Bản dịch
BV 8 — Lịch Sử Đức Phật Sobhita
8. Sobhitabuddhavaṁsa
Inda-bh 1Sau (đức Phật) Revata, vị Lãnh Đạo tên Sobhita là định tĩnh, có tâm thanh tịnh, không kẻ sánh bằng, không người đối thủ.
Inda-bh 2Ở tại ngôi nhà của mình, đấng Chiến Thắng ấy đã chuyển đổi tâm trí, đã đạt đến sự Giác Ngộ hoàn toàn, và đã chuyển vận bánh xe Chánh Pháp.
Inda-bh 3Từ phía dưới là từ địa ngục Avīci và từ phía trên là từ cõi trời cao nhất, trong cuộc thuyết giảng Giáo Pháp đã có một tập thể (tụ hội) ở khoảng giữa của hai nơi này.
Inda-bh 4Đấng Toàn Giác đã chuyển vận bánh xe Chánh Pháp ở tại hội chúng ấy. Đã có sự lãnh hội lần thứ nhất là không thể nói được bằng cách tính đếm.
Inda-bh 5Về sau vào lúc khác, trong khi thuyết giảng ở cuộc hội tụ của chư thiên, đã có sự lãnh hội lần thứ nhì là của chín chục ngàn koṭi vị.
Inda-bh 6Vào lần khác nữa, có vị vương tử dòng Sát-đế-lỵ tên Jayasena sau khi cho trồng trọt khu vườn đã cống hiến đến đức Phật trong dịp ấy.
Inda-bh 7Trong khi công bố sự hiến dâng của vị ấy, bậc Hữu Nhãn đã thuyết giảng Giáo Pháp. Khi ấy, đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của một ngàn koṭi vị.
Inda-bh 8Bậc Đại Ẩn Sĩ Sobhita đã có ba lần tụ hội gồm có các vị Lậu Tận, không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy.
Inda-bh 9Đức vua tên Uggata ấy dâng cúng vật thí đến đấng Tối Thượng Nhân. Trong lần cúng dường ấy, một trăm koṭi vị A-la-hán đã tụ hội lại.
Inda-bh 10Vào lần khác nữa, có nhóm người thuộc đoàn thể dâng cúng vật thí đến đấng Tối Thượng Nhân. Khi ấy, đã có cuộc hội tụ thứ nhì của chín mươi koṭi vị.
Inda-bh 11Vào lúc đấng Chiến Thắng giáng trần sau khi đã cư ngụ ở cõi trời, khi ấy đã có cuộc hội tụ thứ ba của tám mươi koṭi vị.
Inda-bh 12Vào lúc bấy giờ, ta là vị Bà-la-môn tên Sujāta. Khi ấy, ta đã làm hài lòng đức Phật cùng các vị Thinh Văn bằng thức ăn nước uống.
Inda-bh 13Đức Phật ấy, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Sobhita, cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này, người này sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 14Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 15Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 16Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 17Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề, bậc Vô Thượng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Inda-bh 18Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 19Kolita và Upatissa sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng ấy.
Inda-bh 20Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 21Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 22Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 23Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 24“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 25Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 26Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 27Lắng nghe lời nói của vị ấy, ta trở nên mừng rỡ, có tâm trí phấn chấn. Ta đã thực hiện sự nỗ lực tích cực nhằm theo đuổi chính mục đích ấy.
Inda-bh 28Thành phố có tên là Sudhamma, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Sudhamma, người mẹ của vị Đại Ẩn Sĩ Sobhita tên là Sudhammā.
Inda-bh 29Vị ấy đã sống ở giữa gia đình chín ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Kumuda, Kalīra, và Paduma.
Inda-bh 30Có bảy mươi ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Makhilā. Con trai tên là Sīha.
Inda-bh 31Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, bậc Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng tòa lâu đài và đã thực hành sự nỗ lực bảy ngày. Và khi ấy trong lúc giác ngộ, đức Phật ấy đã giác ngộ ở cội cây Nāga.
Inda-bh 32Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng Sobhita đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) ở vườn thượng uyển Sudhamma tuyệt vời.
Inda-bh 33Asama và Sunetta đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Sobhita tên là Anoma. Nakulā và Sujātā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu.
Inda-bh 34Ramma và luôn cả Sudatta đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Nakulā và luôn cả Cittā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 35Cao năm mươi tám ratana (14 mét rưỡi), vị Đại Hiền Triết chiếu sáng tất cả các phương như là mặt trời mọc.
Inda-bh 36Giống như khu rừng lớn nở rộ hoa tỏa hương với các hương thơm khác loại, tương tợ y như thế lời tuyên thuyết của vị ấy tỏa hương với các hương thơm của giới.
Inda-bh 37Cũng giống như biển cả không thể được thỏa mãn bởi sự ngắm nhìn, tương tợ y như thế lời tuyên thuyết của vị ấy không thể được thỏa mãn bởi sự lắng nghe.
Inda-bh 38Tuổi thọ được biết là kéo dài đến chín mươi ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 39Sau khi đã ban lời giáo huấn và nhắc nhở các chúng sanh còn lại, vị ấy cùng với các bậc Thinh Văn đã phát cháy giống như ngọn lửa rồi đã Niết Bàn.
Inda-bh 40Đức Phật ấy là vị tương đương với các bậc không thể sánh bằng, và các vị Thinh Văn ấy là đã thành tựu các năng lực, tất cả đều hoàn toàn biết mất; phải chăng tất cả các hành là trống không?
Inda-bh 41Đức Phật Sobhita, đấng Toàn Giác cao quý đã Niết Bàn tại tu viện Sīha. Đã có sự phân tán xá-lợi từ xứ sở ấy đến khắp các nơi.
Lịch sử đức Phật Sobhita là phần thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Revatassa aparena, sobhito nāma nāyako;
Samāhito santacitto, asamo appaṭipuggalo.
After Revata, there was the leader named Sobhita, composed and with a tranquil mind, unequalled, without a counterpart.
Sau thời đức Phật Revata, bậc Lãnh Đạo tên Sobhita đã xuất hiện; Ngài có tâm định tĩnh, tâm an tịnh, không ai sánh bằng, không người đối thủ.
2.
2.
2.
So jino sakagehamhi, mānasaṃ vinivattayi;
Patvāna kevalaṃ bodhiṃ, dhammacakkaṃ pavattayi.
That Victor turned his mind away from his own home; having attained complete enlightenment, he set in motion the Wheel of Dhamma.
Vị Chiến Thắng ấy, trong nhà của mình, đã khiến tâm ý thoái chuyển. Sau khi đạt được sự Giác Ngộ viên mãn, Ngài đã chuyển Pháp Luân.
3.
3.
3.
Yāva heṭṭhā avīcito, bhavaggā cāpi uddhato;
Etthantare ekaparisā, ahosi dhammadesane.
From Avīci below up to the peak of existence, there was one assembly for his teaching of the Dhamma.
Từ phía dưới là địa ngục Vô Gián, và cả từ phía trên là cõi Hữu Đảnh; trong khoảng giữa ấy, chỉ có một hội chúng duy nhất trong buổi thuyết Pháp.
4.
4.
4.
Tāya parisāya sambuddho, dhammacakkaṃ pavattayi;
Gaṇanāya na vattabbo, paṭhamābhisamayo ahu.
To that assembly the Perfectly Enlightened One set in motion the Wheel of Dhamma; the first realization was beyond calculation.
Đối với hội chúng ấy, bậc Chánh Đẳng Giác đã chuyển Pháp Luân. Sự chứng ngộ lần đầu tiên đã xảy ra, không thể nào nói được bằng cách tính đếm.
5.
5.
5.
Tato parampi desente, marūnañca samāgame;
Navutikoṭisahassānaṃ, dutiyābhisamayo ahu.
Then again, while he was teaching at an assembly of devas, the second realization occurred for ninety thousand koṭis.
Sau đó, vào một dịp khác, trong lúc Ngài thuyết giảng tại buổi hội họp của chư Thiên, sự chứng ngộ lần thứ hai đã xảy ra cho chín mươi ngàn koti (vị).
6.
6.
6.
Punāparaṃ rājaputto, jayaseno nāma khattiyo;
Ārāmaṃ ropayitvāna, buddhe niyyādayī tadā.
Then again, a prince, the khattiya named Jayasena, having established a park, presented it to the Buddha.
Lại một lần khác, vị vương tử, thuộc dòng Sát-đế-lỵ, tên là Jayasena, sau khi cho xây dựng một ngôi tịnh xá, vào lúc ấy đã dâng cúng đến đức Phật.
7.
7.
7.
Tassa yāgaṃ pakittento, dhammaṃ desesi cakkhumā;
Tadā koṭisahassānaṃ, tatiyābhisamayo ahu.
Praising his offering, the One with Vision taught the Dhamma; then the third realization occurred for a thousand koṭis.
Bậc Hữu Nhãn, trong khi tán dương sự cúng dường của vị ấy, đã thuyết giảng Chánh Pháp. Vào lúc ấy, sự chứng ngộ lần thứ ba đã xảy ra cho một ngàn koti (vị).
8.
8.
8.
Sannipātā tayo āsuṃ, sobhitassa mahesino;
Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ, santacittāna tādinaṃ.
There were three assemblies of the great sage Sobhita—of those with taints destroyed, the stainless, the tranquil-minded, the steadfast.
Đã có ba lần hội họp các vị A-la-hán, là những đệ tử của đức Đại Sĩ Sobhita, các Ngài là những bậc đã đoạn tận lậu hoặc, không còn cấu uế, có tâm an tịnh, và vững chắc.
9.
9.
9.
Uggato nāma so rājā, dānaṃ deti naruttame;
Tamhi dāne samāgañchuṃ, arahantā † satakoṭiyo.
A king named Uggata gave a gift to the supreme man; at that offering, a hundred koṭis of arahants assembled.
Vị vua tên là Uggata đã dâng cúng dường đến bậc Tối Thượng Nhân. Trong buổi cúng dường ấy, một trăm koti vị A-la-hán đã tụ hội.
10.
10.
10.
Punāparaṃ puragaṇo †, deti dānaṃ naruttame;
Tadā navutikoṭīnaṃ, dutiyo āsi samāgamo.
Again, the people of the city gave a gift to the supreme man; then the second assembly was of ninety koṭis.
Lại một lần khác, hội chúng trong thành đã dâng cúng dường đến bậc Tối Thượng Nhân. Vào lúc ấy, đã có cuộc hội họp lần thứ hai của chín mươi koti (vị).
11.
11.
11.
Devaloke vasitvāna, yadā orohatī jino;
Tadā asītikoṭīnaṃ, tatiyo āsi samāgamo.
After dwelling in the world of the devas, when the Victor descended, the third assembly was of eighty koṭis.
Khi bậc Chiến Thắng, sau khi đã an cư ở cõi trời, ngự xuống, vào lúc ấy đã có cuộc hội họp lần thứ ba của tám mươi koti (vị).
12.
12.
12.
Ahaṃ tena samayena, sujāto nāma brāhmaṇo;
Tadā sasāvakaṃ buddhaṃ, annapānena tappayiṃ.
At that time I was a brahmin named Sujāta; I then satisfied the Buddha and his disciples with food and drink.
Vào thời điểm ấy, Ta là một vị Bà-la-môn tên là Sujāta. Vào lúc ấy, Ta đã làm cho đức Phật cùng chúng đệ tử của Ngài được thỏa mãn với vật thực và thức uống.
13.
13.
13.
Sopi maṃ buddho byākāsi, sobhito lokanāyako;
‘‘Aparimeyyito kappe, ayaṃ buddho bhavissati.
That Buddha Sobhita, the Leader of the World, also made this prediction about me: ‘In an immeasurable eon from now, this one will become a Buddha.’
Đức Phật Sobhita ấy, bậc Lãnh Đạo thế gian, cũng đã thọ ký cho Ta rằng: ‘Sau một kiếp không thể đo lường được kể từ đây, vị này sẽ trở thành một vị Phật.’
14.
14.
14.
‘‘Padhānaṃ padahitvāna…pe… hessāma sammukhā imaṃ’’.
‘Having striven in the striving …pe… we shall come face to face with this one.’
‘Sau khi đã nỗ lực tinh tấn... v.v... chúng con sẽ có mặt trước vị này.’
15.
15.
15.
Tassāpi vacanaṃ sutvā, haṭṭho saṃviggamānaso;
Tamevatthamanuppattiyā, uggaṃ dhitimakāsahaṃ.
Having heard his words, joyful and with a mind stirred by urgency, I made a strong resolution to attain that very goal.
Sau khi nghe lời nói của Ngài, với tâm hoan hỷ và xúc động, để đạt được mục đích ấy, Ta đã thực hiện sự nỗ lực mãnh liệt.
16.
16.
16.
Sudhammaṃ nāma nagaraṃ, sudhammo nāma khattiyo;
Sudhammā nāma janikā, sobhitassa mahesino.
The city was named Sudhamma; the khattiya father was named Sudhamma; the mother of the great sage Sobhita was named Sudhammā.
Thành phố của đức Đại Sĩ Sobhita tên là Sudhamma, vua cha thuộc dòng Sát-đế-lỵ tên là Sudhamma, và mẫu hậu tên là Sudhammā.
17.
17.
17.
Navavassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi;
Kumudo nāḷino padumo, tayo pāsādamuttamā.
For nine thousand years he lived the household life; Kumuda, Nāḷina, and Paduma were his three excellent palaces.
Ngài đã sống đời tại gia trong chín ngàn năm. Có ba cung điện tuyệt vời là Kumuda, Nāḷina, và Paduma.
18.
18.
18.
Sattatiṃsasahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Maṇilā † nāma sā nārī, sīho nāmāsi atrajo.
He had thirty-seven thousand well-adorned women. His chief consort was named Maṇilā, and his son was named Sīha.
Có ba mươi bảy ngàn phụ nữ được trang điểm lộng lẫy. Vị chánh phi tên là Maṇilā, và con trai tên là Sīha.
19.
19.
19.
Nimitte caturo disvā, pāsādenābhinikkhami;
Sattāhaṃ padhānacāraṃ, caritvā purisuttamo.
The supreme man, having seen the four signs, went forth from the palace; having practiced the striving for seven days.
Bậc Tối Thượng Nhân, sau khi nhìn thấy bốn điềm báo, đã xuất gia bằng cung điện. Ngài đã thực hành sự tinh tấn trong bảy ngày.
20.
20.
20.
Brahmunā yācito santo, sobhito lokanāyako;
Vatti cakkaṃ mahāvīro, sudhammuyyānamuttame.
Requested by Brahmā, the peaceful one, the great hero Sobhita, leader of the world, set in motion the Wheel of Dhamma in the excellent Sudhamma Park.
Được Phạm Thiên thỉnh cầu, bậc Thánh, đức Sobhita, vị Lãnh Đạo thế gian, bậc Đại Anh Hùng, đã chuyển Pháp Luân tại khu vườn thượng uyển Sudhamma.
21.
21.
21.
Asamo ca sunetto ca, ahesuṃ aggasāvakā;
Anomo nāmupaṭṭhāko, sobhitassa mahesino.
Asama and Sunetta were the chief disciples; the attendant of the great sage Sobhita was named Anoma.
Asama và Sunetta là hai vị Thượng Thủ Thinh Văn. Vị thị giả của đức Đại Sĩ Sobhita tên là Anoma.
22.
22.
22.
Nakulā ca sujātā ca, ahesuṃ aggasāvikā;
Bujjhamāno ca so buddho, nāgamūle abujjhatha.
Nakulā and Sujātā were the chief female disciples; and that Buddha awakened at the foot of a Nāga tree.
Nakulā và Sujātā là hai vị Thượng Thủ Thinh Văn Ni. Và đức Phật ấy, trong khi giác ngộ, đã giác ngộ dưới cội cây Nāga (vua).
23.
23.
23.
Rammo ceva sudatto ca, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Nakulā ceva cittā ca, ahesuṃ aggupaṭṭhikā.
Ramma and Sudatta were the chief male lay supporters; Nakulā and Cittā were the chief female lay supporters.
Ramma và Sudatta là hai vị Thượng Thủ Hộ Trì nam. Nakulā và Cittā là hai vị Thượng Thủ Hộ Trì nữ.
24.
24.
24.
Aṭṭhapaṇṇāsaratanaṃ, accuggato mahāmuni;
Obhāseti disā sabbā, sataraṃsīva uggato.
The great sage was fifty-eight cubits tall; he illuminated all directions like the rising, thousand-rayed sun.
Vị Đại Ẩn Sĩ cao năm mươi tám ratana (thước tay). Ngài tỏa sáng khắp mọi phương trời, giống như mặt trời mọc với ngàn tia sáng.
25.
25.
25.
Yathā suphullaṃ pavanaṃ, nānāgandhehi dhūpitaṃ;
Tatheva tassa pāvacanaṃ, sīlagandhehi dhūpitaṃ.
Just as a well-flowered forest is perfumed with various scents, so too was his teaching perfumed with the fragrance of the virtue of his Arahant disciples.
Giống như khu rừng nở rộ được ướp bằng nhiều hương thơm khác nhau; cũng vậy, lời giáo huấn của Ngài được ướp bằng hương thơm của giới hạnh.
26.
26.
26.
Yathāpi sāgaro nāma, dassanena atappiyo;
Tatheva tassa pāvacanaṃ, savaṇena atappiyaṃ.
Just as the ocean is insatiable to the sight, so too was his teaching insatiable to the hearing.
Cũng như đại dương, nhìn ngắm không bao giờ thấy đủ; cũng vậy, lời giáo huấn của Ngài, lắng nghe không bao giờ thấy đủ.
27.
27.
27.
Navutivassasahassāni, āyu vijjati tāvade;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
At that time, the lifespan was ninety thousand years. Remaining for that long, he ferried many people across from the stream of saṃsāra.
Vào thời ấy, tuổi thọ là chín mươi ngàn năm. Trong khi tại thế lâu như vậy, Ngài đã cứu độ rất nhiều chúng sanh.
28.
28.
28.
Ovādaṃ anusiṭṭhiñca, datvāna sesake jane;
Hutāsanova tāpetvā, nibbuto so sasāvako.
Having given exhortation and instruction to the remaining people, then, having blazed like a fire, he was extinguished along with his disciples.
Sau khi ban lời khuyên dạy và chỉ bảo cho những người còn lại, giống như ngọn lửa đã thiêu rụi (nhiên liệu), Ngài cùng với các đệ tử đã nhập Niết-bàn.
29.
29.
29.
So ca buddho asamasamo, tepi sāvakā balappattā;
Sabbaṃ tamantarahitaṃ, nanu rittā sabbasaṅkhārā.
That Buddha, the equal of the unequalled, and those disciples who had attained the powers—all that has vanished. Surely, all conditioned formations are empty.
Vị Phật ấy, bậc Vô Song, và các vị đệ tử đã đạt được năng lực; tất cả những điều ấy đã biến mất. Quả thật, tất cả các pháp hữu vi đều trống rỗng!
30.
30.
30.
Sobhito varasambuddho, sīhārāmamhi nibbuto;
Dhātuvitthārikaṃ āsi, tesu tesu padesatoti.
The excellent Sambuddha Sobhita attained Parinibbāna in Sīhārāma; there was a widespread distribution of his relics in the various regions.
Đức Chánh Giác cao quý Sobhita đã nhập Niết-bàn tại tu viện Sīhārāma; xá-lợi của Ngài đã được phân bố rộng rãi ở nhiều nơi.
The sixth chronicle, that of the Blessed One Sobhita, is finished.
Phả hệ của Đức Thế Tôn Sobhita, thứ sáu.