Bản dịch
BV 4 — Lịch Sử Đức Phật Koṇḍañña
4. Koṇḍaññabuddhavaṁsa
Inda-bh 1Sau (đức Phật) Dīpaṅkara, vị Lãnh Đạo tên Koṇḍañña có vinh quang vô tận, danh tiếng vô cùng, không thể đo lường, khó thể đạt đến.
Inda-bh 2Vị ấy được ví như trái đất về sự kham nhẫn, như biển cả về giới hạnh, như núi Meru về thiền định, như bầu trời về trí tuệ.
Inda-bh 3Vì lợi ích của tất cả chúng sanh, đức Phật luôn luôn giảng giải bài giảng về Căn Quyền, về Lực, về các Chi Phần đưa đến Giác Ngộ, về Đạo Lộ, về Chân Lý.
Inda-bh 4Trong khi đấng Lãnh Đạo Thế Gian Koṇḍañña đang chuyển vận bánh xe Chánh Pháp, đã có sự lãnh hội lần thứ nhất là của một trăm ngàn koṭi vị.
Inda-bh 5Về sau vào lúc khác, trong khi thuyết giảng ở cuộc tụ hội của loài người và chư thiên, đã có sự lãnh hội lần thứ nhì là của chín chục ngàn koṭi vị.
Inda-bh 6Trong khi khuất phục các ngoại đạo, lúc ấy đức Phật đã thuyết giảng Giáo Pháp; đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của tám chục ngàn koṭi vị.
Inda-bh 7Bậc Đại Ẩn Sĩ Koṇḍañña đã có ba lần tụ hội gồm các vị Lậu Tận, không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy.
Inda-bh 8Cuộc hội tụ thứ nhất gồm có một trăm ngàn koṭi vị, thứ nhì gồm có một ngàn koṭi vị, thứ ba gồm có chín mươi koṭi vị.
Inda-bh 9Vào lúc bấy giờ, ta là vị Sát-đế-lỵ tên Vijitāvī. Ta thể hiện quyền thống trị từ đầu này đến đầu kia của biển cả.
Inda-bh 10Ta đã làm hài lòng một trăm ngàn koṭi vị đại ẩn sĩ không còn ô nhiễm cùng với đấng Lãnh Đạo Tối Thắng của thế gian bằng vật thực tuyệt hảo.
Inda-bh 11Đức Phật ấy, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Koṇḍañña, cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này, (người này) sẽ trở thành vị Phật ở thế gian.
Inda-bh 12Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 13Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 14Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 15Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề, bậc Vô Thượng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Inda-bh 16Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 17Kolita và Upatissa sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng ấy.
Inda-bh 18Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 19Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 20Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 21Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 22“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 23Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 24Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 25Sau khi nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Trong khi làm hoàn mỹ cho chính mục đích ấy, ta đã dâng lên đấng Chiến Thắng vương quốc rộng lớn. Sau khi từ bỏ vương quốc rộng lớn, ta đã xuất gia trong sự chứng minh của vị ấy.
Inda-bh 26Sau khi học tập toàn bộ Kinh và luôn cả Luật tức là Giáo Pháp của bậc Đạo Sư gồm chín thể loại, ta đã làm rạng rỡ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.
Inda-bh 27Trong khi sống không xao lãng trong Giáo Pháp ấy trong khi ngồi, đứng, đi kinh hành, sau khi làm toàn hảo các thắng trí, ta đã đi đến thế giới của Phạm Thiên.
Inda-bh 28Thành phố có tên là Rammavatī, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Sunanda, người mẹ của vị Đại Ẩn Sĩ Koṇḍañña tên là Sujātā.
Inda-bh 29Vị ấy đã ở giữa gia đình mười ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Suci, Suruci, và Subha.
Inda-bh 30Có ba trăm ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Rucidevī. Con trai tên là Vijitasena.
Inda-bh 31Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện cỗ xe và đã ra sức nỗ lực mười tháng không thiếu sót.
Inda-bh 32Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, bậc Tối Thượng Nhân, đấng Đại Hùng Koṇḍañña đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) ở khu rừng lớn của chư thiên.
Inda-bh 33Bhadda và luôn cả Subhadda đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Koṇḍañña tên là Anuruddha.
Inda-bh 34Tissā và Upatissā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của vị Đại Ẩn Sĩ Koṇḍañña là giống cây Sālā tốt lành (sāla-kalyāṇika).
Inda-bh 35Soṇa và Upasoṇa đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Nandā và luôn cả Sirimā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 36Cao tám mươi tám cánh tay (40 mét), bậc Đại Hiền Triết ấy sáng ngời tợ như mặt trăng, giống như mặt trời lúc chính ngọ.
Inda-bh 37Tuổi thọ được biết là kéo dài đến một trăm ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 38Trái đất được điểm tô với những bậc Lậu Tận không còn ô nhiễm giống như là bầu trời được tô điểm bởi các vì tinh tú, và vị ấy đã rạng rỡ như thế.
Inda-bh 39Các bậc long tượng ấy là vô lượng, không bị dao động, khó thể đạt đến. Sau khi thị hiện giống như là tia chớp, các vị có danh tiếng vĩ đại ấy đã Niết bàn.
Inda-bh 40Thần thông ấy và (thiền) định đã được phát triển toàn diện bằng trí tuệ của đấng Chiến Thắng là vô song, tất cả đều hoàn toàn biết mất; phải chăng tất cả các hành là trống không?
Inda-bh 41Đức Phật Koṇḍañña, bậc có niềm vinh quang, đã Niết Bàn tại tu viện Canda. Ngôi bảo tháp đẹp đẽ (dành cho vị ấy) đã được dựng lên cao bảy do-tuần ở ngay tại nơi ấy.
Lịch sử đức Phật Koṇḍañña là phần thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Dīpaṅkarassa aparena, koṇḍañño nāma nāyako;
Anantatejo amitayaso, appameyyo durāsado.
After Dīpaṅkara, a Leader named Koṇḍañña arose, of infinite power, immeasurable glory, incomparable, and unassailable.
Sau thời đức Phật Dīpaṅkara, có vị Lãnh đạo tên là Koṇḍañña, với uy lực vô biên, danh tiếng vô lượng, không thể đo lường, khó có thể tiếp cận.
2.
2.
2.
Dharaṇūpamo khamanena, sīlena sāgarūpamo;
Samādhinā merūpamo, ñāṇena gaganūpamo.
In patience, he was like the earth; in virtue, like the ocean; in concentration, like Meru; in wisdom, like the sky.
Về lòng kiên nhẫn, Ngài như đất; về giới hạnh, Ngài như biển cả; về định tâm, Ngài như núi Meru; về trí tuệ, Ngài như bầu trời.
3.
3.
3.
Indriyabalabojjhaṅga-maggasaccappakāsanaṃ;
Pakāsesi sadā buddho, hitāya sabbapāṇinaṃ.
For the welfare of all beings, the Buddha always proclaimed the teaching that illuminates the faculties, powers, factors of enlightenment, the path, and the truths.
Vì lợi ích của tất cả chúng sanh, đức Phật luôn tuyên thuyết về quyền, lực, giác chi, đạo và đế.
4.
4.
4.
Dhammacakkaṃ pavattente, koṇḍaññe lokanāyake;
Koṭisatasahassānaṃ, paṭhamābhisamayo ahu.
When Koṇḍañña, the Leader of the World, was turning the Wheel of Dhamma, the first realization occurred for one hundred thousand crores.
Khi đấng Lãnh đạo thế gian Koṇḍañña chuyển Pháp luân, đã có sự chứng ngộ lần đầu tiên của một trăm ngàn ức chúng sanh.
5.
5.
5.
Tato parampi desente, naramarūnaṃ samāgame;
Navutikoṭisahassānaṃ, dutiyābhisamayo ahu.
Then, on a later occasion, while he was teaching in an assembly of humans and devas, the second realization occurred for ninety thousand crores.
Sau đó, khi Ngài thuyết giảng trong một cuộc hội họp của người và trời, đã có sự chứng ngộ lần thứ hai của chín mươi ngàn ức chúng sanh.
6.
6.
6.
Titthiye abhimaddanto, yadā dhammamadesayi;
Asītikoṭisahassānaṃ, tatiyābhisamayo ahu.
When, while subduing the sectarians, he taught the Dhamma, the third realization occurred for eighty thousand crores.
Khi Ngài thuyết pháp, nhiếp phục các người theo ngoại đạo, đã có sự chứng ngộ lần thứ ba của tám mươi ngàn ức chúng sanh.
7.
7.
7.
Sannipātā tayo āsuṃ, koṇḍaññassa mahesino;
Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ, santacittāna tādinaṃ.
There were three assemblies for the Great Sage Koṇḍañña—of those with cankers destroyed, who were stainless, of peaceful mind, and steadfast.
Đã có ba cuộc hội họp của các vị lậu tận, không còn cấu uế, tâm hồn thanh tịnh, và vững vàng, của đấng Đại sĩ Koṇḍañña.
8.
8.
8.
Koṭisatasahassānaṃ, paṭhamo āsi samāgamo;
Dutiyo koṭisahassānaṃ, tatiyo navutikoṭinaṃ.
The first assembly was of one hundred thousand crores; the second, of one thousand crores; the third, of ninety crores.
Cuộc hội họp đầu tiên là của một trăm ngàn ức vị; cuộc hội họp thứ hai là của một ngàn ức vị; cuộc hội họp thứ ba là của chín mươi ức vị.
9.
9.
9.
Ahaṃ tena samayena, vijitāvī nāma khattiyo;
Samuddaṃ antamantena, issariyaṃ vattayāmahaṃ.
At that time, I was a king named Vijitāvī, a universal monarch. I exercised sovereignty over the land bounded by the ocean.
Vào thời điểm ấy, ta là một vị vua Sát-đế-lỵ tên là Vijitāvī; ta đã cai trị một vương quốc có biển cả làm ranh giới.
10.
10.
10.
Koṭisatasahassānaṃ, vimalānaṃ mahesinaṃ;
Saha lokagganāthena, paramannena tappayiṃ.
Together with the Foremost Protector of the World, I satisfied one hundred thousand crores of stainless great sages with the finest food.
Ta đã làm cho một trăm ngàn ức vị không còn cấu uế, những bậc Đại sĩ, cùng với đấng Lãnh đạo tối cao của thế gian, được mãn nguyện với những món ăn hảo hạng.
11.
11.
11.
Sopi maṃ buddho byākāsi, koṇḍañño lokanāyako;
‘‘Aparimeyyito kappe, buddho loke bhavissati.
That Buddha also, Koṇḍañña, the Leader of the World, made a prophecy concerning me: ‘In an incalculable aeon from now, a Buddha will arise in the world.’
Đức Phật ấy, đấng Lãnh đạo thế gian Koṇḍañña, cũng đã thọ ký cho ta: ‘Sau vô số kiếp kể từ đây, vị này sẽ trở thành một vị Phật trên thế gian.’
12.
12.
12.
‘‘Padhānaṃ padahitvāna, katvā dukkarakārikaṃ;
Assatthamūle sambuddho, bujjhissati mahāyaso.
‘Having engaged in the striving and performed the difficult practice, the Fully Enlightened One of great fame will awaken at the foot of the Assattha tree.’
‘Sau khi đã nỗ lực tinh tấn, thực hành khổ hạnh, bậc Chánh Đẳng Giác, đấng Đại danh tiếng, sẽ giác ngộ dưới gốc cây Assattha.’
13.
13.
13.
‘‘Imassa janikā mātā, māyā nāma bhavissati;
Pitā suddhodano nāma, ayaṃ hessati gotamo.
‘His mother who gives him birth will be named Māyā; his father will be named Suddhodana, and this one will be Gotama.’
‘Mẹ của vị này sẽ tên là Māyā, cha sẽ tên là Suddhodana, và vị này sẽ là Gotama.’
14.
14.
14.
‘‘Kolito upatisso ca, aggā hessanti sāvakā;
Ānando nāmupaṭṭhāko, upaṭṭhissatimaṃ jinaṃ.
‘Kolita and Upatissa will be the chief disciples. An attendant named Ānanda will attend upon this Victor.’
‘Kolita và Upatissa sẽ là hai vị Thượng thủ Thinh văn; vị thị giả tên là Ānanda sẽ hầu cận đấng Chiến Thắng này.’
15.
15.
15.
‘‘Khemā uppalavaṇṇā ca, aggā hessanti sāvikā;
Bodhi tassa bhagavato, assatthoti pavuccati.
‘Khemā and Uppalavaṇṇā will be the chief female disciples. The Bodhi of that Blessed One is called the Assattha.’
‘Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là hai vị Thượng thủ Thinh văn Ni; cây Bồ-đề của đấng Thế Tôn ấy được gọi là cây Assattha.’
16.
16.
16.
‘‘Citto ca hatthāḷavako, aggā hessantupaṭṭhakā;
Nandamātā ca uttarā, aggā hessantupaṭṭhikā;
Āyu vassasataṃ tassa, gotamassa yasassino’’.
‘Citta and Hatthāḷavaka will be the chief male lay supporters; Nandamātā and Uttarā will be the chief female lay supporters. The lifespan of that famous Gotama will be one hundred years.’
‘Citta và Hatthāḷavaka sẽ là hai vị Thượng thủ hộ độ; Nandamātā và Uttarā sẽ là hai vị nữ Thượng thủ hộ độ. Tuổi thọ của đức Gotama, đấng danh tiếng ấy, sẽ là một trăm năm.’
17.
17.
17.
Idaṃ sutvāna vacanaṃ, asamassa mahesino;
Āmoditā naramarū, buddhabījaṃ kira ayaṃ.
Having heard this utterance of the incomparable Great Sage, humans and devas rejoiced, saying: ‘This is indeed a seed of Buddhahood!’
Nghe lời này của đấng Đại sĩ vô song, người và trời vui mừng: ‘Vị này quả thật là một mầm mống Phật.’
18.
18.
18.
Ukkuṭṭhisaddā vattanti, apphoṭenti hasanti ca;
Katañjalī namassanti, dasasahassidevatā.
The deities of the ten-thousand world-system raised shouts of acclamation, clapped their hands, and laughed; with hands joined in reverence, they paid homage.
Các vị trời trong mười ngàn thế giới cất lên tiếng reo hò, vỗ tay và tươi cười; họ chắp tay và đảnh lễ.
19.
19.
19.
‘‘Yadimassa lokanāthassa, virajjhissāma sāsanaṃ;
Anāgatamhi addhāne, hessāma sammukhā imaṃ.
“If we should fail in the Dispensation of this Lord of the World, in the time to come, we shall be in the presence of this one.”
‘Nếu chúng ta bỏ lỡ giáo pháp của đấng Hộ thế này, thì trong tương lai, chúng ta sẽ được diện kiến vị này.’
20.
20.
20.
‘‘Yathā manussā nadiṃ tarantā, paṭititthaṃ virajjhiya;
Heṭṭhātitthe gahetvāna, uttaranti mahānadiṃ.
“Just as people crossing a river, having missed the direct ford, take the ford downstream and cross the great river;
‘Giống như những người vượt sông, khi bỏ lỡ bến đò đối diện, họ đến bến đò phía dưới và vượt qua dòng sông lớn.’
21.
21.
21.
‘‘Evameva mayaṃ sabbe, yadi muñcāmimaṃ jinaṃ;
Anāgatamhi addhāne, hessāma sammukhā imaṃ’’.
“Just so, all of us, if we should miss this Conqueror, in the time to come, we shall be in the presence of this one.”
“Cũng giống như thế, tất cả chúng con, nếu bỏ lỡ vị Toàn Giác này, thì trong thời vị lai, chúng con sẽ được diện kiến ngài.”
22.
22.
22.
Tassāhaṃ vacanaṃ sutvā, bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ;
Tameva atthaṃ sādhento, mahārajjaṃ jine adaṃ;
Mahārajjaṃ daditvāna †, pabbajiṃ tassa santike.
Having heard his word, I clarified my mind even more. Accomplishing that very purpose, I gave the great kingdom to the Conqueror. Having given the great kingdom, I went forth in his presence.
Sau khi nghe lời dạy của ngài, ta đã làm cho tâm được tịnh tín hơn nữa. Trong khi thực hành mục tiêu ấy, ta đã dâng cúng đại vương quốc đến bậc Toàn Giác. Sau khi dâng cúng đại vương quốc, ta đã xuất gia ở nơi ngài.
23.
23.
23.
Suttantaṃ vinayañcāpi, navaṅgaṃ satthusāsanaṃ;
Sabbaṃ pariyāpuṇitvāna, sobhayiṃ jinasāsanaṃ.
Having mastered the Suttanta and the Vinaya, the entire nine-limbed Dispensation of the Teacher, I adorned the Dispensation of the Conqueror.
Kinh tạng và cả Luật tạng, giáo huấn của bậc Đạo Sư gồm chín chi phần; sau khi đã học hỏi tất cả, ta đã làm rạng rỡ giáo pháp của bậc Toàn Giác.
24.
24.
24.
Tatthappamatto viharanto, nisajjaṭṭhānacaṅkame;
Abhiññāpāramiṃ gantvā, brahmalokamagañchahaṃ.
Dwelling there diligently, in the postures of sitting, standing, and walking, having reached the perfection of the higher knowledges, I went to the Brahma-world.
Ở đấy, trong khi trú ngụ không dể duôi, trong lúc ngồi, đứng, và kinh hành, sau khi đã đi đến sự toàn hảo về thắng trí, ta đã đi đến cõi Phạm thiên.
25.
25.
25.
Nagaraṃ rammavatī nāma, sunando nāma khattiyo;
Sujātā nāma janikā, koṇḍaññassa mahesino.
The city of the Great Sage Koṇḍañña was named Rammavatī; his khattiya father was named Sunanda, and his mother was named Sujātā.
Thành phố tên là Rammavatī, vị vua Sát-đế-lỵ tên là Sunanda, mẫu hậu tên là Sujātā, (cha mẹ) của bậc Đại Ẩn Sĩ Koṇḍañña.
26.
26.
26.
Dasavassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi †;
Suci suruci subho ca, tayo pāsādamuttamā.
For ten thousand years he dwelt in the household; Suci, Suruci, and Subha were the three excellent palaces.
Vị ấy đã sống trong gia đình mười ngàn năm. Có ba cung điện tối thượng là: Suci, Suruci, và Subha.
27.
27.
27.
Tīṇisatasahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Rucidevī nāma nārī, vijitaseno atrajo.
There were three hundred thousand well-adorned women. The consort was named Rucidevī, and the son was named Vijitasena.
Có ba trăm ngàn phụ nữ được trang điểm lộng lẫy. Người vợ tên là Rucidevī, người con trai là Vijitasena.
28.
28.
28.
Nimitte caturo disvā, rathayānena nikkhami;
Anūnadasamāsāni, padhānaṃ padahī jino.
Having seen the four signs, the Conqueror went forth by chariot; for a full ten months, he undertook the striving.
Sau khi nhìn thấy bốn điềm báo, ngài đã ra đi bằng xe ngựa. Bậc Toàn Giác đã thực hành khổ hạnh trong suốt mười tháng không thiếu.
29.
29.
29.
Brahmunā yācito santo, koṇḍañño dvipaduttamo;
Vatti cakkaṃ mahāvīro, devānaṃ nagaruttame.
Requested by Brahmā, the serene Koṇḍañña, supreme among two-footed beings, the Great Hero, set in motion the Wheel in the excellent city of the devas.
Được Phạm thiên thỉnh cầu, bậc Thánh nhân Koṇḍañña, tối thượng giữa các loài hai chân, bậc Đại Hùng đã chuyển Pháp luân cho chư Thiên ở tại thành phố tối thắng.
30.
30.
30.
Bhaddo ceva subhaddo ca, ahesuṃ aggasāvakā;
Anuruddho nāmupaṭṭhāko, koṇḍaññassa mahesino.
Bhadda and Subhadda were the chief disciples; Anuruddha by name was the attendant of the Great Sage Koṇḍañña.
Bhadda và Subhadda là hai vị Thượng thủ Thinh văn. Vị thị giả tên là Anuruddha của bậc Đại Ẩn Sĩ Koṇḍañña.
31.
31.
31.
Tissā ca upatissā ca, ahesuṃ aggasāvikā;
Sālakalyāṇiko bodhi, koṇḍaññassa mahesino.
Tissā and Upatissā were the chief female disciples; the Bodhi tree of the Great Sage Koṇḍañña was the Sālakalyāṇī.
Tissā và Upatissā là hai vị Thượng thủ Thinh văn Ni. Cây Bồ-đề của bậc Đại Ẩn Sĩ Koṇḍañña là cây Sālakalyāṇika.
32.
32.
32.
Soṇo ca upasoṇo ca, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Nandā ceva sirīmā ca, ahesuṃ aggupaṭṭhikā.
Soṇa and Upasoṇa were the chief male lay supporters; Nandā and Sirimā were the chief female lay supporters.
Soṇa và Upasoṇa là hai vị Thượng thủ hộ độ. Nandā và Sirimā là hai vị Thượng thủ nữ hộ độ.
33.
33.
33.
So aṭṭhāsīti hatthāni, accuggato mahāmuni;
Sobhate uḷurājāva sūriyo majjhanhike yathā.
That Great Sage was eighty-eight cubits tall; he shone like the king of stars, and like the sun at midday.
Bậc Đại Ẩn Sĩ ấy cao tám mươi tám hắc-thủy. Ngài tỏa sáng như vua của các vì sao, và giống như mặt trời vào giữa trưa.
34.
34.
34.
Vassasatasahassāni, āyu vijjati tāvade;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
At that time, the lifespan was one hundred thousand years. Abiding for that long, he ferried many beings across.
Tuổi thọ vào lúc bấy giờ là một trăm ngàn năm. Trong khi còn tại thế chừng ấy thời gian, ngài đã cứu độ nhiều chúng sanh.
35.
35.
35.
Khīṇāsavehi vimalehi, vicittā āsi medanī;
Yathā gaganamuḷūhi, evaṃ so upasobhatha.
The earth was made resplendent by the stainless ones whose cankers were destroyed; just as the sky is adorned with constellations, so was he adorned by them.
Mặt đất đã trở nên rực rỡ với các bậc lậu tận, không còn cấu uế. Giống như bầu trời được trang điểm bởi các vì sao, ngài cũng được trang nghiêm như thế (bởi các vị A-la-hán).
36.
36.
36.
Tepi nāgā appameyyā, asaṅkhobhā durāsadā;
Vijjupātaṃva dassetvā, nibbutā te mahāyasā.
Those immeasurable Nāgas, unshakable and unassailable, of great renown—having shown themselves like a flash of lightning, they attained Parinibbāna.
Các bậc Long Tượng ấy không thể đo lường, không bị dao động, khó thể tiếp cận. Sau khi biểu hiện như tia chớp, các vị có danh tiếng lẫy lừng ấy đã tịch diệt.
37.
37.
37.
Sā ca atuliyā jinassa iddhi, ñāṇaparibhāvito ca samādhi;
Sabbaṃ tamantarahitaṃ, nanu rittā sabbasaṅkhārā.
That matchless psychic power of the Conqueror, and the concentration cultivated by wisdom—all that has vanished. Are not all conditioned things indeed empty?
Và thần thông vô song của bậc Toàn Giác, và định được tu tập bởi trí tuệ; tất cả những điều ấy đã biến mất. Quả thật, tất cả các pháp hữu vi đều trống rỗng phải không?
38.
38.
38.
Koṇḍañño pavaro buddho, candārāmamhi nibbuto;
Tattheva cetiyo citto, satta yojanamussitoti.
The excellent Buddha Koṇḍañña attained Parinibbāna in the Candārāma. Right there, an adorned stupa was raised, seven yojanas high.
Đức Phật Koṇḍañña cao quý đã nhập Niết-bàn tại tu viện Candārāma. Ngay tại nơi ấy, một bảo tháp tráng lệ đã được dựng lên, cao bảy do-tuần.
The second chronicle, that of the Blessed One Koṇḍañña, is concluded.
Phật sử của Đức Thế Tôn Koṇḍañña, chương thứ hai.