Bản dịch
BV 5 — Lịch Sử Đức Phật Maṅgala
5. Maṅgalabuddhavaṁsa
Inda-bh 1Sau (đức Phật) Koṇḍañña, vị Lãnh Đạo tên là Maṅgala đã hủy diệt bóng tối ở thế gian và nâng cao ngọn đuốc Chánh Pháp.
Inda-bh 2Hào quang của vị ấy là vô song, vượt trội các đấng Chiến Thắng khác, tiêu diệt ánh sáng mặt trăng mặt trời, và rọi sáng mười ngàn thế giới.
Inda-bh 3Đức Phật ấy cũng đã giảng giải về bốn Chân Lý cao quý tối thượng. Những ai đã uống chất tinh túy của Chân Lý, những vị ấy xua tan bóng tối mịt mùng.
Inda-bh 4Sau khi đạt đến quả vị Giác Ngộ vô song, trong buổi thuyết giảng Giáo Pháp lần đầu tiên, đã có sự lãnh hội lần thứ nhất của một trăm ngàn koṭi vị.
Inda-bh 5Đức Phật đã thuyết giảng Giáo Pháp ở cung điện của vị Chúa Trời. Khi ấy đã có sự lãnh hội lần thứ nhì của chín trăm ngàn koṭi vị.
Inda-bh 6Khi đức Chuyển Luân Vương Sunanda đi đến gặp đấng Toàn Giác, khi ấy đấng Toàn Giác đã gióng tiếng trống cao quý tối thượng của Giáo Pháp.
Inda-bh 7Và khi ấy, những người tùy tùng của (đức vua) Sunanda gồm có chín mươi koṭi vị. Tất cả những người ấy không thiếu sót ai đã trở thành tỳ khưu theo hình thức gọi đến.
Inda-bh 8Vị Đại Ẩn Sĩ Maṅgala đã có ba lần tụ hội. Cuộc hội tụ thứ nhất gồm có một trăm ngàn koṭi vị.
Inda-bh 9Lần thứ nhì gồm có một ngàn koṭi vị. Lần thứ ba gồm có chín mươi koṭi vị. Khi ấy, là cuộc hội tụ của các bậc Lậu Tận không còn ô nhiễm.
Inda-bh 10Vào lúc bấy giờ, ta là Bà-la-môn tên Suruci, là vị trì tụng, nắm vững chú thuật, thành thạo ba bộ Vệ Đà.
Inda-bh 11Ta đã đi đến gặp và đã quy y bậc Đạo Sư ấy. Ta đã cúng dường hương thơm và tràng hoa đến hội chúng có bậc Toàn Giác đứng đầu. Sau khi cúng dường hương thơm và tràng hoa, ta đã làm hài lòng (các vị) với món gavapāna.
Inda-bh 12Vị Phật ấy, đấng Tối Thượng Nhân Maṅgala, cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này, người này sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 13Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 14Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 15Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 16Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề, bậc Vô Thượng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Inda-bh 17Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 18Kolita và Upatissa sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng ấy.
Inda-bh 19Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 20Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 21Sau khi nghe được lời nói này của bậc Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 22Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 23“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 24Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 25Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 26Nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Inda-bh 27Khi ấy, trong lúc đang tăng trưởng niềm hoan hỷ đối với việc đạt đến quả vị Toàn Giác cao quý, ta đã cúng dường ngôi nhà của ta đến đức Phật và đã xuất gia trong sự chứng minh của vị ấy.
Inda-bh 28Sau khi học tập toàn bộ Kinh và luôn cả Luật tức là Giáo Pháp của bậc Đạo Sư gồm chín thể loại, ta đã làm rạng rỡ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.
Inda-bh 29Trong khi sống không xao lãng trong Giáo Pháp ấy, sau khi tu tập pháp hành của Phạm Thiên và làm toàn hảo các thắng trí, ta đã đi đến thế giới của Phạm Thiên.
Inda-bh 30Thành phố có tên là Uttara, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Uttara, người mẹ của vị Đại Ẩn Sĩ Maṅgala tên là Uttarā.
Inda-bh 31Vị ấy đã sống ở giữa gia đình trong chín ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Yasavā, Sucimā, và Sirimā.
Inda-bh 32Có đầy đủ ba mươi ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Yasavatī. Con trai tên là Sīvala.
Inda-bh 33Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện ngựa và đã ra sức nỗ lực tám tháng không thiếu sót.
Inda-bh 34Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng Maṅgala, đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) ở khu rừng Siri cao quý tối thượng.
Inda-bh 35Sudeva và Dhammasena đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Maṅgala tên là Pālita.
Inda-bh 36Sīvalā và Asokā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là “Cây Nāga.”
Inda-bh 37Nanda và luôn cả Visākha đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Anulā và luôn cả Sutanā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 38Bậc Đại Hiền Triết cao tám mươi tám ratana. Từ thân vị ấy phát ra hàng trăm ngàn ánh hào quang.
Inda-bh 39Tuổi thọ được biết là kéo dài đến chín mươi ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 40Cũng giống như sóng ở biển, không thể nào tính đếm chúng được; tương tợ y như thế, các Thinh Văn của Ngài không thể nào tính đếm các vị ấy được.
Inda-bh 41Trong khi bậc Toàn Giác, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Maṅgala còn hiện tiền, vào khi ấy không có cái chết vẫn còn phiền não ở trong Giáo Pháp của vị ấy.
Inda-bh 42Sau khi đã nâng đỡ ngọn đuốc Chánh Pháp, sau khi đã giúp cho đại chúng vượt qua, sau khi rực cháy như là cây cột khói, vị có danh tiếng lớn lao ấy đã Niết Bàn.
Inda-bh 43Sau khi đã chỉ cho thế gian luôn cả chư thiên thấy được bản chất cơ bản của các hành, (vị ấy) đã phát cháy như là khối lửa, tương tợ như mặt trời đã lặn.
Inda-bh 44Đức Phật Maṅgala đã Niết Bàn tại công viên tên là Vessara. Ngôi bảo tháp của đấng Chiến Thắng dành cho vị ấy đã được dựng lên cao ba mươi do-tuần ở ngay tại nơi ấy.
Lịch sử đức Phật Maṅgala là phần thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Koṇḍaññassa aparena, maṅgalo nāma nāyako;
Tamaṃ loke nihantvāna, dhammokkamabhidhārayi.
After Koṇḍañña, the Leader named Maṅgala, having dispelled the darkness in the world, held aloft the lamp of the Dhamma.
Sau thời của Đức Phật Koṇḍañña, có vị Lãnh Đạo tên là Maṅgala. Sau khi đã phá tan bóng tối ở thế gian, ngài đã giương cao ngọn đuốc Chánh Pháp.
2.
2.
2.
Atulāsi pabhā tassa, jinehaññehi uttariṃ;
Candasūriyapabhaṃ hantvā, dasasahassī virocati.
His radiance was incomparable, surpassing that of other Victors; having dispelled the light of the moon and sun, it shone throughout the ten-thousand world-system.
Hào quang của ngài không gì sánh bằng, vượt trội hơn các bậc Toàn Giác khác. Ánh sáng ấy lấn át cả ánh sáng của mặt trăng và mặt trời, chiếu rọi khắp mười ngàn thế giới.
3.
3.
3.
Sopi buddho pakāsesi, caturo saccavaruttame;
Te te saccarasaṃ pītvā, vinodenti mahātamaṃ.
That Buddha, too, revealed the four supreme, excellent truths. Having drunk the essence of the truths, they dispel the great darkness.
Vị Phật ấy cũng đã tuyên thuyết bốn chân lý cao quý, tối thượng. Sau khi đã uống hương vị của chân lý, họ đã xua tan đi bóng tối vĩ đại.
4.
4.
4.
Patvāna bodhimatulaṃ, paṭhame dhammadesane;
Koṭisatasahassānaṃ, dhammābhisamayo ahu.
Having attained incomparable enlightenment, at the first Dhamma discourse, there was the realization of the Dhamma for one hundred thousand koṭis.
Sau khi đã chứng đắc Bồ-đề vô song, trong lần thuyết pháp đầu tiên, đã có sự thấu triệt Chánh Pháp của một trăm ngàn ức (chúng sanh).
5.
5.
5.
Surindadevabhavane, buddho dhammamadesayi;
Tadā koṭisahassānaṃ †, dutiyo samayo ahu.
When the Buddha taught the Dhamma in the celestial abode of Surinda, at that time, there was the second realization for one thousand koṭis.
Tại cung điện của vua chư Thiên, Đức Phật đã thuyết giảng Chánh Pháp. Khi ấy, đã có sự chứng ngộ lần thứ hai của một ngàn ức (chúng sanh).
6.
6.
6.
Yadā sunando cakkavattī, sambuddhaṃ upasaṅkami;
Tadā āhani sambuddho, dhammabheriṃ varuttamaṃ.
When the wheel-turning monarch Sunanda approached the Sambuddha, then the Sambuddha sounded the most excellent drum of the Dhamma.
Khi vua Chuyển luân Sunanda đến yết kiến bậc Chánh Đẳng Giác, lúc ấy bậc Chánh Đẳng Giác đã đánh lên trống Pháp cao quý, tối thượng.
7.
7.
7.
Sunandassānucarā janatā, tadāsuṃ navutikoṭiyo;
Sabbepi te niravasesā, ahesuṃ ehi bhikkhukā.
At that time, the people in the retinue of Sunanda numbered ninety koṭis. All of them, without remainder, became Ehi Bhikkhus.
Khi ấy, đoàn tùy tùng của vua Sunanda có chín mươi ức người. Tất cả bọn họ, không còn sót một ai, đã trở thành các vị tỳ-khưu ‘hãy đến đây’.
8.
8.
8.
Sannipātā tayo āsuṃ, maṅgalassa mahesino;
Koṭisatasahassānaṃ, paṭhamo āsi samāgamo.
There were three assemblies for Maṅgala, the Great Sage. The first assembly was of one hundred thousand koṭis of those whose cankers were destroyed.
Đã có ba lần hội chúng của bậc Đại Ẩn Sĩ Maṅgala. Lần hội họp đầu tiên là của một trăm ngàn ức (vị lậu tận).
9.
9.
9.
Dutiyo koṭisatasahassānaṃ, tatiyo navutikoṭinaṃ;
Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ, tadā āsi samāgamo.
The second assembly was of one hundred thousand koṭis. The third assembly, at that time, was of ninety koṭis of stainless ones whose cankers were destroyed.
Lần thứ hai là của một trăm ngàn ức (vị), lần thứ ba là của chín mươi ức (vị). Khi ấy đã có cuộc hội họp của các bậc lậu tận, không còn cấu uế.
10.
10.
10.
Ahaṃ tena samayena, surucī nāma brāhmaṇo;
Ajjhāyako mantadharo, tiṇṇaṃ vedāna pāragū.
At that time, I was a brahmin named Suruci, a reciter and master of the mantras, one who had reached the further shore of the three Vedas.
Vào lúc bấy giờ, ta là một vị Bà-la-môn tên là Suruci, là người học tập, người trì chú, người thông suốt ba bộ Vệ-đà.
11.
11.
11.
Tamahaṃ upasaṅkamma, saraṇaṃ gantvāna satthuno;
Sambuddhappamukhaṃ saṅghaṃ, gandhamālena pūjayiṃ;
Pūjetvā gandhamālena, gavapānena tappayiṃ.
Having approached him, the Teacher, and gone for refuge, I honored the Saṅgha, headed by the Sambuddha, with perfumes and garlands. Having honored them with perfumes and garlands, I satisfied them with a milk-beverage.
Con đã đến gần vị Đạo Sư ấy, đã đi đến quy y, và đã cúng dường Tăng chúng với đức Chánh Đẳng Giác là vị đứng đầu bằng hương và vòng hoa. Sau khi cúng dường bằng hương và vòng hoa, con đã làm cho các vị ấy thỏa thích bằng cháo sữa đặc.
12.
12.
12.
Sopi maṃ buddho byākāsi, maṅgalo dvipaduttamo;
‘‘Aparimeyyito kappe, ayaṃ buddho bhavissati.
That Buddha, Maṅgala, the supreme among two-footed beings, also made a prophecy concerning me: 'In an incalculable aeon from now, this one will become a Buddha.'
Vị Phật Maṅgala ấy, bậc tối thượng trong loài hai chân, cũng đã thọ ký cho ta rằng: “Vô lượng kiếp kể từ kiếp này, vị này sẽ thành một vị Phật.”
13.
13.
13.
‘‘Padhānaṃ padahitvāna…pe… hessāma sammukhā imaṃ’’.
'Having striven in the great endeavor... we shall be in the presence of this one.'
“Sau khi đã tinh tấn trong sự nỗ lực… (v.v.)… chúng tôi sẽ có mặt trước vị này.”
14.
14.
14.
Tassāpi vacanaṃ sutvā, bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ;
Uttariṃ vatamadhiṭṭhāsiṃ, dasa pāramipūriyā.
Having heard his words as well, I made my mind exceedingly serene. I undertook a further vow to fulfill the ten perfections.
Sau khi nghe lời nói của vị ấy, con đã làm cho tâm càng thêm trong sạch. Con đã quyết tâm thực hành hạnh nguyện cao hơn nữa để làm tròn đủ mười pháp ba-la-mật.
15.
15.
15.
Tadā pītimanubrūhanto, sambodhivarapattiyā;
Buddhe datvāna maṃ gehaṃ, pabbajiṃ tassa santike.
Then, cultivating joy for the attainment of excellent enlightenment, having given my home to the Buddha, I went forth in his presence.
Khi ấy, trong khi làm tăng trưởng niềm hỷ lạc, để đạt đến sự giác ngộ cao quý, sau khi dâng cúng ngôi nhà của con cho đức Phật, con đã xuất gia nơi sự hiện diện của ngài.
16.
16.
16.
Suttantaṃ vinayañcāpi, navaṅgaṃ satthusāsanaṃ;
Sabbaṃ pariyāpuṇitvā, sobhayiṃ jinasāsanaṃ.
Having mastered the Suttanta and the Vinaya, the entire nine-limbed teaching of the Teacher, I illuminated the dispensation of the Victor.
Sau khi học hỏi tất cả Tạng Kinh, Tạng Luật, và toàn bộ giáo huấn của bậc Đạo Sư gồm chín chi phần, con đã làm rạng rỡ giáo pháp của bậc Chiến Thắng.
17.
17.
17.
Tatthappamatto viharanto, brahmaṃ bhāvetva bhāvanaṃ;
Abhiññāpāramiṃ gantvā, brahmalokamagacchahaṃ.
Dwelling there diligently, having developed the divine meditation, and having reached the perfection of the higher knowledges, I went to the Brahma-world.
Sống không buông lung ở nơi ấy, sau khi tu tập pháp hành về phạm trú và đã đi đến sự toàn hảo về các thắng trí, con đã đi đến cõi Phạm thiên.
18.
18.
18.
Uttaraṃ nāma nagaraṃ, uttaro nāma khattiyo;
Uttarā nāma janikā, maṅgalassa mahesino.
The city of Maṅgala, the great sage, was named Uttara; his khattiya father was named Uttara, and his mother was named Uttarā.
Thành phố của bậc Đại Sĩ Maṅgala tên là Uttara, vị vua Sát-đế-lỵ (phụ vương) tên là Uttara, và người mẹ (mẫu hậu) tên là Uttarā.
19.
19.
19.
Navavassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi;
Yasavā sucimā sirīmā, tayo pāsādamuttamā.
For nine thousand years he dwelt in the household life. He had three excellent palaces: Yasavā, Sucimā, and Sirīmā.
Vị ấy đã sống tại gia trong chín ngàn năm. Yasavā, Sucimā, và Sirīmā là ba cung điện cao quý (của ngài).
20.
20.
20.
Samatiṃsasahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Yasavatī nāma nārī, sīvalo nāma atrajo.
There were thirty thousand well-adorned women. His chief consort was named Yasavatī, and his son was named Sīvala.
Có ba mươi ngàn cung nữ được trang điểm lộng lẫy. Người vợ (chánh hậu) tên là Yasavatī, và người con trai tên là Sīvala.
21.
21.
21.
Nimitte caturo disvā, assayānena nikkhami;
Anūnaaṭṭhamāsāni, padhānaṃ padahī jino.
Having seen the four signs, the Victor went forth on horseback. For no less than eight months, he engaged in the great endeavor.
Sau khi nhìn thấy bốn điềm báo, ngài đã ra đi bằng cỗ xe ngựa. Bậc Chiến Thắng đã thực hành sự tinh tấn trong suốt tám tháng không gián đoạn.
22.
22.
22.
Brahmunā yācito santo, maṅgalo nāma nāyako;
Vatti cakkaṃ mahāvīro, vane sirīvaruttame.
Requested by Brahmā, the peaceful one, the Leader named Maṅgala, the great hero, turned the wheel of Dhamma in the forest named Sirīvaruttama.
Là bậc tịch tịnh, được Phạm thiên thỉnh cầu, bậc Lãnh Đạo tên là Maṅgala, bậc Đại Anh Hùng, đã chuyển vận bánh xe Pháp trong khu rừng cao quý Sirīvara.
23.
23.
23.
Sudevo dhammaseno ca, ahesuṃ aggasāvakā;
Pālito nāmupaṭṭhāko, maṅgalassa mahesino.
Sudeva and Dhammasena were the chief disciples of Maṅgala, the great sage. His attendant was named Pālita.
Sudeva và Dhammasena là các vị Thượng thủ Thinh văn. Vị thị giả của bậc Đại Sĩ Maṅgala tên là Pālita.
24.
24.
24.
Sīvalā ca asokā ca, ahesuṃ aggasāvikā;
Bodhi tassa bhagavato, nāgarukkhoti vuccati.
Sīvalā and Asokā were the chief female disciples. The Bodhi tree of that Blessed One is said to be the Nāga tree.
Sīvalā và Asokā là các vị Thượng thủ Nữ Thinh văn. Cây bồ-đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là cây Nāga (vấp).
25.
25.
25.
Nando ceva visākho ca, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Anulā ceva sutanā ca, ahesuṃ aggupaṭṭhikā.
Nanda and Visākha were the chief male lay supporters; Anulā and Sutanā were the chief female lay supporters.
Nanda và Visākha là các nam thí chủ hàng đầu. Anulā và Sutanā là các nữ thí chủ hàng đầu.
26.
26.
26.
Aṭṭhāsīti ratanāni, accuggato mahāmuni;
Tato niddhāvatī raṃsī, anekasatasahassiyo.
The great sage was eighty-eight cubits in height. From him issued forth rays of light, many hundreds of thousands.
Bậc Đại Mâu-ni có thân cao tám mươi tám cùi chỏ. Từ thân ngài, vô số trăm ngàn tia sáng tỏa ra.
27.
27.
27.
Navutivassasahassāni, āyu vijjati tāvade;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
His lifespan at that time was ninety thousand years. Remaining for that long, he ferried many people across.
Vào lúc ấy, tuổi thọ là chín mươi ngàn năm. Trong khi tồn tại chừng ấy thời gian, vị ấy đã cứu độ nhiều chúng sinh.
28.
28.
28.
Yathāpi sāgare ūmī, na sakkā tā gaṇetuye;
Tatheva sāvakā tassa, na sakkā te gaṇetuye.
Just as it is not possible to count the waves in the ocean, so too it was not possible to count his disciples.
Giống như những con sóng trong đại dương không thể đếm được, cũng vậy, các vị Thinh văn của ngài không thể đếm được.
29.
29.
29.
Yāva aṭṭhāsi sambuddho, maṅgalo lokanāyako;
Na tassa sāsane atthi, sakilesamaraṇaṃ † tadā.
For as long as the Sambuddha Maṅgala, the leader of the world, lived, there was no death with defilements in his dispensation.
Chừng nào đức Chánh Đẳng Giác Maṅgala, bậc Lãnh Đạo thế gian, còn tại thế, thì vào lúc ấy trong giáo pháp của ngài không có cái chết với phiền não.
30.
30.
30.
Dhammokkaṃ dhārayitvāna, santāretvā mahājanaṃ;
Jalitvā dhūmaketūva, nibbuto so mahāyaso.
Having held up the lamp of the Dhamma, having ferried the great multitude across, having blazed like a comet, that one of great fame attained Parinibbāna.
Sau khi giương cao ngọn đuốc Chánh pháp và cứu độ đại chúng, vị ấy, bậc có danh tiếng lẫy lừng, đã bừng sáng như ngọn lửa không khói rồi tịch diệt.
31.
31.
31.
Saṅkhārānaṃ sabhāvatthaṃ, dassayitvā sadevake;
Jalitvā aggikkhandhova, sūriyo atthaṅgato yathā.
Having shown the true nature of conditioned things to the world with its devas, he blazed like a mass of fire and set like the sun, and thus attained Parinibbāna.
Sau khi chỉ rõ bản chất của các pháp hữu vi cho thế giới gồm cả chư thiên, ngài đã tịch diệt, giống như một khối lửa sau khi bừng cháy, như mặt trời sau khi đã lặn.
32.
32.
32.
Uyyāne vassare nāma, buddho nibbāyi maṅgalo;
Tatthevassa jinathūpo, tiṃsayojanamuggatoti.
The Buddha named Maṅgala attained Parinibbāna in the park named Vassara. Right there, the stupa of that Conqueror is thirty yojanas high.
Đức Phật Maṅgala đã nhập Niết-bàn trong khu vườn tên là Vassara. Chính tại nơi ấy, bảo tháp của bậc Chiến Thắng cao ba mươi do-tuần.
The third chronicle, that of the Blessed One Maṅgala, is concluded.
Dứt thiên thứ ba: Phẩm về dòng dõi của đức Thế Tôn Maṅgala.