dhotaka, Ta sẽ tuyên thuyết cho ngươi về sự an tịnh, được thấy trong hiện tại, không phải là lời truyền khẩu; người nào biết pháp ấy, sống chánh niệm, có thể vượt qua sự dính mắc trong thế gian.”
92.
92.
92.
‘‘Tañcāhaṃ abhinandāmi, mahesi santimuttamaṃ;
Yaṃ viditvā sato caraṃ, tare loke visattikaṃ’’.
And I greatly delight in that, O great seer, that supreme peace, having known which, one who fares on mindfully may cross over attachment in the world.
“Kính bạch bậc Đại sĩ, con xin hoan hỷ sự an tịnh tối thượng ấy; người nào biết pháp ấy, sống chánh niệm, có thể vượt qua sự dính mắc trong thế gian.”
93.
93.
93.
‘‘Yaṃ kiñci sampajānāsi, [dhotakāti bhagavā]
Uddhaṃ adho tiriyañcāpi majjhe;
Etaṃ viditvā saṅgoti loke, bhavābhavāya mākāsi taṇha’’nti.
Whatever you clearly know, [Dhotaka, said the Blessed One,] above, below, and across, and in the middle—having understood this to be an attachment in the world, do not create craving for any state of existence.
(Thế Tôn phán:) “Này Dhotaka, bất cứ điều gì ngươi nhận biết, ở trên, ở dưới, và cả ở ngang, ở giữa; hãy biết rằng đó là ‘sự dính mắc’ trong thế gian, và chớ có tạo ra tham ái đối với các cõi hữu lớn nhỏ.”
Dhotakamāṇavapucchā pañcamī.
The Fifth Question, of the young man Dhotaka, is concluded.
Câu hỏi của thanh niên Dhotaka, (phần) thứ năm.
6. Upasīvamāṇavapucchā
6. The Question of the Brahmin Youth Upasīva
6. Câu hỏi của thanh niên Upasīva
94.
94.
94.
‘‘Eko ahaṃ sakka mahantamoghaṃ, [iccāyasmā upasīvo]
Anissito no visahāmi tārituṃ;
Ārammaṇaṃ brūhi samantacakkhu, yaṃ nissito oghamimaṃ tareyyaṃ’’.
Alone, O Sakyan, I am facing a great flood, [thus spoke the Venerable Upasīva,] and being unsupported, I am not able to cross it. Tell me, O All-Seeing One, a support, relying on which I might cross this flood.
(Trưởng lão Upasīva thưa rằng:) “Kính bạch đấng Thích Ca, một mình con, không có nơi nương tựa, không thể vượt qua bộc lưu vĩ đại. Kính bạch bậc Toàn Giác, xin hãy nói về một đối tượng (nương tựa), mà nương vào đó, con có thể vượt qua bộc lưu này.”
95.
95.
95.
‘‘Ākiñcaññaṃ pekkhamāno satimā, [upasīvāti bhagavā]
Natthīti nissāya tarassu oghaṃ;
Kāme pahāya virato kathāhi, taṇhakkhayaṃ nattamahābhipassa’’.
Being mindful while observing the base of nothingness, [Upasīva, said the Blessed One,] cross the flood by relying on ‘there is nothing.’ Having abandoned sensual pleasures and being free from doubts, behold day and night the destruction of craving.
(Thế Tôn phán:) “Này Upasīva, hãy chánh niệm quán xét Vô sở hữu xứ, nương vào (nhận thức) ‘không có gì’, hãy vượt qua bộc lưu. Từ bỏ các dục, xa lìa các nghi hoặc, ngày và đêm, hãy quán xét sự đoạn tận của tham ái.”
96.
96.
96.
‘‘Sabbesu kāmesu yo vītarāgo, [iccāyasmā upasīvo]
Ākiñcaññaṃ nissito hitvā maññaṃ;
Saññāvimokkhe parame vimutto †, tiṭṭhe nu so tattha anānuyāyī’’ †.
6. He who is free from passion for all sensual pleasures, [thus spoke the Venerable Upasīva,] relying on the base of nothingness, having abandoned other supports, and liberated in the supreme liberation of perception—would he, not pursuing further, remain there?
(Trưởng lão Upasīva thưa rằng:) “Người đã ly tham trong tất cả các dục, nương vào Vô sở hữu xứ, từ bỏ những thứ khác, được giải thoát trong Tưởng giải thoát tối thượng, vị ấy có an trú tại đó, không còn trở lại chăng?”
97.
97.
97.
‘‘Sabbesu kāmesu yo vītarāgo, [upasīvāti bhagavā]
Ākiñcaññaṃ nissito hitvā maññaṃ;
Saññāvimokkhe parame vimutto, tiṭṭheyya so tattha anānuyāyī’’.
He who is free from passion for all sensual pleasures, [Upasīva, said the Blessed One,] relying on the base of nothingness, having abandoned other supports, and liberated in the supreme liberation of perception—he would, not pursuing further, remain there.
(Thế Tôn phán:) “Này Upasīva, người đã ly tham trong tất cả các dục, nương vào Vô sở hữu xứ, từ bỏ những thứ khác, được giải thoát trong Tưởng giải thoát tối thượng, vị ấy sẽ an trú tại đó, không còn trở lại.”
98.
98.
98.
‘‘Tiṭṭhe ce so tattha anānuyāyī, pūgampi vassānaṃ samantacakkhu;
Tattheva so sītisiyā vimutto, cavetha viññāṇaṃ tathāvidhassa’’.
“If he should remain there, not pursuing further, for a multitude of years, O All-Seeing One, would he, right there, become cool and liberated? Or would the consciousness of such a one pass away?”
“Kính bạch bậc Toàn Giác, nếu vị ấy an trú tại đó, không còn trở lại, trong nhiều năm, ngay tại đó, vị ấy có được tịch tịnh, được giải thoát chăng? Hay là thức của một người như vậy sẽ diệt đi?”
99.
99.
99.
‘‘Acci yathā vātavegena khittā, [upasīvāti bhagavā]
Atthaṃ paleti na upeti saṅkhaṃ;
Evaṃ munī nāmakāyā vimutto, atthaṃ paleti na upeti saṅkhaṃ’’.
“As a flame tossed by the force of the wind,” said the Blessed One to Upasīva, “goes to its end and cannot be reckoned; so the sage, liberated from the mental body, goes to his end and cannot be reckoned.”
(Thế Tôn phán:) “Này Upasīva, như ngọn lửa bị gió mạnh thổi bạt, đi đến chỗ tắt lịm, không còn được gọi tên; cũng vậy, bậc Mâu-ni được giải thoát khỏi danh thân, đi đến chỗ chấm dứt, không còn được gọi tên.”
100.
100.
100.
‘‘Atthaṅgato so uda vā so natthi, udāhu ve sassatiyā arogo;
Taṃ me munī sādhu viyākarohi, tathā hi te vidito esa dhammo’’.
“Has he who has gone to his end ceased to be, or does he not exist? Or is he, in perpetuity, unafflicted? Please, O Sage, explain this well to me, for this Dhamma is indeed known to you.”
“Vị ấy đã đi đến chỗ chấm dứt, hay vị ấy không còn tồn tại, hay là vị ấy thường hằng, không bệnh hoạn? Kính bạch bậc Mâu-ni, xin Ngài hãy khéo giải thích điều ấy cho con, vì rằng pháp ấy đã được Ngài biết rõ như vậy.”
101.
101.
101.
‘‘Atthaṅgatassa na pamāṇamatthi, [upasīvāti bhagavā]
Yena naṃ vajjuṃ taṃ tassa natthi;
Sabbesu dhammesu samūhatesu, samūhatā vādapathāpi sabbe’’ti.
“For one who has gone to his end, there is no measure,” said the Blessed One to Upasīva. “That by which one might speak of him, that for him does not exist. When all phenomena have been uprooted, all paths of speech are also uprooted.”
(Thế Tôn phán:) “Này Upasīva, đối với người đã đi đến chỗ chấm dứt, không có thước đo nào. Cái mà người ta dùng để nói về vị ấy, cái đó không còn nơi vị ấy. Khi tất cả các pháp đã được nhổ sạch, tất cả các con đường của ngôn thuyết cũng đều được nhổ sạch.”
Upasīvamāṇavapucchā chaṭṭhī.
The Question of the Young Man Upasīva, the Sixth.
Câu hỏi của thanh niên Upasīva, (phần) thứ sáu.
7. Nandamāṇavapucchā
7. The Question of the Brahmin Youth Nanda
7. Câu hỏi của thanh niên Nanda
102.
102.
102.
‘‘Santi loke munayo, [iccāyasmā nando]
Janā vadanti tayidaṃ kathaṃsu;
Ñāṇūpapannaṃ muni no vadanti, udāhu ve jīvitenūpapannaṃ’’.
7. “‘There are sages in the world,’ so people say,” said the Venerable Nanda. “How is this so? Do they call one a sage on account of being endowed with knowledge, or is it on account of his way of life?”
(Tôn giả Nanda thưa rằng:) “‘Có những bậc ẩn sĩ ở trong đời,’ người ta nói như vậy, điều ấy là do đâu? Họ gọi là bậc ẩn sĩ vì người ấy được thành tựu về trí tuệ, hay là vì người ấy được thành tựu về đời sống?”
103.
103.
103.
‘‘Na diṭṭhiyā na sutiyā na ñāṇena, munīdha nanda kusalā vadanti;
Visenikatvā anīghā nirāsā, caranti ye te munayoti brūmi’’.
“O Nanda, the wise in this world do not declare one a sage by means of view, hearing, or knowledge. Those who live having destroyed the armies of Māra, untroubled and free from craving—them I declare to be sages.”
(Đức Thế Tôn đáp:) “Này Nanda, ở đây các bậc thiện xảo không gọi là bậc ẩn sĩ do kiến thức, do truyền thống, hay do trí tuệ. Những vị nào sống, sau khi đã loại trừ (đội quân phiền não), không còn phiền muộn, không còn hy vọng, Ta tuyên bố rằng họ là những bậc ẩn sĩ.”
104.
104.
104.
‘‘Ye kecime samaṇabrāhmaṇāse, [iccāyasmā nando]
Diṭṭhassutenāpi vadanti suddhiṃ;
Sīlabbatenāpi vadanti suddhiṃ,
Anekarūpena vadanti suddhiṃ;
Kaccissu te bhagavā tattha yatā carantā,
Atāru jātiñca jarañca mārisa;
Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ’’.
“Whatever ascetics and brahmins there are,” said the Venerable Nanda, “who speak of purity by what is seen or heard, who speak of purity by rites and observances, and who speak of purity in various ways—Venerable Sir, do they, conducting themselves diligently therein, cross over birth and aging? I ask you this, O Blessed One; please tell it to me.”
(Tôn giả Nanda thưa rằng:) “Bất cứ những Sa-môn và Bà-la-môn nào tuyên bố sự thanh tịnh bằng sở kiến và sở văn, tuyên bố sự thanh tịnh bằng giới và hạnh, tuyên bố sự thanh tịnh bằng nhiều hình thức khác nhau; bạch Đức Thế Tôn, liệu những vị ấy, khi sống nỗ lực trong các pháp ấy, có vượt qua được sanh và già không, thưa Ngài? Con xin hỏi Ngài điều ấy, bạch Đức Thế Tôn, xin hãy nói cho con biết.”
105.
105.
105.
‘‘Ye kecime samaṇabrāhmaṇāse, [nandāti bhagavā]
Diṭṭhassutenāpi vadanti suddhiṃ;
Sīlabbatenāpi vadanti suddhiṃ, anekarūpena vadanti suddhiṃ;
Kiñcāpi te tattha yatā caranti, nātariṃsu jātijaranti brūmi’’.
“Whatever ascetics and brahmins there are,” said the Blessed One to Nanda, “who speak of purity by what is seen and heard, who speak of purity by rites and observances, and who speak of purity in various ways—although they conduct themselves diligently therein, I say they do not cross over birth and aging.”
(Đức Thế Tôn đáp:) “Này Nanda, bất cứ những Sa-môn và Bà-la-môn nào tuyên bố sự thanh tịnh bằng sở kiến và sở văn, tuyên bố sự thanh tịnh bằng giới và hạnh, tuyên bố sự thanh tịnh bằng nhiều hình thức khác nhau; dù cho họ sống nỗ lực trong các pháp ấy, Ta tuyên bố rằng họ không vượt qua được sanh và già.”
106.
106.
106.
‘‘Ye kecime samaṇabrāhmaṇāse, [iccāyasmā nando]
Diṭṭhassutenāpi vadanti suddhiṃ;
Sīlabbatenāpi vadanti suddhiṃ, anekarūpena vadanti suddhiṃ;
Te ce muni brūsi anoghatiṇṇe, atha ko carahi devamanussaloke;
Atāri jātiñca jarañca mārisa, pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ’’.
“Whatever ascetics and brahmins there are,” said the Venerable Nanda, “who speak of purity by what is seen or heard, who speak of purity by rites and observances, and who speak of purity in various ways—if you, O Sage, say they have not crossed the flood, then who, indeed, in the world of devas and humans has crossed over birth and aging, Venerable Sir? I ask you this, O Blessed One; please tell it to me.”
(Tôn giả Nanda thưa rằng:) “Bất cứ những Sa-môn và Bà-la-môn nào tuyên bố sự thanh tịnh bằng sở kiến và sở văn, tuyên bố sự thanh tịnh bằng giới và hạnh, tuyên bố sự thanh tịnh bằng nhiều hình thức khác nhau; nếu Ngài, bậc ẩn sĩ, nói rằng họ không vượt qua được bộc lưu, vậy thì ai trong thế giới chư thiên và loài người đã vượt qua được sanh và già, thưa Ngài? Con xin hỏi Ngài điều ấy, bạch Đức Thế Tôn, xin hãy nói cho con biết.”
107.
107.
107.
‘‘Nāhaṃ sabbe samaṇabrāhmaṇāse, [nandāti bhagavā]
Jātijarāya nivutāti brūmi;
Ye sīdha diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā, sīlabbataṃ vāpi pahāya sabbaṃ;
Anekarūpampi pahāya sabbaṃ, taṇhaṃ pariññāya anāsavāse;
Te ve narā oghatiṇṇāti brūmi’’.
“I do not say that all ascetics and brahmins are shrouded by birth and aging,” said the Blessed One to Nanda. “Those who here, having abandoned all that is seen, heard, or sensed, and all rites and observances; having abandoned all things of various forms; and having fully understood craving, are free from taints—those people, indeed, I declare to have crossed the flood.”
(Đức Thế Tôn đáp:) “Này Nanda, Ta không nói rằng tất cả các Sa-môn và Bà-la-môn đều bị bao phủ bởi sanh và già. Những vị nào ở đây, sau khi đã từ bỏ tất cả những gì được thấy, được nghe, được cảm nhận, hoặc giới và hạnh, sau khi đã từ bỏ tất cả những gì có nhiều hình thức, đã liễu tri ái dục, và không còn lậu hoặc, Ta tuyên bố rằng chính những người ấy đã vượt qua bộc lưu.”
108.
108.
108.
‘‘Etābhinandāmi vaco mahesino, sukittitaṃ gotamanūpadhīkaṃ;
Ye sīdha diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā, sīlabbataṃ vāpi pahāya sabbaṃ;
Anekarūpampi pahāya sabbaṃ, taṇhaṃ pariññāya anāsavāse;
Ahampi te oghatiṇṇāti brūmī’’ti.
“I greatly delight in this word of the Great Sage, well-proclaimed by Gotama, free from attachments. Those who here, having abandoned all that is seen, heard, or sensed, and all rites and observances; having abandoned all things of various forms; and having fully understood craving, are free from taints—I, too, declare them to have crossed the flood.”
“Con hoan hỷ lời dạy này của bậc Đại sĩ, được Ngài Gotama tán dương một cách khéo léo, không còn chấp thủ. Những vị nào ở đây, sau khi đã từ bỏ tất cả những gì được thấy, được nghe, được cảm nhận, hoặc giới và hạnh, sau khi đã từ bỏ tất cả những gì có nhiều hình thức, đã liễu tri ái dục, và không còn lậu hoặc, con cũng nói rằng họ đã vượt qua bộc lưu.”
Nandamāṇavapucchā sattamā.
The Question of the Young Man Nanda, the Seventh.
Câu hỏi của thanh niên Nanda, phần thứ bảy.
8. Hemakamāṇavapucchā
8. The Question of the Brahmin Youth Hemaka
8. Câu hỏi của thanh niên Hemaka
109.
109.
109.
‘‘Ye me pubbe viyākaṃsu, [iccāyasmā hemako]
Huraṃ gotamasāsanā;
Iccāsi iti bhavissati, sabbaṃ taṃ itihītihaṃ;
Sabbaṃ taṃ takkavaḍḍhanaṃ, nāhaṃ tattha abhiramiṃ.
“Those who explained to me in the past,” said the Venerable Hemaka, “before the teaching of Gotama, saying: ‘Thus it was, thus it will be’—all of that was mere tradition, all of that was an increase of speculation. I found no delight therein.”
(Tôn giả Hemaka thưa rằng:) “Những vị đã giải thích cho con trước đây, trước giáo pháp của Ngài Gotama, (rằng) ‘đã là như vậy, sẽ là như vậy.’ Tất cả những điều đó chỉ là truyền thuyết. Tất cả những điều đó chỉ làm tăng trưởng sự suy lường. Con không tìm thấy sự hoan hỷ trong đó.”
110.
110.
110.
‘‘Tvañca me dhammamakkhāhi, taṇhānigghātanaṃ muni;
Yaṃ viditvā sato caraṃ, tare loke visattikaṃ’’.
8. “O Sage, please declare to me the Dhamma that destroys craving; knowing which, one practicing mindfully may cross over attachment in the world.”
“Xin Ngài, bậc ẩn sĩ, hãy giảng cho con về Pháp, pháp đoạn trừ ái dục, pháp mà khi biết được, người có chánh niệm sống, có thể vượt qua sự dính mắc trong đời.”
111.
111.
111.
‘‘Idha diṭṭhasutamutaviññātesu, piyarūpesu hemaka;
Chandarāgavinodanaṃ, nibbānapadamaccutaṃ.
“Here, Hemaka, regarding things seen, heard, sensed, and cognized, in pleasant forms, the dispelling of desire and lust is the deathless state of Nibbāna.”
“Này Hemaka, ở đây, đối với những hình sắc khả ái được thấy, nghe, cảm nhận và nhận biết, sự loại trừ dục và tham, (chính là) trạng thái Niết-bàn bất biến.”
112.
112.
112.
‘‘Etadaññāya ye satā, diṭṭhadhammābhinibbutā;
Upasantā ca te sadā, tiṇṇā loke visattika’’nti.
“Those who, having known this, are mindful, have seen the Dhamma and are fully extinguished; they are ever peaceful and have crossed over attachment in the world.”
“Những vị nào có chánh niệm, sau khi đã biết điều này, đã tịch tịnh ngay trong hiện tại, họ luôn luôn an tịnh, đã vượt qua sự dính mắc trong đời.”
Hemakamāṇavapucchā aṭṭhamā.
The Question of the Young Man Hemaka, the Eighth.
Câu hỏi của thanh niên Hemaka, phần thứ tám.
9. Todeyyamāṇavapucchā
9. The Question of the Brahmin Youth Todeyya
9. Câu hỏi của thanh niên Todeyya
113.
113.
113.
‘‘Yasmiṃ kāmā na vasanti, [iccāyasmā todeyyo]
Taṇhā yassa na vijjati;
Kathaṃkathā ca yo tiṇṇo, vimokkho tassa kīdiso’’.
“He in whom sensual pleasures do not dwell,” said the Venerable Todeyya, “for whom craving is not found, and who has crossed over doubt—what kind of liberation is there for him?”
(Tôn giả Todeyya thưa rằng:) “Người mà trong đó các dục không còn trú ngụ, người mà không có ái dục, và người đã vượt qua sự nghi ngờ, sự giải thoát của người ấy là như thế nào?”
114.
114.
114.
‘‘Yasmiṃ kāmā na vasanti, [todeyyāti bhagavā]
Taṇhā yassa na vijjati;
Kathaṃkathā ca yo tiṇṇo, vimokkho tassa nāparo’’.
“For him in whom sensual pleasures do not dwell,” said the Blessed One to Todeyya, “for whom craving is not found, and who has crossed over doubt—for him there is no other liberation.”
(Đức Thế Tôn đáp:) “Này Todeyya, người mà trong đó các dục không còn trú ngụ, người mà không có ái dục, và người đã vượt qua sự nghi ngờ, đối với người ấy, không có sự giải thoát nào khác.”
115.
115.
115.
‘‘Nirāsaso so uda āsasāno †, paññāṇavā so uda paññakappī;
Muniṃ ahaṃ sakka yathā vijaññaṃ, taṃ me viyācikkha samantacakkhu’’.
9. “Is he without longing or is he one who longs? Is he wise or one who speculates with wisdom? O Sakka, O All-Seeing One, please explain this sage to me, so that I may know him.”
“Người ấy không còn hy vọng hay vẫn còn hy vọng? Người ấy có trí tuệ hay vẫn còn đang suy lường bằng trí tuệ? Thưa Ngài Sakka, để con có thể biết được bậc ẩn sĩ, xin Ngài, bậc Toàn Nhãn, hãy giải thích điều đó cho con.”
116.
116.
116.
‘‘Nirāsaso so na ca āsasāno, paññāṇavā so na ca paññakappī;
Evampi todeyya muniṃ vijāna, akiñcanaṃ kāmabhave asatta’’nti.
“He is without longing, not one who longs; he is wise, not one who speculates with wisdom. Thus, Todeyya, know the sage as one with no impediments, unattached to sensual existence.”
“Người ấy không còn hy vọng, cũng không còn hy vọng. Người ấy có trí tuệ, nhưng không còn suy lường bằng trí tuệ. Này Todeyya, hãy biết bậc ẩn sĩ là như vậy, không còn sở hữu, không dính mắc vào cõi dục.”
Todeyyamāṇavapucchā navamā.
The Question of the Young Man Todeyya, the Ninth.
Câu hỏi của thanh niên Todeyya, phần thứ chín.
10. Kappamāṇavapucchā
10. The Question of the Brahmin Youth Kappa
10. Câu hỏi của thanh niên Kappa
117.
117.
117.
‘‘Majjhe sarasmiṃ tiṭṭhataṃ, [iccāyasmā kappo]
Oghe jāte mahabbhaye;
Jarāmaccuparetānaṃ, dīpaṃ pabrūhi mārisa;
Tvañca me dīpamakkhāhi, yathāyidaṃ nāparaṃ siyā’’.
“For those standing in the middle of the stream,” said the Venerable Kappa, “when the great and fearful flood has arisen, for those afflicted by aging and death, O Venerable Sir, please declare an island. Please explain that island to me, so that this suffering may not arise again.”
(Tôn giả Kappa thưa rằng:) “Đối với những người đang đứng giữa dòng nước, khi bộc lưu khởi lên, đầy kinh hoàng, đối với những người bị già và chết áp bức, xin Ngài hãy chỉ cho một hòn đảo. Xin Ngài hãy tuyên bố cho con về hòn đảo ấy, để cho khổ đau này sẽ không còn tái diễn.”
118.
118.
118.
‘‘Majjhe sarasmiṃ tiṭṭhataṃ, [kappāti bhagavā]
Oghe jāte mahabbhaye;
Jarāmaccuparetānaṃ, dīpaṃ pabrūmi kappa te.
“For those standing in the middle of the stream,” said the Blessed One to Kappa, “when the great and fearful flood has arisen, for those afflicted by aging and death, I will declare an island to you, Kappa.”
(Đức Thế Tôn đáp:) “Này Kappa, đối với những người đang đứng giữa dòng nước, khi bộc lưu khởi lên, đầy kinh hoàng, đối với những người bị già và chết áp bức, Ta sẽ tuyên bố cho ngươi về một hòn đảo.”
119.
119.
119.
‘‘Akiñcanaṃ anādānaṃ, etaṃ dīpaṃ anāparaṃ;
Nibbānaṃ iti naṃ brūmi, jarāmaccuparikkhayaṃ.
“Having no impediments and no grasping—this is the island which has no other. I call it Nibbāna—the utter destruction of aging and death.”
“Không còn sở hữu, không còn chấp thủ, đó là hòn đảo không gì sánh bằng. Ta gọi đó là Niết-bàn, sự đoạn tận của già và chết.”
120.
120.
120.
‘‘Etadaññāya ye satā, diṭṭhadhammābhinibbutā;
Na te māravasānugā, na te mārassa paṭṭhagū’’ti †.
10. “Those who, having known this, are mindful, have seen the Dhamma and are fully extinguished, do not come under Māra’s power, nor do they become his followers.”
“Những vị nào có chánh niệm, sau khi đã biết điều này, đã tịch tịnh ngay trong hiện tại, họ không còn đi theo quyền lực của Ma vương, họ không còn là thuộc hạ của Ma vương.”
Kappamāṇavapucchā dasamā.
The Question of the Young Man Kappa, the Tenth.
Câu hỏi của thanh niên Kappa, phần thứ mười.
11. Jatukaṇṇimāṇavapucchā
11. The Question of the Brahmin Youth Jatukaṇṇi
11. Câu hỏi của thanh niên Jatukaṇṇi
121.
121.
121.
‘‘Sutvānahaṃ vīramakāmakāmiṃ, [iccāyasmā jatukaṇṇi]
Oghātigaṃ puṭṭhumakāmamāgamaṃ;
Santipadaṃ brūhi sahajanetta, yathātacchaṃ bhagavā brūhi metaṃ.
“Having heard of the Hero who is free from sensual desires,” said the Venerable Jatukaṇṇi, “I have come to ask the one without desire, who has crossed the flood. O one with innate vision, declare the state of peace. O Blessed One, declare this to me as it truly is.”
(Tôn giả Jatukaṇṇi thưa rằng:) “Con đã nghe về bậc Anh hùng không còn ham muốn dục lạc, đã vượt qua bộc lưu, con đến đây để hỏi Ngài, bậc không còn ham muốn. Xin Ngài, bậc có con mắt bẩm sinh, hãy nói về trạng thái an tịnh. Bạch Đức Thế Tôn, xin hãy nói cho con biết điều đó một cách chân thật.”
122.
122.
122.
‘‘Bhagavā hi kāme abhibhuyya iriyati, ādiccova pathaviṃ tejī tejasā;
Parittapaññassa me bhūripañña, ācikkha dhammaṃ yamahaṃ vijaññaṃ;
Jātijarāya idha vippahānaṃ’’.
“Indeed, the Blessed One proceeds, having subdued sensual pleasures, just as the powerful sun proceeds, overwhelming the earth with its radiance. O one of vast wisdom, to me of little wisdom, please declare the Dhamma so that I may know the abandonment of birth and aging here.”
“Quả thật, Đức Thế Tôn sống sau khi đã chế ngự các dục, giống như mặt trời rực rỡ chế ngự mặt đất bằng ánh sáng của mình. Thưa bậc có trí tuệ rộng lớn, xin hãy giảng cho con, người có trí tuệ nhỏ hẹp, về Pháp mà con có thể hiểu được, sự từ bỏ sanh và già ở đây.”
123.
123.
123.
‘‘Kāmesu vinaya gedhaṃ, [jatukaṇṇīti bhagavā]
Nekkhammaṃ daṭṭhu khemato;
Uggahitaṃ nirattaṃ vā, mā te vijjittha kiñcanaṃ.
“Dispel greed for sensual pleasures,” said the Blessed One to Jatukaṇṇī, “having seen renunciation as security. Whether it be something grasped or let go of, let there be no impediment for you.”
(Thế Tôn phán, Jatukaṇṇi,) "Hãy loại bỏ sự tham luyến trong các dục, sau khi thấy sự xuất ly là an ổn. Mong rằng không có chướng ngại pháp nào, dù được nắm giữ hay không được nắm giữ, tồn tại nơi ngươi."
124.
124.
124.
‘‘Yaṃ pubbe taṃ visosehi, pacchā te māhu kiñcanaṃ;
Majjhe ce no gahessasi, upasanto carissasi.
“Dry up that which was before; let there be no concern for you about what is to come. If you do not grasp at what is in the middle, you will fare on in peace.”
"Cái gì thuộc về quá khứ, hãy làm cho nó khô cạn. Mong rằng không có chướng ngại pháp nào cho ngươi ở tương lai. Và nếu ở hiện tại ngươi không nắm giữ, ngươi sẽ sống an tịnh."
125.
125.
125.
‘‘Sabbaso nāmarūpasmiṃ, vītagedhassa brāhmaṇa;
Āsavāssa na vijjanti, yehi maccuvasaṃ vaje’’ti.
“O brahmin, for one who is in every way without greed for name-and-form, there are no taints by which one would come under the sway of Death.”
"Này Bà-la-môn, đối với người đã hoàn toàn hết tham luyến trong danh sắc, các lậu hoặc ấy, mà do chúng người ta đi đến quyền lực của tử thần, không còn tồn tại."
Jatukaṇṇimāṇavapucchā ekādasamā.
The Questions of the Young Brahmin Jatukaṇṇi, the Eleventh.
Câu hỏi của thanh niên Jatukaṇṇi, phần thứ mười một.
12. Bhadrāvudhamāṇavapucchā
12. The Questions of the Young Brahmin Bhadrāvudha
12. Câu hỏi của thanh niên Bhadrāvudha
126.
126.
126.
‘‘Okañjahaṃ taṇhacchidaṃ anejaṃ, [iccāyasmā bhadrāvudho]
Nandiñjahaṃ oghatiṇṇaṃ vimuttaṃ;
Kappañjahaṃ abhiyāce sumedhaṃ, sutvāna nāgassa apanamissanti ito.
“The one who has abandoned the home, cut off craving, is unagitated; [thus said the Venerable Bhadrāvudha] the one who has abandoned delight, crossed the flood, is liberated, has abandoned conceptions—I entreat the one of good wisdom. Having heard the word of the Nāga, many will depart from here.”
(Tôn giả Bhadrāvudha thưa:) "Con tha thiết cầu xin bậc đã từ bỏ nhà, đã cắt đứt ái dục, không còn dao động, đã từ bỏ hỷ lạc, đã vượt qua bộc lưu, đã giải thoát, đã từ bỏ kappa, bậc có trí tuệ tốt đẹp. Sau khi nghe lời dạy của bậc Long Tượng, nhiều người từ nơi đây sẽ ra đi."
127.
127.
127.
‘‘Nānājanā janapadehi saṅgatā,
Tava vīra vākyaṃ abhikaṅkhamānā;
Tesaṃ tuvaṃ sādhu viyākarohi, tathā hi te vidito esa dhammo’’.
“Various people from the districts have gathered, longing for your words, O Hero. Please explain it well to them, for this Dhamma is indeed known to you.”
"Nhiều người từ các xứ khác nhau đã tụ hội, đang mong mỏi lời dạy của Ngài, hỡi bậc Anh hùng. Lành thay, xin Ngài hãy giải thích rõ cho họ, vì quả thật pháp này đã được Ngài biết rõ."
128.
128.
128.
‘‘Ādānataṇhaṃ vinayetha sabbaṃ, [bhadrāvudhāti bhagavā]
Uddhaṃ adho tiriyañcāpi majjhe;
Yaṃ yañhi lokasmimupādiyanti, teneva māro anveti jantuṃ.
“One should dispel all grasping-craving, [said the Blessed One to Bhadrāvudha,] above, below, across, and in the middle. For whatever a being clings to in the world, precisely by that Māra follows them.”
(Thế Tôn phán, Bhadrāvudha,) "Hãy loại bỏ tất cả tham ái chấp thủ, ở trên, ở dưới, và cả ở ngang, ở giữa. Vì bất cứ cái gì chúng sanh chấp thủ trong thế gian, chính do cái đó mà Ma vương đi theo."
129.
129.
129.
‘‘Tasmā pajānaṃ na upādiyetha, bhikkhu sato kiñcanaṃ sabbaloke;
Ādānasatte iti pekkhamāno, pajaṃ imaṃ maccudheyye visatta’’nti.
“Therefore, understanding this, a mindful monk should not cling to anything at all in the world, seeing this generation as attached to grasping, clinging to the domain of Death.”
"Do đó, vị Tỳ-khưu chánh niệm, người có trí, không nên chấp thủ bất cứ điều gì trong tất cả thế gian, khi thấy rằng: 'Chúng sanh này dính mắc vào sự chấp thủ, bị ràng buộc trong lãnh địa của tử thần'."
Bhadrāvudhamāṇavapucchā dvādasamā.
The Questions of the Young Brahmin Bhadrāvudha, the Twelfth.
Câu hỏi của thanh niên Bhadrāvudha, phần thứ mười hai.
13. Udayamāṇavapucchā
13. The Questions of the Young Brahmin Udaya
13. Câu hỏi của thanh niên Udaya
130.
130.
130.
‘‘Jhāyiṃ virajamāsīnaṃ, [iccāyasmā udayo]
Katakiccaṃ anāsavaṃ;
Pāraguṃ sabbadhammānaṃ, atthi pañhena āgamaṃ;
Aññāvimokkhaṃ pabrūhi, avijjāya pabhedanaṃ’’.
“To the meditator, stainless, seated, [thus said the Venerable Udaya,] whose task is done, who is taintless, gone to the far shore of all things: I have come with a question. Please declare the liberation through final knowledge, the shattering of ignorance.”
(Tôn giả Udaya thưa:) "Con đến đây với một câu hỏi, đến với bậc thiền định, không còn bụi bẩn, đang ngồi, đã làm xong việc cần làm, không còn lậu hoặc, bậc đã đến bờ kia của tất cả các pháp. Xin hãy tuyên thuyết về sự giải thoát bằng chánh trí, sự phá vỡ vô minh."
131.
131.
131.
‘‘Pahānaṃ kāmacchandānaṃ, [udayāti bhagavā]
Domanassāna cūbhayaṃ;
Thinassa ca panūdanaṃ, kukkuccānaṃ nivāraṇaṃ.
“The abandoning of sensual desire, [said the Blessed One to Udaya,] and of both kinds of dejection, the dispelling of sloth, and the warding off of remorse—”
(Thế Tôn phán, Udaya,) "Đó là sự đoạn trừ các dục tham và cả hai loại ưu, là sự xua tan hôn trầm, sự ngăn ngừa trạo hối."
132.
132.
132.
‘‘Upekkhāsatisaṃsuddhaṃ, dhammatakkapurejavaṃ;
Aññāvimokkhaṃ pabrūmi, avijjāya pabhedanaṃ’’.
“—the state purified by equanimity and mindfulness, preceded by thought on the Dhamma—this I declare to be the liberation through final knowledge, the shattering of ignorance.”
"Ta tuyên thuyết sự giải thoát bằng chánh trí, sự phá vỡ vô minh, chính là (trạng thái) thanh tịnh bởi xả và niệm, với sự tầm về pháp đi trước."
133.
133.
133.
‘‘Kiṃsu saṃyojano loko, kiṃsu tassa vicāraṇaṃ;
Kissassa vippahānena, nibbānaṃ iti vuccati’’.
“What is the fetter of the world? What is its investigation? By the special abandoning of what is it called Nibbāna?”
"Thế gian có gì làm kiết sử? Cái gì là sự đi lại của nó? Do đoạn trừ cái gì mà được gọi là Niết-bàn?"
134.
134.
134.
‘‘Nandisaṃyojano loko, vitakkassa vicāraṇaṃ;
Taṇhāya vippahānena, nibbānaṃ iti vuccati’’.
“The world has the fetter of delight; thought is its investigation. By the special abandoning of craving, it is called Nibbāna.”
"Thế gian có hỷ làm kiết sử, tầm là sự đi lại của nó. Do đoạn trừ ái dục mà được gọi là Niết-bàn."
135.
135.
135.
‘‘Kathaṃ satassa carato, viññāṇaṃ uparujjhati;
Bhagavantaṃ puṭṭhumāgamma, taṃ suṇoma vaco tava’’.
“How, for one who fares mindfully, does consciousness cease? Having come to the Blessed One to ask, let us hear that word of yours.”
"Đối với người sống chánh niệm, làm thế nào thức bị đoạn diệt? Chúng con đến để hỏi Thế Tôn, chúng con muốn nghe lời dạy ấy của Ngài."
136.
136.
136.
‘‘Ajjhattañca bahiddhā ca, vedanaṃ nābhinandato;
Evaṃ satassa carato, viññāṇaṃ uparujjhatī’’ti.
“Internally and externally, for one not delighting in feeling, thus for one who fares mindfully, consciousness ceases.”
"Đối với người không hoan hỷ với cảm thọ cả bên trong lẫn bên ngoài, đối với người sống chánh niệm như vậy, thức bị đoạn diệt."
Udayamāṇavapucchā terasamā.
The Questions of the Young Man Udaya, the Thirteenth.
Câu hỏi của thanh niên Udaya, phần thứ mười ba.
14. Posālamāṇavapucchā
14. The Questions of the Young Brahmin Posāla
14. Câu hỏi của thanh niên Posāla
137.
137.
137.
‘‘Yo atītaṃ ādisati, [iccāyasmā posālo]
Anejo chinnasaṃsayo;
Pāraguṃ sabbadhammānaṃ, atthi pañhena āgamaṃ.
“To the one who declares the past, [thus said the Venerable Posāla,] who is unagitated, with doubts cut off, gone to the far shore of all things—I have come with a question.”
(Tôn giả Posāla thưa:) "Con đến đây với một câu hỏi, đến với bậc chỉ rõ quá khứ, không dao động, đã cắt đứt nghi ngờ, bậc đã đến bờ kia của tất cả các pháp."
138.
138.
138.
‘‘Vibhūtarūpasaññissa, sabbakāyappahāyino;
Ajjhattañca bahiddhā ca, natthi kiñcīti passato;
Ñāṇaṃ sakkānupucchāmi, kathaṃ neyyo tathāvidho’’.
“Regarding one for whom perception of form has vanished, who has abandoned the entire physical body, and who sees internally and externally that ‘there is nothing’—I ask you, Sakyan, about the knowledge: How is such a one to be led?”
"Hỡi bậc Thích Ca, con xin hỏi về trí tuệ của người có sắc tưởng đã biến mất, đã từ bỏ tất cả thân, của người thấy rằng 'không có gì cả' ở bên trong lẫn bên ngoài. Người như vậy được dẫn dắt như thế nào?"
139.
139.
139.
‘‘Viññāṇaṭṭhitiyo sabbā, [posālāti bhagavā]
Abhijānaṃ tathāgato;
Tiṭṭhantamenaṃ jānāti, vimuttaṃ tapparāyaṇaṃ.
“The Tathāgata, O Posāla, directly knowing all stations of consciousness, knows that person who is abiding there, liberated and with that as his destination.”
(Thế Tôn phán, Posāla,) "Như Lai, sau khi biết rõ tất cả các thức trú, biết người ấy đang an trú, đã giải thoát, có đó là nơi nương tựa."
140.
140.
140.
‘‘Ākiñcaññasambhavaṃ ñatvā, nandī saṃyojanaṃ iti;
Evametaṃ abhiññāya, tato tattha vipassati;
Etaṃ † ñāṇaṃ tathaṃ tassa, brāhmaṇassa vusīmato’’ti.
“Knowing the arising of the dimension of nothingness, and that delight is a fetter; thus having directly known this, he then practices insight upon that state. For that brahmin who has lived the holy life, this knowledge is true.”
"Sau khi biết sự phát sinh của Vô sở hữu xứ, biết rằng hỷ là kiết sử; sau khi thắng tri điều này như vậy, từ đó vị ấy thực hành minh sát ở đó. Trí tuệ này là chân thật đối với vị Bà-la-môn đã sống đời phạm hạnh."
Posālamāṇavapucchā cuddasamā.
The Questions of the Young Brahmin Posāla, the Fourteenth.
Câu hỏi của thanh niên Posāla, phần thứ mười bốn.
15. Mogharājamāṇavapucchā
15. The Questions of the Young Brahmin Mogharāja
15. Câu hỏi của thanh niên Mogharāja
141.
141.
141.
‘‘Dvāhaṃ sakkaṃ apucchissaṃ, [iccāyasmā mogharājā]
Na me byākāsi cakkhumā;
Yāvatatiyañca devīsi, byākarotīti me sutaṃ.
“Twice have I asked the Sakyan, [thus said the Venerable Mogharāja,] but the One with Vision did not answer me. I have heard it said that when asked for the third time, the Divine Sage gives an answer.”
(Tôn giả Mogharāja thưa:) "Con đã hai lần hỏi bậc Thích Ca, nhưng Ngài, bậc có Mắt, đã không trả lời con. Con đã nghe rằng đến lần thứ ba thì bậc Thiên Tiên sẽ trả lời."
142.
142.
142.
‘‘Ayaṃ loko paro loko, brahmaloko sadevako;
Diṭṭhiṃ te nābhijānāti, gotamassa yasassino.
“This world, the world beyond, the Brahma-world with its devas—they do not know the vision of you, glorious Gotama.”
"Thế gian này, thế gian khác, thế gian Phạm thiên cùng với chư thiên, họ không biết tri kiến của Ngài, của ngài Gotama lừng danh."
143.
143.
143.
‘‘Evaṃ abhikkantadassāviṃ, atthi pañhena āgamaṃ;
Kathaṃ lokaṃ avekkhantaṃ, maccurājā na passati’’.
“To you who has thus seen the supreme, I have come with a question: Looking at the world in what way is one not seen by the King of Death?”
"Con đến đây với một câu hỏi, đến với bậc có cái thấy siêu việt như vậy: Người quán thế gian như thế nào mà Tử vương không thấy?"
144.
144.
144.
‘‘Suññato lokaṃ avekkhassu, mogharāja sadā sato;
Attānudiṭṭhiṃ ūhacca, evaṃ maccutaro siyā;
Evaṃ lokaṃ avekkhantaṃ, maccurājā na passatī’’ti.
“Look upon the world as empty, Mogharāja, ever mindful. Having uprooted the view of self, one may thus cross beyond death. The King of Death does not see one who looks upon the world in this way.”
"Này Mogharāja, hãy luôn luôn chánh niệm, quán thế gian như là trống không. Sau khi nhổ bỏ thân kiến, như vậy có thể vượt qua cái chết. Người quán thế gian như vậy, Tử vương không thấy."
Mogharājamāṇavapucchā pannarasamā.
The Questions of the Young Brahmin Mogharāja, the Fifteenth.
Câu hỏi của thanh niên Mogharāja là (câu hỏi) thứ mười lăm.
16. Piṅgiyamāṇavapucchā
16. The Questions of the Young Brahmin Piṅgiya
16. Câu hỏi của thanh niên Piṅgiya
145.
145.
145.
‘‘Jiṇṇohamasmi abalo vītavaṇṇo, [iccāyasmā piṅgiyo]
Nettā na suddhā savanaṃ na phāsu;
Māhaṃ nassaṃ momuho antarāva, ācikkha dhammaṃ yamahaṃ vijaññaṃ;
Jātijarāya idha vippahānaṃ’’.
“I am old, feeble, and of faded complexion,” [so said the venerable Piṅgiya.] “My eyes are not clear, my hearing is not pleasant. Lest I, being deluded, should perish in the interim, please explain the Dhamma by which I may know the abandonment of birth and aging here.”
(Trưởng lão Piṅgiya thưa rằng:) ‘Con đã già yếu, không sức lực, dung sắc phai tàn; mắt không còn trong sáng, tai nghe không còn dễ chịu. Mong rằng con không bị hoại vong trong khi còn si mê ở khoảng giữa. Xin hãy chỉ dạy Giáo pháp mà con có thể liễu tri, (pháp ấy là) sự từ bỏ sanh và già ngay tại đây.’
146.
146.
146.
‘‘Disvāna rūpesu vihaññamāne, [piṅgiyāti bhagavā]
Ruppanti rūpesu janā pamattā;
Tasmā tuvaṃ piṅgiya appamatto, jahassu rūpaṃ apunabbhavāya’’.
“Having seen people afflicted on account of forms,” [said the Blessed One to Piṅgiya,] “heedless people are tormented on account of forms. Therefore, Piṅgiya, being heedful, abandon form for the sake of non-rebecoming.”
(Thế Tôn phán:) ‘Này Piṅgiya, sau khi thấy (chúng sanh) bị phiền não trong các sắc, những người phóng dật bị hoại hoại trong các sắc. Do vậy, này Piṅgiya, ngươi hãy không phóng dật, hãy từ bỏ sắc để không còn tái sanh.’
147.
147.
147.
‘‘Disā catasso vidisā catasso, uddhaṃ adho dasa disā imāyo;
Na tuyhaṃ adiṭṭhaṃ asutaṃ amutaṃ †, atho aviññātaṃ kiñcanamatthi † loke;
Ācikkha dhammaṃ yamahaṃ vijaññaṃ, jātijarāya idha vippahānaṃ’’.
“The four cardinal directions, the four intermediate directions, above, and below—these are the ten directions. There is nothing in the world unseen, unheard, unsensed, or unknown by you. Please explain the Dhamma by which I may know the abandonment of birth and aging here.”
‘Bốn phương chánh, bốn phương phụ, phương trên, phương dưới, đây là mười phương. Đối với Ngài, không có điều gì trong thế gian là chưa thấy, chưa nghe, chưa cảm nhận, hay chưa biết. Xin hãy chỉ dạy Giáo pháp mà con có thể liễu tri, (pháp ấy là) sự từ bỏ sanh và già ngay tại đây.’
148.
148.
148.
‘‘Taṇhādhipanne manuje pekkhamāno, [piṅgiyāti bhagavā]
Santāpajāte jarasā parete;
Tasmā tuvaṃ piṅgiya appamatto, jahassu taṇhaṃ apunabbhavāyā’’ti.
“Seeing beings overcome by craving,” [said the Blessed One to Piṅgiya,] “born of torment and oppressed by aging—therefore, Piṅgiya, being heedful, abandon craving for the sake of non-rebecoming.”
(Thế Tôn phán:) ‘Này Piṅgiya, trong khi nhìn thấy loài người bị ái dục chi phối, sanh ra trong phiền muộn, bị già nua áp bức. Do vậy, này Piṅgiya, ngươi hãy không phóng dật, hãy từ bỏ ái dục để không còn tái sanh.’
Piṅgiyamāṇavapucchā soḷasamā.
The Questions of the Young Brahmin Piṅgiya, the Sixteenth.
Câu hỏi của thanh niên Piṅgiya là (câu hỏi) thứ mười sáu.