Bản dịch
BV 6 — Lịch Sử Đức Phật Sumana
6. Sumanabuddhavaṁsa
Inda-bh 1Sau (đức Phật) Maṅgala, vị Lãnh Đạo tên Sumana là bậc Tối Thượng của tất cả chúng sanh, không ai sánh bằng về tất cả các pháp (giới, định, tuệ).
Inda-bh 2Khi ấy ở thành phố Mekhala, Ngài đã gióng lên tiếng trống bất tử được liên kết với những hồi tù và Giáo Pháp là lời giáo huấn của đấng Chiến Thắng gồm chín thể loại.
Inda-bh 3Sau khi chiến thắng các phiền não, đấng Đạo Sư ấy đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng và đã tạo lập thành phố là thành phố Chánh Pháp cao quý tối thượng.
Inda-bh 4Vị ấy đã tạo ra con đường lớn không bị cách khoảng, không khúc khuỷu, thẳng tắp, dài và rộng, (ấy là) Tứ Niệm Xứ cao quý tối thượng.
Inda-bh 5Nơi đó, ở tại con đường Ngài đã trưng bày bốn quả vị Sa-môn, bốn tuệ phân tích, sáu thắng trí, và tám thiền chứng.
Inda-bh 6Những ai không dễ duôi, (tâm) không bị ngăn trở, có được sự hổ thẹn tội lỗi và sự tinh tấn, chính những người ấy đạt được các đức hạnh cao quý này một cách dễ dàng.
Inda-bh 7Như thế bằng phương thức ấy, bậc Đạo Sư, trong lúc nâng đỡ đại chúng, đã giác ngộ trước tiên một trăm ngàn koṭi vị.
Inda-bh 8Trong thời điểm đấng Đại Hùng đã giáo huấn các đồ chúng ngoại đạo, là lúc thuyết giảng Giáo Pháp lần thứ nhì, một trăm ngàn koṭi người đã lãnh hội.
Inda-bh 9Vào lúc chư thiên và nhân loại có sự đồng lòng nhất trí đã vấn câu hỏi về sự Tịch Diệt và luôn cả sự nghi ngờ ở trong tâm nữa.
Inda-bh 10Khi ấy, cũng vào dịp thuyết giảng Giáo Pháp giải thích rõ ràng về sự Tịch Diệt, đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của chín mươi ngàn koṭi vị.
Inda-bh 11Bậc Đại Ẩn Sĩ Sumana đã có ba lần tụ hội gồm các vị Lậu Tận không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy.
Inda-bh 12Khi đức Thế Tôn đã trải qua mùa (an cư) mưa, vào ngày lễ Pavāraṇā đã được công bố, đức Như Lai đã hành lễ Pavāraṇā cùng với một trăm ngàn koṭi vị.
Inda-bh 13Sau đó vào lúc khác, khi các vị không còn ô nhiễm đã tụ hội ở ngọn núi Kañcana, đã có cuộc hội tụ thứ nhì của chín mươi ngàn koṭi vị.
Inda-bh 14Khi Chúa Trời Sakka đi đến chiêm ngưỡng đức Phật, đã có cuộc hội tụ thứ ba của tám mươi ngàn koṭi vị.
Inda-bh 15Vào lúc bấy giờ, ta là vị Long Vương tên Atula, có đại thần lực, có sự tích lũy các thiện pháp được dồi dào.
Inda-bh 16Khi ấy, sau khi rời khỏi long cung ta đã cùng thân quyến phục vụ đấng Chiến Thắng cùng với hội chúng bằng các nhạc cụ thiên đình của loài rồng.
Inda-bh 17Ta đã làm hài lòng một trăm ngàn koṭi vị với thức ăn và nước uống. Sau khi dâng mỗi một vị hai xấp vải, ta đã quy y vị ấy.
Inda-bh 18Đức Phật ấy, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Sumana, cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này, người này sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 19Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 20Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 21Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 22Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề tối thắng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Inda-bh 23Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 24Kolita và Upatissa sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng ấy.
Inda-bh 25Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 26Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 27Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 28Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 29“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 30Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 31Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 32Nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Inda-bh 33Thành phố có tên là Mekhala, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Sudatta, người mẹ của vị Đại Ẩn Sĩ Sumana tên là Sirimā.
Inda-bh 34Vị ấy đã sống ở giữa gia đình chín ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Canda, Sucanda, và Vaṭaṁsa.
Inda-bh 35Có sáu mươi ba trăm ngàn (sáu triệu ba trăm ngàn) phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Vataṁsikā. Con trai tên là Anupama.
Inda-bh 36Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện voi và đã ra sức nỗ lực mười tháng không thiếu sót.
Inda-bh 37Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng Sumana đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) ở thành phố Mekhala cao quý tối thượng.
Inda-bh 38Saraṇa và Bhāvitatta đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Sumana tên là Udena.
Inda-bh 39Soṇā và Upasoṇā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Đức Phật ấy, vị tương đương với các bậc không thể sánh bằng, cũng đã giác ngộ cũng ở cội cây Nāga.
Inda-bh 40Varuṇa và Saraṇa đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Cālā và Upacālā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 41Vươn lên đến chín mươi cánh tay (45 mét) về chiều cao, đức Phật ấy tỏa sáng mười ngàn thế giới tợ như kim loại vàng quý giá.
Inda-bh 42Tuổi thọ được biết là kéo dài đến chín mươi ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 43Sau khi đã giúp cho vượt qua những người xứng đáng được vượt qua và đã giác ngộ những người xứng đáng được giác ngộ, đấng Toàn Giác đã Vô Dư Niết Bàn ví như mặt trăng (vua của các vì sao) đã lặn.
Inda-bh 44Đức Phật ấy là không gì sánh được và các vị tỳ khưu ấy là các bậc Lậu Tận. Sau khi thị hiện ánh sáng vô song, các vị có danh tiếng lớn lao ấy đã Niết Bàn.
Inda-bh 45Trí tuệ vô song ấy và các châu báu không gì so sánh ấy, tất cả đều hoàn toàn biết mất; phải chăng tất cả các hành là trống không?
Inda-bh 46Đức Phật Sumana, bậc có danh tiếng, đã Niết Bàn tại tu viện Aṅgāra. Ngôi bảo tháp của đấng Chiến Thắng dành cho vị ấy đã được dựng lên cao bốn do-tuần ở ngay tại nơi ấy.
Lịch sử đức Phật Sumana là phần thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Maṅgalassa aparena, sumano nāma nāyako;
Sabbadhammehi asamo, sabbasattānamuttamo.
After Maṅgala, a Leader named Sumana arose, unequalled in all dhammas, supreme among all beings.
Sau thời của đức Phật Maṅgala, bậc Lãnh Đạo tên là Sumana đã xuất hiện, không ai sánh bằng về tất cả các pháp, là bậc tối thượng của tất cả chúng sinh.
2.
2.
2.
Tadā amatabheriṃ so, āhanī mekhale pure;
Dhammasaṅkhasamāyuttaṃ, navaṅgaṃ jinasāsanaṃ.
At that time, in the city of Mekhala, he beat the drum of the Deathless—the nine-fold teaching of the Conqueror, accompanied by the conch of the Dhamma.
Khi ấy, tại thành Mekhalā, vị ấy đã gióng lên trống bất tử, tức là giáo pháp của bậc Chiến Thắng gồm chín chi phần, hòa cùng tiếng tù và Chánh pháp.
3.
3.
3.
Nijjinitvā kilese so, patvā sambodhimuttamaṃ;
Māpesi nagaraṃ satthā, saddhammapuravaruttamaṃ.
Having conquered the defilements and attained supreme enlightenment, that Teacher fashioned a city—the supreme, excellent city of the good Dhamma, which is Nibbāna.
Vị Đạo Sư ấy, sau khi chiến thắng các phiền não và đạt đến sự giác ngộ tối thượng, đã tạo dựng nên thành phố Diệu pháp cao quý, tối thượng.
4.
4.
4.
Nirantaraṃ akuṭilaṃ, ujuṃ vipulavitthataṃ;
Māpesi so mahāvīthiṃ, satipaṭṭhānavaruttamaṃ.
He fashioned the great highway—uninterrupted, not crooked, straight, extensive, and broad—which is the supreme, excellent establishment of mindfulness.
Vị ấy đã tạo ra con đường lớn, tức là con đường Tứ Niệm Xứ cao quý, tối thượng, một con đường không gián đoạn, không cong vẹo, thẳng tắp, rộng lớn và bao la.
5.
5.
5.
Phale cattāri sāmaññe, catasso paṭisambhidā;
Chaḷabhiññāṭṭhasamāpattī, pasāresi tattha vīthiyaṃ.
On that highway, he set forth the four fruits of the contemplative life, the four analytical knowledges, the six higher knowledges, and the eight attainments.
Trên con đường ấy, ngài đã bày ra bốn quả của đời sống Sa-môn, bốn Tuệ phân tích, sáu thắng trí, và tám thiền chứng.
6.
6.
6.
Ye appamattā akhilā, hirivīriyehupāgatā;
Te te ime guṇavare, ādiyanti yathā sukhaṃ.
Those persons who are heedful, free from mental barrenness, and endowed with moral shame and energy—they take up these excellent qualities with ease.
Những ai không buông lung, không còn chướng ngại, và có đủ tàm quý, những người ấy có thể nhận lấy những phẩm chất cao quý này một cách dễ dàng.
7.
7.
7.
Evametena yogena, uddharanto mahājanaṃ;
Bodhesi paṭhamaṃ satthā, koṭisatasahassiyo.
Thus, by this method, while uplifting the great multitude, the Teacher, at the first discourse, awakened one hundred thousand koṭis.
Bằng phương pháp như thế này, bậc Đạo Sư đã cứu vớt đại chúng; trong lần đầu tiên, Ngài đã làm giác ngộ một trăm ngàn ức (chư thiên và nhân loại).
8.
8.
8.
Yamhi kāle mahāvīro, ovadī titthiye gaṇe;
Koṭisahassābhisamiṃsu †, dutiye dhammadesane.
At the time when the Great Hero admonished the groups of sectarians, a thousand koṭis attained full understanding at the second Dhamma discourse.
Vào lúc bậc Đại Hùng giáo huấn các nhóm ngoại đạo; trong lần thuyết Pháp thứ nhì, một ngàn ức (chúng sanh) đã chứng đắc.
9.
9.
9.
Yadā devā manussā ca, samaggā ekamānasā;
Nirodhapañhaṃ pucchiṃsu, saṃsayañcāpi mānasaṃ.
When devas and humans, harmonious and of one mind, asked the Blessed One the question concerning cessation, and also the doubt in their minds,
Khi chư thiên và nhân loại, hòa hợp và đồng một tâm, đã hỏi về vấn đề Diệt định (Nirodha) và cả sự hoài nghi ở trong tâm.
10.
10.
10.
Tadāpi dhammadesane, nirodhaparidīpane;
Navutikoṭisahassānaṃ, tatiyābhisamayo ahu.
Then, at the Dhamma discourse illuminating cessation, the third full understanding occurred for ninety thousand koṭis.
Vào lúc ấy, trong buổi thuyết Pháp, trong lúc làm sáng tỏ về Diệt đế, sự chứng ngộ lần thứ ba đã xảy ra cho chín mươi ngàn ức (chúng sanh).
11.
11.
11.
Sannipātā tayo āsuṃ, sumanassa mahesino;
Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ, santacittāna tādinaṃ.
There were three assemblies of the great sage Sumana, of Arahants who were stainless, of peaceful mind, and steadfast.
Đã có ba lần hội họp của các vị lậu tận, không còn cấu uế, tâm được an tịnh, và vững vàng (tādīnaṃ); (đó là các hội chúng) của đấng Đại Ẩn Sĩ Sumana.
12.
12.
12.
Vassaṃvutthassa bhagavato, abhighuṭṭhe pavāraṇe;
Koṭisatasahassehi, pavāresi tathāgato.
When the Pavāraṇā was announced for the Blessed One who had completed the rains-residence, the Tathāgata performed the ceremony with one hundred thousand koṭis of Arahants.
Khi lễ Tự Tứ (Pavāraṇā) của đức Thế Tôn, người đã an cư mùa mưa, được loan báo, đấng Như Lai đã làm lễ Tự Tứ cùng với một trăm ngàn ức vị (A-la-hán).
13.
13.
13.
Tatoparaṃ sannipāte, vimale kañcanapabbate;
Navutikoṭisahassānaṃ, dutiyo āsi samāgamo.
After that, at an assembly on the stainless golden mountain, the second gathering of ninety thousand koṭis of Arahants occurred.
Sau đó, tại cuộc hội họp ở núi Vàng không tỳ vết, cuộc tụ họp lần thứ nhì là của chín mươi ngàn ức vị (A-la-hán).
14.
14.
14.
Yadā sakko devarājā, buddhadassanupāgami;
Asītikoṭisahassānaṃ, tatiyo āsi samāgamo.
When Sakka, king of the devas, approached to see the Buddha, the third gathering of eighty thousand koṭis of Arahants occurred.
Khi vua trời Đế Thích (Sakko) đến để yết kiến đức Phật, cuộc tụ họp lần thứ ba là của tám mươi ngàn ức vị (A-la-hán).
15.
15.
15.
Ahaṃ tena samayena, nāgarājā mahiddhiko;
Atulo nāma nāmena, ussannakusalasañcayo.
At that time, I was a nāga king of great power, named Atula, with an abundance of accumulated merit.
Vào lúc bấy giờ, ta là một vị Long vương có đại thần lực, tên là Atula, người đã tích lũy dồi dào các thiện nghiệp.
16.
16.
16.
Tadāhaṃ nāgabhāvanā, nikkhamitvā sañātibhi;
Nāgānaṃ dibbaturiyehi, sasaṅghaṃ jinamupaṭṭhahiṃ.
Then, having departed from the nāga abode with my kinsmen, I attended upon the Conqueror together with his Saṅgha with the divine musical instruments of the nāgas.
Khi ấy, ta cùng với quyến thuộc đã đi ra khỏi cung điện của loài rồng; với các nhạc cụ chư thiên của loài rồng, ta đã hầu hạ đấng Chiến Thắng cùng với Tăng chúng.
17.
17.
17.
Koṭisatasahassānaṃ, annapānena tappayiṃ;
Paccekadussayugaṃ datvā, saraṇaṃ tamupāgamiṃ.
I satisfied one hundred thousand koṭis of Arahants with food and drink; having given a pair of cloths to each one, I went to that Triple Gem for refuge.
Ta đã làm cho một trăm ngàn ức vị được mãn nguyện với vật thực và thức uống; sau khi dâng cúng mỗi vị một cặp y, ta đã đi đến quy y nơi các ngài.
18.
18.
18.
Sopi maṃ buddho byākāsi, sumano lokanāyako;
‘‘Aparimeyyito kappe, ayaṃ buddho bhavissati.
That Buddha Sumana, the leader of the world, also made a prediction concerning me: ‘In an immeasurable eon from now, this one will become a Buddha.’
Vị Phật ấy, đức Sumana, bậc Lãnh Đạo thế gian, cũng đã thọ ký cho ta rằng: ‘Vị này sẽ trở thành một vị Phật trong một kiếp không thể đo lường được kể từ đây.’
19.
19.
19.
‘‘Padhānaṃ padahitvāna…pe… hessāma sammukhā imaṃ’’.
‘Having striven in the great endeavor and performed austerities, he will awaken at the foot of an Assattha tree.’ … ‘We shall be in the presence of this one,’ thus they aspired.
‘Sau khi đã tinh tấn trong sự nỗ lực... (v.v)... chúng tôi sẽ có mặt ở trước vị này.’
20.
20.
20.
Tassāpi vacanaṃ sutvā, bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ;
Uttariṃ vatamadhiṭṭhāsiṃ, dasapāramipūriyā.
Having heard his words of prediction, I made my mind even more serene; I undertook a further vow for the fulfillment of the ten perfections.
Sau khi nghe lời dạy của ngài, ta đã làm cho tâm càng thêm trong sạch; ta đã quyết tâm thực hành hạnh nguyện cao hơn nữa để làm viên mãn mười pháp Ba-la-mật.
21.
21.
21.
Nagaraṃ mekhalaṃ nāma †, sudatto nāma khattiyo;
Sirimā nāma janikā, sumanassa mahesino.
The city of the great sage Sumana was named Mekhalā; his khattiya father was named Sudatta, and his mother was named Sirimā.
Thành phố của đấng Đại Ẩn Sĩ Sumana tên là Mekhalā, vị vua Sát-đế-lỵ (phụ thân) tên là Sudatta, và mẫu hậu tên là Sirimā.
22.
22.
22.
Navavassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi;
Cando sucando vaṭaṃso ca, tayo pāsādamuttamā.
For nine thousand years he dwelt in the household life. Canda, Sucanda, and Vaṭaṃsa were his three supreme palaces.
Vị ấy đã sống đời tại gia trong chín ngàn năm; Canda, Sucanda, và Vaṭaṃsa là ba cung điện tuyệt vời.
23.
23.
23.
Tesaṭṭhisatasahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Vaṭaṃsikā nāma nārī, anūpamo nāma atrajo.
There were sixty-three hundred thousand well-adorned women. The chief consort was named Vaṭaṃsikā, and the son was named Anūpama.
Có sáu mươi ba trăm ngàn (6,300,000) cung nữ được trang điểm lộng lẫy; chánh phi tên là Vaṭaṃsikā, và con trai tên là Anūpama.
24.
24.
24.
Nimitte caturo disvā, hatthiyānena nikkhami;
Anūnadasamāsāni, padhānaṃ padahī jino.
Having seen the four signs, he went forth by elephant vehicle; for a full ten months, the Conqueror strove in the great endeavor.
Sau khi nhìn thấy bốn điềm báo, ngài đã xuất gia bằng xe voi; đấng Chiến Thắng đã nỗ lực tinh tấn trong mười tháng không thiếu.
25.
25.
25.
Brahmunā yācito santo, sumano lokanāyako;
Vatti cakkaṃ mahāvīro, mekhale puramuttame.
Requested by Brahmā, the peaceful one, Sumana, the leader of the world, the Great Hero, turned the Wheel in the supreme city of Mekhalā.
Được Phạm thiên thỉnh cầu, bậc Thánh nhân Sumana, bậc Lãnh Đạo thế gian, bậc Đại Hùng, đã chuyển Pháp luân ở tại Mekhalā, thành phố cao quý.
26.
26.
26.
Saraṇo bhāvitatto ca, ahesuṃ aggasāvakā;
Udeno nāmupaṭṭhāko, sumanassa mahesino.
Saraṇa and Bhāvitatta were the chief disciples; Udena was the attendant of the great sage Sumana.
Saraṇa và Bhāvitatta là hai vị Thượng thủ Thinh văn; vị thị giả tên là Udena, của đấng Đại Ẩn Sĩ Sumana.
27.
27.
27.
Soṇā ca upasoṇā ca, ahesuṃ aggasāvikā;
Sopi buddho amitayaso, nāgamūle abujjhatha.
Soṇā and Upasoṇā were the chief female disciples. That Buddha of incomparable glory awakened at the foot of a Nāga tree.
Soṇā và Upasoṇā là hai vị Thượng thủ Thinh văn Ni; vị Phật ấy, người có danh tiếng vô lượng, đã giác ngộ ở dưới cội cây Nāga (long hoa).
28.
28.
28.
Varuṇo ceva saraṇo ca, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Cālā ca upacālā ca, ahesuṃ aggupaṭṭhikā.
Varuṇa and Saraṇa were the chief male lay supporters; Cālā and Upacālā were the chief female lay supporters.
Varuṇa và Saraṇa là hai vị Thượng thủ hộ độ nam; Cālā và Upacālā là hai vị Thượng thủ hộ độ nữ.
29.
29.
29.
Uccattanena † so buddho, navutihatthamuggato;
Kañcanagghiyasaṅkāso, dasasahassī virocati.
That Buddha was ninety cubits in height; like a great golden pillar, he shines throughout the ten-thousand-fold world system.
Vị Phật ấy có chiều cao chín mươi hắc-tay; giống như cột trụ bằng vàng, ngài tỏa sáng trong mười ngàn thế giới.
30.
30.
30.
Navutivassasahassāni, āyu vijjati tāvade;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
His lifespan at that time was ninety thousand years; remaining for that long, he delivered a great multitude of people.
Vào lúc bấy giờ, tuổi thọ là chín mươi ngàn năm; trong khi còn tại thế lâu như vậy, vị ấy đã cứu độ rất nhiều chúng sanh.
31.
31.
31.
Tāraṇīye tārayitvā, bodhanīye ca bodhayi;
Parinibbāyi sambuddho, uḷurājāva atthami.
Having delivered those who could be delivered, and awakened those who could be awakened, the Perfectly Enlightened One attained Parinibbāna, just as the moon, the king of stars, sets.
Sau khi cứu độ những chúng sanh cần được cứu độ, và làm giác ngộ những chúng sanh cần được giác ngộ, bậc Chánh Đẳng Giác đã nhập Niết-bàn, giống như vua của các vì sao (mặt trăng) đã lặn mất.
32.
32.
32.
Te ca khīṇāsavā bhikkhū, so ca buddho asādiso;
Atulappabhaṃ dassayitvā, nibbutā ye mahāyasā.
Those bhikkhus with taints destroyed and that incomparable Buddha—those of great glory, having displayed matchless radiance, have become extinguished.
Các vị Tỳ-khưu lậu tận ấy, và vị Phật không ai sánh bằng ấy, những vị có danh tiếng lẫy lừng, sau khi đã phô diễn ánh hào quang vô song, đã tịch diệt.
33.
33.
33.
Tañca ñāṇaṃ atuliyaṃ, tāni ca atulāni ratanāni;
Sabbaṃ tamantarahitaṃ, nanu rittā sabbasaṅkhārā.
That incomparable knowledge and those incomparable jewels—all that has vanished. Surely, all conditioned formations are empty!
Tuệ giác vô song ấy, và các bảo vật vô song kia, tất cả những thứ ấy đã biến mất. Quả thật, tất cả các pháp hữu vi đều là trống rỗng!
34.
34.
34.
Sumano yasadharo buddho, aṅgārāmamhi nibbuto;
Tattheva tassa jinathūpo, catuyojanamuggatoti.
The Buddha Sumana, bearer of glory, attained Parinibbāna at Aṅgārāma; right there the Conqueror's stūpa was four yojanas high.
Đức Phật Sumana, bậc mang danh tiếng, đã nhập Niết-bàn ở tại tu viện Aṅgārāma; chính tại nơi ấy, bảo tháp của đấng Chiến Thắng cao bốn do-tuần.
The Fourth Chronicle, of the Blessed One Sumana, is concluded.
Phẩm thứ tư, Phật Sử của đức Thế Tôn Sumana.
7. The Chronicle of the Buddha Revata
7. Phật Sử của đức Phật Revata
1.
1.
1.
Uccattanena so buddho, asītihatthamuggato;
Obhāseti disā sabbā, indaketuva uggato.
That Buddha was eighty cubits in height; he illuminated all directions like a raised banner of Indra.
Đức Phật ấy cao tám mươi hắc tay, chiếu sáng khắp mọi phương trời, như cột cờ của trời Đế Thích được dựng lên.