Bản dịch
BV 10 — Lịch Sử Đức Phật Paduma
10. Padumabuddhavaṁsa
Inda-bh 1Sau (đức Phật) Anomadassī, đấng Toàn Giác, bậc Tối Thượng Nhân tên Paduma là không kẻ sánh bằng, không người đối thủ.
Inda-bh 2Giới của vị ấy là không ai sánh bằng, định là không có giới hạn, trí tuệ cao quý là không thể tính đếm, và giải thoát là không có tương đương.
Inda-bh 3Cũng vào lúc chuyển vận bánh xe Chánh Pháp của vị có oai lực vô song ấy, đã có ba cuộc lãnh hội là sự xua đuổi đi bóng đêm mù mịt.
Inda-bh 4Ở sự lãnh hội lần thứ nhất, đức Phật đã giác ngộ một trăm koṭi vị. Ở sự lãnh hội lần thứ nhì, bậc Thông Minh đã giác ngộ chín mươi koṭi vị.
Inda-bh 5Và vào lúc đức Phật Paduma giáo huấn người con trai của mình, khi ấy đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của tám chục koṭi vị.
Inda-bh 6Bậc Đại Ẩn Sĩ Paduma đã có ba lần tụ hội. Cuộc hội tụ thứ nhất là của một trăm ngàn koṭi vị.
Inda-bh 7Vào dịp tiến hành lễ Kaṭhina, khi y Kaṭhina được phát sanh, các vị tỳ khưu đã may y để giao cho vị Tướng Quân Chánh Pháp.
Inda-bh 8Khi ấy, ba trăm ngàn vị đã tụ hội lại. Các vị tỳ khưu ấy là không còn ô nhiễm, có sáu thắng trí, có đại thần lực, không bị khuất phục.
Inda-bh 9Cũng vào dịp khác, đấng Nhân Ngưu ấy đã vào mùa (an cư) mưa ở trong rừng. Khi ấy, đã có cuộc hội tụ của hai trăm ngàn vị.
Inda-bh 10Vào lúc bấy giờ, ta là con sư tử chúa tể của các loài thú. Ta đã nhìn thấy đấng Chiến Thắng đang thực hành hạnh độc cư ở trong rừng.
Inda-bh 11Ta đã đê đầu đảnh lễ ở chân (của đức Phật) rồi đã đi nhiễu quanh vị ấy, sau đó đã rống lên ba lần rồi đã phục vụ đấng Chiến Thắng bảy ngày.
Inda-bh 12Sau khi xuất khỏi bảy ngày nhập thiền cao quý, đức Như Lai dụng tâm suy xét rồi đã triệu tập một koṭi (mười triệu) vị tỳ khưu.
Inda-bh 13Khi ấy, ở giữa các vị (tỳ khưu) ấy, đấng Đại Hùng ấy cũng đã chú nguyện rằng: “Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này, người này sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 14Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 15Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 16Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 17Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề tối thắng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Inda-bh 18Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 19Kolita và Upatissa sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng ấy.
Inda-bh 20Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 21Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 22Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 23Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 24“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 25Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 26Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 27Nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Inda-bh 28Thành phố có tên là Campaka, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Asama, người mẹ của vị Đại Ẩn Sĩ Paduma tên là Asamā.
Inda-bh 29Vị ấy đã sống ở giữa gia đình trong mười ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Uttara, Vasu, và Yasuttara.
Inda-bh 30Và có ba mươi ba ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Uttarā. Con trai tên là Ramma.
Inda-bh 31Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện xe và đã ra sức nỗ lực tám tháng không thiếu sót.
Inda-bh 32Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng Paduma đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) ở tại công viên Dhanañja tuyệt vời.
Inda-bh 33Sāla và Upasāla đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Paduma tên là Varuṇa.
Inda-bh 34Rādhā và luôn cả Surādhā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là “Soṇa vĩ đại.”
Inda-bh 35Bhiyya và luôn cả Asama đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Rucī và Nandirāmā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 36Vị Đại Hiền Triết ấy cao năm mươi tám ratana (14.5 mét). Hào quang không gì sánh bằng của vị ấy chiếu sáng tất cả các phương.
Inda-bh 37Ánh sánh của mặt trăng, ánh sáng của mặt trời, ánh sáng của châu báu và ngọc ma-ni đắt giá, tất cả các loại ánh sáng ấy đều bị tiêu tan khi sánh cùng hào quang tối thượng của đấng Chiến Thắng.
Inda-bh 38Tuổi thọ được biết là kéo dài đến một trăm ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 39Sau khi đã giác ngộ những chúng sanh có tâm trí đã được chín muồi không thiếu sót (người nào), sau khi chỉ dạy những người còn lại vị ấy cùng các vị Thinh Văn đã Niết Bàn.
Inda-bh 40Ví như con rắn bỏ đi lớp da già cỗi, ví như cây cối rủ bỏ lá úa tàn, vị ấy sau khi buông bỏ các hành đã Niết Bàn tương tợ như ngọn lửa đã được dập tắt.
Inda-bh 41Bậc Đạo Sư Paduma, đấng Chiến Thắng cao quý đã Niết Bàn tại tu viện Dhamma. Đã có sự phân tán xá-lợi từ xứ sở ấy đến khắp các nơi.
Lịch sử đức Phật Paduma là phần thứ tám.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Anomadassissa aparena, sambuddho dvipaduttamo;
Padumo nāma nāmena, asamo appaṭipuggalo.
After Anomadassī, there arose the Perfectly Enlightened One, supreme among two-footed beings, Paduma by name, unequalled, without a counterpart.
Sau thời của Đức Phật Anomadassī, một vị Chánh Đẳng Giác, bậc tối thượng giữa các loài hai chân, đã xuất hiện. Ngài có danh hiệu là Paduma, không ai sánh bằng, không có đối thủ.
2.
2.
2.
Tassāpi asamaṃ sīlaṃ, samādhipi anantako;
Asaṅkheyyaṃ ñāṇavaraṃ, vimuttipi anūpamā.
His virtue was also unequalled, his concentration was also boundless, his excellent knowledge was incalculable, and his liberation was also incomparable.
Giới đức của ngài cũng không ai sánh bằng, định lực của ngài cũng vô biên. Trí tuệ tối thượng của ngài không thể tính đếm, và sự giải thoát của ngài cũng không thể ví von.
3.
3.
3.
Tassāpi atulatejassa, dhammacakkappavattane;
Abhisamayā tayo āsuṃ, mahātamapavāhanā.
For him of unequalled power, at the turning of the Wheel of Dhamma, there were three realizations that dispelled the great darkness.
Khi ngài, bậc có uy lực không gì sánh bằng, chuyển Pháp luân, đã có ba lần hội chúng chứng ngộ, phá tan bóng tối vô minh dày đặc.
4.
4.
4.
Paṭhamābhisamaye buddho, koṭisatamabodhayi;
Dutiyābhisamaye dhīro, navutikoṭimabodhayi.
At the first realization, the Buddha awakened one hundred koṭis; at the second realization, the steadfast one awakened ninety koṭis.
Trong lần hội chúng chứng ngộ đầu tiên, Đức Phật đã giác ngộ cho một trăm ức chúng sanh. Trong lần hội chúng chứng ngộ thứ hai, bậc Trí Tuệ đã giác ngộ cho chín mươi ức chúng sanh.
5.
5.
5.
Yadā ca padumo buddho, ovadī sakamatrajaṃ;
Tadā asītikoṭīnaṃ, tatiyābhisamayo ahu.
And when the Buddha Paduma admonished his own son, the third realization occurred for eighty koṭis.
Và khi Đức Phật Paduma giáo huấn cho chính con trai của ngài, khi ấy đã có lần hội chúng chứng ngộ thứ ba của tám mươi ức chúng sanh.
6.
6.
6.
Sannipātā tayo āsuṃ, padumassa mahesino;
Koṭisatasahassānaṃ, paṭhamo āsi samāgamo.
There were three assemblies of the great seer Paduma. The first gathering consisted of one hundred thousand koṭis of Arahants.
Đã có ba lần hội họp các vị Thinh văn của Đức Đại Sĩ Paduma. Lần hội họp đầu tiên là của một trăm ngàn ức vị (A-la-hán).
7.
7.
7.
Kathinatthārasamaye, uppanne kathinacīvare;
Dhammasenāpatitthāya, bhikkhū sibbiṃsu † cīvaraṃ.
At the time of the spreading of the kathina, when the kathina robe-material had arisen, the bhikkhus sewed a robe for the General of the Dhamma.
Vào lúc lễ dâng y Kaṭhina, khi y Kaṭhina phát sanh, các vị tỳ-khưu đã may y cho vị Pháp Tướng quân (Sāla).
8.
8.
8.
Tadā te vimalā bhikkhū, chaḷabhiññā mahiddhikā;
Tīṇi satasahassāni, samiṃsu aparājitā.
Then three hundred thousand of those bhikkhus assembled—stainless, undefeated, possessors of the six superknowledges and great psychic power.
Khi ấy, ba trăm ngàn vị tỳ-khưu đã hội họp. Các ngài là những bậc vô nhiễm, Lục thông, có đại thần lực, và bất khả chiến bại.
9.
9.
9.
Punāparaṃ so narāsabho †, pavane vāsaṃ upāgami;
Tadā samāgamo āsi, dvinnaṃ satasahassinaṃ.
Again, on another occasion, that bull of men went to dwell in the forest; then there was a gathering of two hundred thousand Arahants.
Lại một lần khác, bậc Nhân Ngưu ấy đã đến an cư trong rừng. Khi ấy, đã có một cuộc hội họp của hai trăm ngàn vị (A-la-hán).
10.
10.
10.
Ahaṃ tena samayena, sīho āsiṃ migādhibhū;
Vivekamanubrūhantaṃ, pavane addasaṃ jinaṃ.
At that time I was a lion, the lord of beasts. I saw the Victor in the forest cultivating seclusion.
Vào thời điểm ấy, ta là một con sư tử, chúa tể của các loài thú. Ta đã nhìn thấy bậc Toàn Giác đang tu tập nơi vắng lặng trong khu rừng.
11.
11.
11.
Vanditvā sirasā pāde, katvāna taṃ padakkhiṇaṃ;
Tikkhattuṃ abhināditvā, sattāhaṃ jinamupaṭṭhahaṃ.
Having venerated his feet with my head and circumambulated him, I roared three times and attended on the Victor for seven days.
Sau khi cúi đầu đảnh lễ đôi chân ngài và đi nhiễu quanh ngài theo chiều bên phải, ta đã rống lên ba tiếng và hầu hạ bậc Toàn Giác trong suốt bảy ngày.
12.
12.
12.
Sattāhaṃ varasamāpattiyā, vuṭṭhahitvā tathāgato;
Manasā cintayitvāna, koṭibhikkhū samānayi.
Having emerged after seven days from the supreme attainment, the Tathāgata, having considered it in his mind, summoned a koṭi of bhikkhus.
Sau bảy ngày, Đức Như Lai xuất khỏi định chứng cao thượng, ngài dùng tâm niệm và triệu tập một ức vị tỳ-khưu.
13.
13.
13.
Tadāpi so mahāvīro, tesaṃ majjhe viyākari;
‘‘Aparimeyyito kappe, ayaṃ buddho bhavissati.
Then that great hero also made a prediction in their midst: ‘In an incalculable eon from now, this one will become a Buddha.’
Khi ấy, bậc Đại Hùng ấy đã thọ ký giữa hội chúng rằng: ‘Trong một kiếp không thể đếm được kể từ đây, vị này sẽ trở thành một vị Phật.’
14.
14.
14.
‘‘Padhānaṃ padahitvāna…pe… hessāma sammukhā imaṃ’’.
‘Having undertaken the striving… we will come face to face with this one.’
‘Sau khi đã nỗ lực tinh tấn... chúng con sẽ được diện kiến ngài.’
15.
15.
15.
Tassāpi vacanaṃ sutvā, bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ;
Uttariṃ vatamadhiṭṭhāsiṃ, dasapāramipūriyā.
Having heard his words, I clarified my mind even more. I undertook a further vow for the fulfillment of the ten perfections.
Nghe lời của ngài, tâm ta lại càng thêm thanh tịnh. Ta đã quyết tâm thực hành hạnh nguyện cao hơn nữa để làm viên mãn mười pháp Ba-la-mật.
16.
16.
16.
Campakaṃ nāma nagaraṃ, asamo nāma khattiyo;
Asamā nāma janikā, padumassa mahesino.
The city of the great seer Paduma was named Campaka; the khattiya, his father, was named Asama; and his mother was named Asamā.
Kinh thành của Đức Đại Sĩ Paduma tên là Campaka, vua cha thuộc dòng Sát-đế-lỵ tên là Asama, và mẫu hậu tên là Asamā.
17.
17.
17.
Dasavassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi;
Nandāvasuyasuttarā, tayo pāsādamuttamā.
For ten thousand years he dwelt in the household life. Nanduttara, Vasuttara, and Yasuttara were his three excellent palaces.
Ngài đã sống tại gia trong mười ngàn năm. Có ba cung điện tối thượng là Nandā, Vasu, và Yasuttarā.
18.
18.
18.
Tettiṃsa ca sahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Uttarā nāma sā nārī, rammo nāmāsi atrajo.
There were thirty-three thousand well-adorned women. His chief consort was named Uttarā, and his son was named Ramma.
Có ba mươi ba ngàn cung nữ được trang điểm lộng lẫy. Chánh phi của ngài tên là Uttarā, và con trai tên là Ramma.
19.
19.
19.
Nimitte caturo disvā, rathayānena nikkhami;
Anūnaaṭṭhamāsāni, padhānaṃ padahī jino.
Having seen the four signs, he went forth by chariot. For a full eight months the Victor engaged in the striving.
Sau khi nhìn thấy bốn điềm báo, ngài đã xuất gia bằng xe ngựa. Bậc Toàn Giác đã thực hành khổ hạnh tinh tấn trong suốt tám tháng không gián đoạn.
20.
20.
20.
Brahmunā yācito santo, padumo lokanāyako;
Vatti cakkaṃ mahāvīro, dhanañcuyyānamuttame.
Requested by Brahmā, the tranquil Paduma, leader of the world, the great hero, set the Wheel in motion in the excellent Dhanañcuya Park.
Được Phạm thiên thỉnh cầu, bậc Tịch Tĩnh, Đức Paduma, vị Lãnh Đạo thế gian, bậc Đại Hùng đã chuyển Pháp luân tại khu vườn thượng uyển Dhanañjaya.
21.
21.
21.
Sālo ca upasālo ca, ahesuṃ aggasāvakā;
Varuṇo nāmupaṭṭhāko, padumassa mahesino.
Sāla and Upasāla were the chief disciples; the attendant of the great seer Paduma was named Varuṇa.
Sāla và Upasāla là hai vị Thượng thủ Thinh văn. Vị thị giả của Đức Đại Sĩ Paduma tên là Varuṇa.
22.
22.
22.
Rādhā ceva surādhā ca, ahesuṃ aggasāvikā;
Bodhi tassa bhagavato, mahāsoṇoti vuccati.
Rādhā and Surādhā were the chief female disciples. The Bodhi tree of that Blessed One is called the Mahāsoṇa.
Rādhā và Surādhā là hai vị Thượng thủ Ni Thinh văn. Cây Bồ-đề của Đức Thế Tôn ấy được gọi là cây Đại Soṇa.
23.
23.
23.
Bhiyyo ceva asamo ca, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Rucī ca nandarāmā ca, ahesuṃ aggupaṭṭhikā.
Bhiyya and Asama were the chief male lay supporters; Rucī and Nandarāmā were the chief female lay supporters.
Bhiyya và Asama là hai vị Thượng thủ nam cư sĩ hộ độ. Rucī và Nandarāmā là hai vị Thượng thủ nữ cư sĩ hộ độ.
24.
24.
24.
Aṭṭhapaṇṇāsaratanaṃ, accuggato mahāmuni;
Pabhā niddhāvatī tassa, asamā sabbaso disā.
The great sage was fifty-eight ratanas in height. His unequalled radiance streamed forth in all directions.
Đức Đại Giác có thân cao năm mươi tám ratana (thước tay). Hào quang vô song của ngài tỏa ra khắp mọi phương.
25.
25.
25.
Candappabhā sūriyappabhā, ratanaggimaṇippabhā;
Sabbāpi tā hatā honti, patvā jinapabhuttamaṃ.
The light of the moon, the light of the sun, the light of gems, fire, and jewels—all these are outshone when they encounter the supreme radiance of the Victor.
Ánh sáng của mặt trăng, ánh sáng của mặt trời, ánh sáng của châu báu, của lửa, và của ngọc ma-ni; tất cả những ánh sáng ấy đều bị lu mờ khi gặp được hào quang tối thượng của bậc Toàn Giác.
26.
26.
26.
Vassasatasahassāni, āyu vijjati tāvade;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
The lifespan at that time was one hundred thousand years. Remaining for that long, he ferried many people across.
Vào thời ấy, tuổi thọ là một trăm ngàn năm. Trụ thế trong khoảng thời gian ấy, ngài đã cứu độ rất nhiều chúng sanh.
27.
27.
27.
Paripakkamānase satte, bodhayitvā asesato;
Sesake anusāsitvā, nibbuto so sasāvako.
Having awakened without remainder beings whose minds were mature, and having instructed the remaining ones, he attained Nibbāna together with his disciples.
Vị ấy đã giác ngộ không sót một ai cho các chúng sanh có các căn đã thuần thục; sau khi đã giáo giới những vị còn lại, ngài đã nhập Vô Dư Niết-bàn cùng với các vị thinh văn.
28.
28.
28.
Uragova tacaṃ jiṇṇaṃ, vaddhapattaṃva pādapo;
Jahitvā sabbasaṅkhāre, nibbuto so yathā sikhī.
Like a snake its worn-out skin, or a tree its withered leaves, having abandoned all formations, he was extinguished like a fire.
Giống như con rắn từ bỏ lớp da cũ kỹ, giống như cây cối trút bỏ lá úa tàn; sau khi đã từ bỏ tất cả các pháp hữu vi, vị ấy đã tịch diệt giống như ngọn lửa (đã hết nhiên liệu).
29.
29.
29.
Padumo jinavaro satthā, dhammārāmamhi nibbuto;
Dhātuvitthārikaṃ āsi, tesu tesu padesatoti.
The excellent Victor, the Teacher Paduma, attained Nibbāna in the Dhamma Park. There was a wide dispersal of his relics in various regions.
Bậc Đạo Sư, đấng Thắng Giả cao quý Paduma, đã nhập Vô Dư Niết-bàn ở tại tu viện Dhammārāma. Xá-lợi của ngài đã được phân bố rộng rãi ở các nơi, các xứ.
The Eighth Chronicle of the Blessed One Paduma.
Chủng Tộc Ký của đức Thế Tôn Paduma, chương thứ tám.