Bản dịch
BV 9 — Lịch Sử Đức Phật Anomadassī
9 Anomadassībuddhavaṁsa
Inda-bh 1Sau (đức Phật) Sobhita, đấng Toàn Giác Anomadassī là đấng Tối Thượng Nhân có danh tiếng vô lường, có oai lực khó mà vượt trội.
Inda-bh 2Sau khi cắt đứt tất cả các sự trói buộc và hủy diệt (nghiệp tái sanh ở) ba cõi, vị ấy đã thuyết giảng cho chư thiên và loài người về Đạo Lộ đưa đến việc không còn luân hồi.
Inda-bh 3Vị ấy không chao động ví như biển cả, khó thể đạt đến như là ngọn núi, không có điểm cuối cùng ví như bầu không gian, và đã nở hoa như là cây Sālā chúa.
Inda-bh 4Chỉ với sự nhìn thấy đức Phật ấy là chúng sanh khởi lên hoan hỷ. Sau khi lắng nghe lời nói đang diễn giải, họ đạt được Bất Tử.
Inda-bh 5Khi ấy, sự lãnh hội về Giáo Pháp của vị ấy là thành công và đạt được số lượng. Hàng trăm koṭi (chúng sanh) đã lãnh hội trong cuộc thuyết giảng Giáo Pháp lần thứ nhất.
Inda-bh 6Về sau vào lúc khác, trong khi đang đổ xuống những cơn mưa Giáo Pháp trong cuộc thuyết giảng Giáo Pháp lần thứ nhì, tám chục koṭi (chúng sanh) đã lãnh hội.
Inda-bh 7Về sau vào lúc khác, khi đang đổ xuống cơn mưa (Giáo Pháp) và ngay trong lúc đang làm hài lòng chúng sanh, đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của bảy mươi tám koṭi vị.
Inda-bh 8Và bậc Đại Ẩn Sĩ ấy cũng đã có ba lần tụ hội gồm các vị đã đạt đến năng lực của các thắng trí và đã được đơm hoa trong sự giải thoát.
Inda-bh 9Khi ấy, đã có cuộc tụ hội của tám trăm ngàn vị có sự tham đắm si mê đã được đoạn tận và có tâm thanh tịnh như thế ấy.
Inda-bh 10Lần hội tụ thứ nhì là của bảy trăm ngàn vị không còn ô nhiễm, thoát khỏi bụi trần, có sự an tịnh như thế ấy.
Inda-bh 11Lần hội tụ thứ ba là của sáu trăm ngàn vị đã đạt đến năng lực của các thắng trí, có sự nỗ lực cao, đã chứng Niết Bàn.
Inda-bh 12Vào lúc bấy giờ, ta là loài Dạ-xoa có đại thần lực, là chúa tể cai quản nhiều koṭi dạ-xoa.
Inda-bh 13Khi ấy, ta cũng đã đi đến gặp bậc Đại Ẩn Sĩ, đức Phật cao quý ấy, và đã làm hài lòng đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng hội chúng bằng cơm nước.
Inda-bh 14Khi ấy, bậc Hiền Triết ấy, có nhãn quan thanh tịnh, cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này, người này sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 15Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 16Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 17Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 18Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề, bậc Vô Thượng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Inda-bh 19Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 20Kolita và Upatissa sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng ấy.
Inda-bh 21Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 22Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 23Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 24Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 25“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 26Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 27Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 28Nghe được lời nói của vị ấy, ta trở nên mừng rỡ, có tâm trí phấn chấn, đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Inda-bh 29Thành phố có tên là Candavatī, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Yasavā, người mẹ của bậc Đạo Sư Anomadassī tên là Yasodharā.
Inda-bh 30Vị ấy đã sống ở giữa gia đình trong mười ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Siri, Upasiri, và Sirivaḍḍha.
Inda-bh 31Có hai mươi ba ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Sirimā. Con trai tên là Upavāna.
Inda-bh 32Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng kiệu khiêng và đã ra sức nỗ lực mười tháng không thiếu sót.
Inda-bh 33Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Đại Hiền Triết, đấng Đại Hùng Anomadassī ấy, đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) ở tại công viên Sudassana.
Inda-bh 34Nisabha và Anoma đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đạo Sư Anomadassī tên là Varuṇa.
Inda-bh 35Sundarī và Sumanā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là “Ajjuna.”
Inda-bh 36Nandivaḍḍha và Sirivaḍḍha đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Uppalā và luôn cả Padumā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 37Bậc Đại Hiền Triết cao năm mươi tám ratana (14 mét rưỡi). Hào quang của vị ấy phát ra như là ánh mặt trời mọc.
Inda-bh 38Tuổi thọ được biết là kéo dài đến một trăm ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 39Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng đã được rạng rỡ, lời tuyên thuyết khéo được đơm hoa nhờ vào các vị A-la-hán đã ly tham ái, không còn ô nhiễm như thế ấy.
Inda-bh 40Bậc Đạo Sư có danh tiếng vô lượng ấy và hai vị (Thinh Văn hàng đầu) vô song ấy, tất cả đều hoàn toàn biết mất; phải chăng tất cả các hành là trống không?
Inda-bh 41Đấng Chiến Thắng, bậc Đạo Sư Anomadassī đã Niết Bàn tại tu viện Dhamma. Ngôi bảo tháp của đấng Chiến Thắng dành cho vị ấy có chiều cao hai mươi lăm (do-tuần) ở ngay tại nơi ấy.
Lịch sử đức Phật Anomadassī là phần thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sobhitassa aparena, sambuddho dvipaduttamo;
Anomadassī amitayaso, tejassī duratikkamo.
After Sobhita, there arose in the world the Sambuddha Anomadassī, supreme among bipeds, of limitless fame, majestic, and invincible.
Sau thời của đức Phật Sobhita, bậc Chánh Giác tối thượng trong loài hai chân, tên là Anomadassī, có danh tiếng vô lượng, đầy uy lực, không ai vượt qua được, (đã xuất hiện).
2.
2.
2.
So chetvā bandhanaṃ sabbaṃ, viddhaṃsetvā tayo bhave;
Anivattigamanaṃ maggaṃ, desesi devamānuse.
Having cut off all bonds and demolished the three kinds of existence, he taught the path of no-return to devas and humans.
Vị ấy, sau khi chặt đứt tất cả sự trói buộc, sau khi phá hủy ba cõi, đã thuyết giảng cho chư thiên và nhân loại con đường đi đến nơi không còn quay trở lại.
3.
3.
3.
Sāgarova asaṅkhobho, pabbatova durāsado;
Ākāsova ananto so, sālarājāva phullito.
Like the ocean, he was unshakable; like a mountain, hard to assail; like space, he was infinite; like a sāl-tree king in full bloom.
Vị ấy không bị khuấy động như đại dương, khó đến gần như ngọn núi, vô tận như hư không, và (rực rỡ) như cây sala chúa đang nở rộ.
4.
4.
4.
Dassanenapi taṃ buddhaṃ, tositā honti pāṇino;
Byāharantaṃ giraṃ sutvā, amataṃ pāpuṇanti te.
Just by seeing that Buddha, living beings are delighted; hearing the words he utters, they attain the Deathless.
Chúng sanh trở nên hoan hỷ chỉ bằng việc được thấy đức Phật ấy. Sau khi nghe lời Ngài nói, họ đạt đến Bất tử.
5.
5.
5.
Dhammābhisamayo tassa, iddho phīto tadā ahu;
Koṭisatāni abhisamiṃsu, paṭhame dhammadesane.
The realization of the Dhamma by his assembly was then successful and prosperous; at the first Dhamma discourse, a hundred koṭis attained comprehension.
Khi ấy, sự chứng ngộ Pháp của Ngài đã thành tựu và phát triển. Trong lần thuyết pháp đầu tiên, một trăm koṭi (chúng sanh) đã chứng ngộ.
6.
6.
6.
Tato paraṃ abhisamaye, vassante dhammavuṭṭhiyo;
Asītikoṭiyobhisamiṃsu, dutiye dhammadesane.
Then later, at the second Dhamma discourse, when the great rain of Dhamma fell, eighty koṭis attained comprehension.
Về sau, trong một lần chứng ngộ khác, khi cơn mưa Pháp đổ xuống, trong lần thuyết pháp thứ hai, tám mươi koṭi (chúng sanh) đã chứng ngộ.
7.
7.
7.
Tatoparañhi vassante, tappayante ca pāṇinaṃ;
Aṭṭhasattatikoṭīnaṃ, tatiyābhisamayo ahu.
Then afterwards, as he rained down the teaching and satisfied living beings, the third realization occurred for seventy-eight koṭis.
Về sau nữa, khi (cơn mưa Pháp) đổ xuống làm cho chúng sanh thỏa mãn, sự chứng ngộ lần thứ ba đã xảy ra cho bảy mươi tám koṭi (chúng sanh).
8.
8.
8.
Sannipātā tayo āsuṃ, tassāpi ca mahesino;
Abhiññābalappattānaṃ, pupphitānaṃ vimuttiyā.
There were three assemblies for that great sage, of those who had attained the power of higher knowledge and had blossomed in liberation.
Vị Đại Ẩn sĩ ấy cũng đã có ba lần hội chúng của các vị đã đạt được năng lực thắng trí, đã nở hoa bằng sự giải thoát.
9.
9.
9.
Aṭṭhasatasahassānaṃ, sannipāto tadā ahu;
Pahīnamadamohānaṃ, santacittāna tādinaṃ.
There was then a first assembly of eight hundred thousand who had abandoned intoxication and delusion, who were tranquil-minded and steadfast.
Khi ấy, đã có cuộc hội họp của tám trăm ngàn vị đã từ bỏ kiêu mạn và si mê, có tâm tịch tịnh, và có phẩm chất như thế.
10.
10.
10.
Sattasatasahassānaṃ, dutiyo āsi samāgamo;
Anaṅgaṇānaṃ virajānaṃ, upasantāna tādinaṃ.
The second assembly was of seven hundred thousand who were stainless, dust-free, serene, and steadfast.
Cuộc hội họp thứ hai là của bảy trăm ngàn vị không còn phiền não, không còn bụi bặm, đã tịch tịnh, và có phẩm chất như thế.
11.
11.
11.
Channaṃ satasahassānaṃ, tatiyo āsi samāgamo;
Abhiññābalappattānaṃ, nibbutānaṃ tapassinaṃ.
The third assembly was of six hundred thousand ascetics who had attained the power of higher knowledge and were extinguished.
Cuộc hội họp thứ ba là của sáu trăm ngàn vị đã đạt được năng lực thắng trí, đã tịch diệt, và là những bậc khổ hạnh.
12.
12.
12.
Ahaṃ tena samayena, yakkho āsiṃ mahiddhiko;
Nekānaṃ yakkhakoṭīnaṃ, vasavattimhi issaro.
At that time I was a yakkha of great power, a sovereign exercising mastery over many koṭis of yakkhas.
Vào thời điểm ấy, ta là một dạ-xoa có đại thần lực, là người chủ có quyền kiểm soát nhiều koṭi dạ-xoa.
13.
13.
13.
Tadāpi taṃ buddhavaraṃ, upagantvā mahesinaṃ;
Annapānena tappesiṃ, sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ.
Then too, having approached that excellent Buddha, the great sage, I satisfied the Leader of the World and his Saṅgha with food and drink.
Cũng vào lúc ấy, sau khi đến gần vị Đại Ẩn sĩ, bậc Chánh Giác cao quý ấy, ta đã làm cho vị Lãnh đạo thế gian cùng với Tăng chúng thỏa mãn bằng vật thực và thức uống.
14.
14.
14.
Sopi maṃ tadā byākāsi, visuddhanayano muni;
‘‘Aparimeyyito kappe, ayaṃ buddho bhavissati.
That sage with the purified eye also made this prediction about me then: ‘In an immeasurable eon from now, this one will become a Buddha in the world.’
Khi ấy, vị Ẩn sĩ có con mắt thanh tịnh ấy cũng đã thọ ký cho ta rằng: “Vô lượng kiếp kể từ đây, vị này sẽ trở thành một vị Phật.”
15.
15.
15.
‘‘Padhānaṃ padahitvāna…pe… hessāma sammukhā imaṃ’’.
‘Having striven in the striving …pe… we shall come face to face with this one.’
“Sau khi đã nỗ lực tinh tấn… vân vân… chúng ta sẽ ở trước mặt vị này.”
16.
16.
16.
Tassāpi vacanaṃ sutvā, haṭṭho saṃviggamānaso;
Uttariṃ vatamadhiṭṭhāsiṃ, dasapāramipūriyā.
Having heard his words, joyful and with a mind stirred by urgency, I undertook a further vow for the fulfillment of the ten perfections.
Sau khi nghe lời của vị ấy, ta, với tâm hoan hỷ và xúc động, đã quyết tâm thực hành hạnh nguyện cao hơn nữa để làm tròn mười ba-la-mật.
17.
17.
17.
Nagaraṃ candavatī nāma, yasavā nāma khattiyo;
Mātā yasodharā nāma, anomadassissa satthuno.
Of the Teacher Anomadassī, the city was named Candavatī, the khattiya was named Yasavā, and the mother was named Yasodharā.
Thành phố của Đức Đạo Sư Anomadassī tên là Candavatī, vua cha tên là Yasavā, mẹ tên là Yasodharā.
18.
18.
18.
Dasavassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi;
Sirī upasirī vaḍḍho, tayo pāsādamuttamā.
For ten thousand years, he dwelt in the household life. Sirī, Upasirī, and Vaḍḍha—these were his three excellent palaces.
Vị ấy đã sống tại gia mười ngàn năm. Ba cung điện cao quý là Sirī, Upasirī, và Vaḍḍha.
19.
19.
19.
Tevīsatisahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Sirimā nāma sā nārī, upavāṇo nāma atrajo.
There were twenty-three thousand well-adorned women. The chief consort was named Sirimā, and his son was named Upavāṇa.
(Ngài có) hai mươi ba ngàn cung nữ được trang điểm lộng lẫy. Vị chánh phi tên là Sirimā, con trai tên là Upavāṇa.
20.
20.
20.
Nimitte caturo disvā, sivikāyābhinikkhami;
Anūnadasamāsāni, padhānaṃ padahī jino.
Having seen the four signs, he went forth in a palanquin; for a full ten months the Victor practiced the striving.
Sau khi thấy bốn điềm báo, Ngài đã xuất gia bằng kiệu. Bậc Chiến Thắng đã nỗ lực tinh tấn tròn mười tháng.
21.
21.
21.
Brahmunā yācito santo, anomadassī mahāmuni;
Vatti cakkaṃ mahāvīro, uyyāne so sudassane †.
Requested by Brahmā, the serene great sage Anomadassī, the great hero, set in motion the Wheel in the Sudassana park.
Được Phạm thiên thỉnh cầu, bậc tịch tịnh, Đại Ẩn sĩ Anomadassī, bậc Đại Hùng ấy đã chuyển bánh xe (Pháp) tại khu vườn tên là Sudassana.
22.
22.
22.
Nisabho ca anomo ca †, ahesuṃ aggasāvakā;
Varuṇo nāmupaṭṭhāko, anomadassissa satthuno.
Nisabha and Anoma were the chief disciples; the attendant of the Teacher Anomadassī was named Varuṇa.
Nisabha và Anoma là hai vị Thượng thủ Thinh văn. Vị thị giả tên là Varuṇa, của Đức Đạo Sư Anomadassī.
23.
23.
23.
Sundarī ca sumanā ca, ahesuṃ aggasāvikā;
Bodhi tassa bhagavato, ajjunoti pavuccati.
Sundarī and Sumanā were the chief female disciples; the Bodhi tree of that Blessed One is called the Ajjuna tree.
Sundarī và Sumanā là hai vị Thượng thủ Thinh văn Ni. Cây Bồ-đề của Đức Thế Tôn ấy được gọi là cây Ajjuna.
24.
24.
24.
Nandivaḍḍho sirivaḍḍho, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Uppalā ceva padumā ca, ahesuṃ aggupaṭṭhikā.
Nandivaḍḍha and Sirivaḍḍha were the chief male lay supporters; Uppalā and Padumā were the chief female lay supporters.
Nandivaḍḍha và Sirivaḍḍha là hai vị Thượng thủ hộ độ nam. Uppalā và Padumā là hai vị Thượng thủ hộ độ nữ.
25.
25.
25.
Aṭṭhapaṇṇāsaratanaṃ, accuggato mahāmuni;
Pabhā niddhāvatī tassa, sataraṃsīva uggato.
The great sage was fifty-eight cubits tall; his radiance streamed forth like the rising, hundred-rayed sun.
Vị Đại Ẩn sĩ cao năm mươi tám ratana. Hào quang của Ngài tỏa ra như mặt trời vừa mọc.
26.
26.
26.
Vassasatasahassāni, āyu vijjati tāvade;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
The lifespan then was one hundred thousand years; remaining for that long, he ferried many people across.
Khi ấy, tuổi thọ là một trăm ngàn năm. Trong khi còn tại thế chừng ấy thời gian, vị ấy đã cứu vớt nhiều chúng sanh.
27.
27.
27.
Supupphitaṃ pāvacanaṃ, arahantehi tādihi;
Vītarāgehi vimalehi, sobhittha jinasāsanaṃ.
The teaching was well-flowered with Arahants who were steadfast, free from passion, and stainless; the Victor's dispensation was resplendent.
Giáo pháp của bậc Chiến Thắng đã nở rộ tốt đẹp và trở nên rực rỡ, nhờ các vị A-la-hán có phẩm chất như thế, đã ly tham và không còn cấu uế.
28.
28.
28.
So ca satthā amitayaso, yugāni tāni atuliyāni;
Sabbaṃ tamantarahitaṃ, nanu rittā sabbasaṅkhārā.
That Teacher of incomparable fame, and those incomparable pairs of disciples—all that has vanished. Surely, all conditioned formations are empty.
Vị Đạo Sư ấy có danh tiếng vô lượng, và các cặp (Thinh văn) ấy cũng không gì sánh bằng; tất cả những điều ấy đã biến mất. Quả thật, tất cả các pháp hữu vi đều là trống rỗng.
29.
29.
29.
Anomadassī jino satthā, dhammārāmamhi nibbuto;
Tatthevassa jinathūpo, ubbedho pañcavīsatīti.
The Victor Anomadassī, the Teacher, attained Parinibbāna in Dhammārāma; his Victor's stūpa there was twenty-five yojanas in height.
Đức Phật Toàn Giác Anomadassī, bậc Đạo Sư, đã nhập Niết Bàn tại tu viện Dhammārāma. Ngay tại nơi ấy, bảo tháp của bậc Toàn Giác cao hai mươi lăm do-tuần.
The seventh chronicle, that of the Blessed One Anomadassī, is finished.
Phẩm thứ bảy: Phật Sử của Đức Thế Tôn Anomadassī.