Bản dịch
BV 3 — Lịch Sử Đức Phật Dīpaṅkara
3. Dīpaṅkarabuddhavaṁsa
Inda-bh 1Lúc bấy giờ, sau khi đã dâng vật thực đến đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng (tỳ khưu), họ đã đi đến nương nhờ (quy y) bậc Đạo Sư Dīpaṅkara ấy.
Inda-bh 2Đức Như Lai đã an trú người này vào việc đi đến nương nhờ (quy y), người kia vào năm giới, người khác vào mười giới.
Inda-bh 3Ngài ban cho vị này tư cách Sa-môn trong bốn quả vị tối thượng. Ngài ban cho vị kia tuệ phân tích thuộc về các pháp không gì sánh kịp.
Inda-bh 4Đấng Nhân Ngưu ban cho người này tám tầng thiền quý báu, ban tặng cho người kia ba minh, sáu thắng trí (lục thông).
Inda-bh 5Bậc Đại Hiền Triết ấy đã giáo huấn đám đông bằng phương thức ấy. Nhờ vậy, Giáo Pháp của đấng Lãnh Đạo Thế Gian đã được phổ biến rộng rãi.
Inda-bh 6Vị có tên Dīpaṅkara, có quai hàm lớn vai rộng, giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua, giúp cho họ hoàn toàn thoát khỏi khổ cảnh.
Inda-bh 7Sau khi nhìn thấy chúng sanh có thể giác ngộ dầu ở cách trăm ngàn do-tuần, bậc Đại Hiền Triết đi đến trong khoảnh khắc và giác ngộ người ấy.
Inda-bh 8Trong sự lãnh hội lần thứ nhất, đức Phật đã giác ngộ một trăm koṭi (1 tỷ) vị. Trong sự lãnh hội lần thứ nhì, bậc Lãnh Đạo đã giác ngộ chín mươi koṭi (chín trăm triệu) vị.
Inda-bh 9Và khi đức Phật thuyết giảng Giáo Pháp ở tại cung trời, đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của chín mươi ngàn koṭi (chín trăm tỷ) vị.
Inda-bh 10Bậc Đạo Sư Dīpaṅkara có ba lần tụ hội. Cuộc tụ hội lần thứ nhất là của một trăm ngàn koṭi (một ngàn tỷ, một triệu triệu) vị.
Inda-bh 11Hơn nữa, khi đấng Chiến Thắng sống biệt cư tại đỉnh núi Nārada, một trăm koṭi bậc Lậu Tận không còn ô nhiễm đã tụ hội lại.
Inda-bh 12Vào thời gian đấng Đại Hùng ngự ở ngọn núi Sudassana, bậc Đại Hiền Triết đã hành lễ Pavāraṇā với chín mươi ngàn koṭi vị.
Inda-bh 13Vào lúc bấy giờ, ta là đạo sĩ bện tóc có khổ hạnh cao tột, đi lại ở trên không trung, toàn hảo về năm thắng trí.
Inda-bh 14Đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của mười ngàn, hai mươi ngàn vị. Sự lãnh hội của một hai vị là không kể đến theo cách thức tính toán.
Inda-bh 15Khi ấy, Giáo Pháp vô cùng thanh tịnh của đức Thế Tôn Dīpaṅkara đã được phát triển, thành công, và phổ biến rộng rãi đến số đông người.
Inda-bh 16Bốn trăm ngàn vị Lục Thông có đại thần lực luôn luôn tề tựu xung quanh bậc Thông Suốt Thế Gian Dīpaṅkara.
Inda-bh 17Vào lúc bấy giờ, những ai từ bỏ bản thể nhân loại còn là những bậc Hữu Học có tâm trí chưa được thành đạt, những người ấy bị chê trách.
Inda-bh 18Nhờ vào các vị A-la-hán có các lậu hoặc đã tận không còn ô nhiễm như thế ấy, lời tuyên thuyết được khéo léo đươm hoa luôn luôn sáng chói.
Inda-bh 19Thành phố có tên là Rammavatī, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Sudeva, người mẹ của đấng Đạo Sư Dīpaṅkara tên là Sumedhā.
Inda-bh 20Đấng Chiến Thắng đã ở giữa gia đình trong mười ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời gọi tên là Haṁsā, Koñcā, và Mayūrā.
Inda-bh 21Có ba trăm ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Padumā. Con trai tên là Usabhakkhandha.
Inda-bh 22Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện voi và đã ra sức nỗ lực mười tháng không thiếu sót.
Inda-bh 23Sau khi thực hành hạnh nỗ lực, bậc Hiền Triết đã giác ngộ bằng tâm. Bậc Đại Hiền Triết Dīpaṅkara đã được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu.
Inda-bh 24Bậc Đại Hùng, đấng Chiến Thắng oai lực, có bánh xe (Chánh Pháp) được chuyển vận tại tu viện Nandā. Ngồi ở gốc cây Sirisa, Ngài đã khuất phục hàng ngoại đạo.
Inda-bh 25Sumaṅgala và Tissa đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đạo Sư Dīpaṅkara tên là Sāgata.
Inda-bh 26Nandā và luôn cả Sunandā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là “Pipphalī.”
Inda-bh 27Tapussa và Bhallika đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Sirimā và Soṇā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ của bậc Đạo Sư Dīpaṅkara.
Inda-bh 28Cao tám mươi cánh tay, vị Đại Hiền Triết Dīpaṅkara sáng ngời như cây cột đèn, như là cây Sālā chúa đã được trổ hoa.
Inda-bh 29Tuổi thọ của vị Đại Ẩn Sĩ ấy là một trăm ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 30Ngài đã làm rạng rỡ Chánh Pháp và đã giúp cho dân chúng vượt qua. Sau khi rực cháy như là khối lửa, Ngài cùng với các vị Thinh Văn đã Niết Bàn.
Inda-bh 31Thần thông ấy, danh tiếng ấy, và các bánh xe châu báu ấy ở hai bàn chân, tất cả đều hoàn toàn biết mất; phải chăng tất cả các hành là trống không?
Inda-bh 32Đấng Chiến Thắng, bậc Đạo Sư Dīpaṅkara đã Niết Bàn tại tu viện Nandā. Bảo tháp của đấng Chiến Thắng dành cho vị ấy có chiều cao ba mươi sáu do-tuần là ở ngay tại nơi ấy.”
Lịch sử đức Phật Dīpaṅkara là phần thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Tadā te bhojayitvāna, sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ;
Upagacchuṃ saraṇaṃ tassa, dīpaṅkarassa satthuno.
3. Then, having fed the World-Leader together with his Saṅgha, they went for refuge to that Teacher, Dīpaṅkara.
Khi ấy, sau khi dâng vật thực đến vị Lãnh Đạo thế gian cùng với Tăng chúng, họ đã đi đến quy y nơi bậc Đạo Sư Dīpaṅkara ấy.
2.
2.
2.
Saraṇāgamane kañci, nivesesi tathāgato;
Kañci pañcasu sīlesu, sīle dasavidhe paraṃ.
The Tathāgata established some in the going for refuge, some in the five precepts, and others in the tenfold precepts.
Đức Như Lai đã an lập một số người trong sự quy y Tam Bảo, một số người trong năm giới, và những người khác trong mười loại giới.
3.
3.
3.
Kassaci deti sāmaññaṃ, caturo phalamuttame;
Kassaci asame dhamme, deti so paṭisambhidā.
To some he gave the fruits of recluseship, the four supreme fruits; to some he gave the incomparable qualities of analytical knowledge.
Vị ấy ban cho một số người quả vị Sa-môn, bốn Thánh quả cao thượng; ban cho một số người các pháp Tuệ Phân Tích vô song.
4.
4.
4.
Kassaci varasamāpattiyo, aṭṭha deti narāsabho;
Tisso kassaci vijjāyo, chaḷabhiññā pavecchati.
To some, the Bull among Men gave the eight supreme attainments; to some He gave the three knowledges; to some He bestowed the six supernormal powers.
Bậc Nhân Ngưu ban cho một số người tám thiền chứng cao thượng; ban cho một số người ba minh và sáu thắng trí.
5.
5.
5.
Tena yogena janakāyaṃ, ovadati mahāmuni;
Tena vitthārikaṃ āsi, lokanāthassa sāsanaṃ.
By that means the Great Sage instructed the populace; and thus the Dispensation of the Protector of the World became widespread.
Bậc Đại Mâu-ni đã giáo huấn quần chúng bằng phương cách ấy. Do đó, giáo pháp của vị Lãnh Đạo thế gian đã trở nên rộng khắp.
6.
6.
6.
Mahāhanusabhakkhandho, dīpaṅkarassa nāmako;
Bahū jane tārayati, parimoceti duggatiṃ.
The Blessed One named Dīpaṅkara, who has a great jaw and shoulders like a bull, ferries many people across and frees them from the woeful states.
Vị có hàm lớn, vai như bò đực, tên là Dīpaṅkara, đã cứu vớt nhiều người, giải thoát họ khỏi khổ cảnh.
7.
7.
7.
Bodhaneyyaṃ janaṃ disvā, satasahassepi yojane;
Khaṇena upagantvāna, bodheti taṃ mahāmuni.
Seeing a person fit for awakening, even a hundred thousand leagues away, the Great Sage would approach in an instant and awaken them.
Bậc Đại Mâu-ni, sau khi thấy người có thể giác ngộ dù ở cách trăm ngàn do-tuần, đã đi đến trong khoảnh khắc và làm cho người ấy giác ngộ.
8.
8.
8.
Paṭhamābhisamaye buddho, koṭisatamabodhayi;
Dutiyābhisamaye nātho, navutikoṭimabodhayi.
At the first realization, the Buddha awakened one hundred crores; at the second realization, the Protector awakened ninety crores.
Trong lần giác ngộ đầu tiên, đức Phật đã làm cho một trăm koṭi (chúng sanh) giác ngộ. Trong lần giác ngộ thứ hai, bậc Hộ Trì đã làm cho chín mươi koṭi (chúng sanh) giác ngộ.
9.
9.
9.
Yadā ca devabhavanamhi, buddho dhammamadesayi;
Navutikoṭisahassānaṃ, tatiyābhisamayo ahu.
And when the Buddha taught the Dhamma in the deva abode, for ninety thousand crores there was the third realization.
Và khi đức Phật thuyết Pháp ở cõi trời, sự giác ngộ lần thứ ba đã xảy ra cho chín mươi ngàn koṭi (chư Thiên và Phạm Thiên).
10.
10.
10.
Sannipātā tayo āsuṃ, dīpaṅkarassa satthuno;
Koṭisatasahassānaṃ, paṭhamo āsi samāgamo.
There were three assemblies of the Teacher Dīpaṅkara; the first gathering was of one hundred thousand crores.
Đã có ba lần hội chúng của bậc Đạo Sư Dīpaṅkara. Lần hội chúng đầu tiên là của một trăm ngàn koṭi (vị A-la-hán).
11.
11.
11.
Puna nāradakūṭamhi, pavivekagate jine;
Khīṇāsavā vītamalā, samiṃsu satakoṭiyo.
Again, on Nārada peak, when the Conqueror had gone into seclusion, one hundred crores of those with cankers destroyed, free from defilement, assembled.
Lại nữa, khi bậc Chiến Thắng đã đi đến nơi vắng vẻ tại đỉnh núi Nārada, một trăm koṭi vị A-la-hán đã tận trừ lậu hoặc, không còn cấu uế, đã tụ hội.
12.
12.
12.
Yamhi kāle mahāvīro, sudassanasiluccaye;
Navakoṭisahassehi, pavāresi mahāmuni.
At the time when the Great Hero was on the Sudassana peak, the Great Sage performed the Pavāraṇā with ninety thousand crores.
Vào lúc bậc Đại Hùng ở trên núi đá Sudassana, bậc Đại Mâu-ni đã làm lễ Tự tứ cùng với chín mươi ngàn koṭi (vị A-la-hán).
13.
13.
13.
Dasavīsasahassānaṃ, dhammābhisamayo ahu;
Ekadvinnaṃ abhisamayā, gaṇanāto asaṅkhiyā.
There was a realization of the Dhamma for ten thousand and for twenty thousand beings; the realizations of one or two were, by calculation, innumerable.
Sự giác ngộ Pháp đã xảy ra cho mười ngàn, hai mươi ngàn chúng sanh. Những sự giác ngộ của một hoặc hai chúng sanh thì không thể đếm được về mặt số lượng.
14.
14.
14.
Vitthārikaṃ bāhujaññaṃ, iddhaṃ phītaṃ ahū tadā;
Dīpaṅkarassa bhagavato, sāsanaṃ suvisodhitaṃ.
At that time, the well-purified Dispensation of the Blessed One Dīpaṅkara was widespread, widely known, prosperous, and flourishing.
Khi ấy, giáo pháp đã được thanh lọc hoàn toàn của đức Thế Tôn Dīpaṅkara đã trở nên rộng khắp, được nhiều người biết đến, thành tựu, và thịnh vượng.
15.
15.
15.
Cattāri satasahassāni, chaḷabhiññā mahiddhikā;
Dīpaṅkaraṃ lokaviduṃ, parivārenti sabbadā.
Four hundred thousand, possessing the six supernormal powers and great psychic power, always attended on Dīpaṅkara, the Knower of the World.
Bốn trăm ngàn vị (A-la-hán) có sáu thắng trí và đại thần lực luôn luôn hầu cận đức Dīpaṅkara, bậc Thông Suốt Thế Gian.
16.
16.
16.
Ye keci tena samayena, jahanti mānusaṃ bhavaṃ;
Apattamānasā sekhā, garahitā bhavanti te.
At that time, any trainees who had not attained the goal and passed away from the human state, they were censured.
Vào thời điểm ấy, bất cứ ai từ bỏ kiếp người trong khi còn là bậc Hữu học, tâm chưa đạt đến mục đích (A-la-hán quả), những vị ấy đều bị chê trách.
17.
17.
17.
Supupphitaṃ pāvacanaṃ, arahantehi tādihi;
Khīṇāsavehi vimalehi, upasobhati sabbadā.
The well-blossomed teaching always shines, adorned with the Arahants—those who are steadfast, whose cankers are destroyed, and who are stainless.
Giáo pháp nở rộ tốt đẹp luôn luôn trở nên rực rỡ với các vị A-la-hán, những bậc như vậy, đã tận trừ lậu hoặc, không còn cấu uế.
18.
18.
18.
Nagaraṃ rammavatī nāma, sudevo nāma khattiyo;
Sumedhā nāma janikā, dīpaṅkarassa satthuno.
The city of the Teacher Dīpaṅkara was named Rammavatī; the king, his father, was named Sudeva; his mother was named Sumedhā.
Kinh thành của bậc Đạo Sư Dīpaṅkara tên là Rammavatī, phụ vương tên là Sudeva, mẫu hậu tên là Sumedhā.
19.
19.
19.
Dasavassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi †;
Haṃsā koñcā mayūrā ca, tayo pāsādamuttamā.
For ten thousand years he lived the household life; Haṃsā, Koñcā, and Mayūrā were his three excellent palaces.
Vị ấy đã sống tại gia trong mười ngàn năm. Haṃsā, Koñcā, và Mayūrā là ba cung điện cao quý.
20.
20.
20.
Tīṇisatasahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Padumā nāma sā nārī, usabhakkhandho atrajo.
There were three hundred thousand well-adorned women; his wife was named Padumā, and his son was named Usabhakkhandha.
Có ba trăm ngàn cung nữ được trang điểm lộng lẫy. Vị chánh phi tên là Padumā, con trai tên là Usabhakkhandha.
21.
21.
21.
Nimitte caturo disvā, hatthiyānena nikkhami;
Anūnadasamāsāni, padhāne padahī jino.
Having seen the four signs, the Conqueror went forth by elephant vehicle; for no less than ten months, he engaged in the striving.
Sau khi thấy bốn điềm báo, ngài đã xuất gia bằng voi báu. Bậc Chiến Thắng đã thực hành sự tinh tấn trong trọn mười tháng.
22.
22.
22.
Padhānacāraṃ caritvāna, abujjhi mānasaṃ muni;
Brahmunā yācito santo, dīpaṅkaro mahāmuni.
Having practiced the course of striving, the Sage awakened his mind. Being requested by Brahmā, the serene Dīpaṅkara, the Great Sage...
Sau khi thực hành sự tinh tấn, bậc Mâu-ni đã giác ngộ tâm. Được Phạm Thiên thỉnh cầu, bậc Đại Mâu-ni Dīpaṅkara, đấng Tịch Tịnh,
23.
23.
23.
Vatti cakkaṃ mahāvīro, nandārāme sirīghare †;
Nisinno sirīsamūlamhi, akā titthiyamaddanaṃ.
The Great Hero turned the Wheel in the Nanda Park, in the glorious monastery. Seated at the foot of a Sirīsa tree, he performed the subduing of the sectarians.
Bậc Đại Hùng đã chuyển bánh xe Pháp tại ngôi nhà huy hoàng trong tu viện Nandārāma. Trong khi ngự tại cội cây Sirīsa, ngài đã thực hiện việc nhiếp phục ngoại đạo.
24.
24.
24.
Sumaṅgalo ca tisso ca, ahesuṃ aggasāvakā;
Sāgato † nāmupaṭṭhāko, dīpaṅkarassa satthuno.
Sumaṅgala and Tissa were the chief disciples. Sāgata by name was the attendant of the Teacher Dīpaṅkara.
Ngài Sumaṅgala và ngài Tissa là hai vị Thượng thủ Thinh văn; vị thị giả của đấng Đạo Sư Dīpaṅkara tên là Sāgata.
25.
25.
25.
Nandā ceva sunandā ca, ahesuṃ aggasāvikā;
Bodhi tassa bhagavato, pipphalīti pavuccati.
Nandā and Sunandā were the chief female disciples. The Bodhi tree of that Blessed One is called the Pipphalī.
Ni sư Nandā và ni sư Sunandā là hai vị Thượng thủ Thinh văn Ni; cây Bồ-đề của đấng Thế Tôn ấy được gọi là cây Pipphalī.
26.
26.
26.
Tapussabhallikā † nāma, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Sirimā koṇā upaṭṭhikā, dīpaṅkarassa satthuno.
Tapussa and Bhallika by name were the chief male lay supporters; Sirimā and Koṇā were the chief female lay supporters of the Teacher Dīpaṅkara.
Hai vị Thượng thủ hộ độ là Tapussa và Bhallika; hai vị nữ Thượng thủ hộ độ là Sirimā và Koṇā, của đấng Đạo Sư Dīpaṅkara.
27.
27.
27.
Asītihatthamubbedho, dīpaṅkaro mahāmuni;
Sobhati dīparukkhova, sālarājāva phullito.
The Great Sage Dīpaṅkara was eighty cubits in height; he shone like a lamp-tree, like a king of Sāl trees in full bloom.
Đức Đại ẩn sĩ Dīpaṅkara cao tám mươi hắc-thủy; Ngài tỏa sáng như cây đèn, như cây Sāla vương đang trổ hoa.
28.
28.
28.
Satasahassavassāni, āyu tassa mahesino;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
The lifespan of that Great Sage was one hundred thousand years. Remaining for that long, he ferried a great multitude across.
Tuổi thọ của đấng Đại sĩ ấy là một trăm ngàn năm; trong thời gian ấy, Ngài đã cứu độ nhiều chúng sanh.
29.
29.
29.
Jotayitvāna saddhammaṃ, santāretvā mahājanaṃ;
Jalitvā aggikkhandhova, nibbuto so sasāvako.
Having made the True Dhamma shine, and having ferried the great multitude across, blazing like a mass of fire, he, together with his disciples, was utterly extinguished.
Sau khi làm rạng rỡ Chánh pháp, sau khi cứu vớt đại chúng, Ngài cùng các vị Thinh văn đã tịch diệt, như khối lửa đã cháy sáng.
30.
30.
30.
Sā ca iddhi so ca yaso, tāni ca pādesu cakkaratanāni;
Sabbaṃ tamantarahitaṃ †, nanu rittā sabbasaṅkhārā †.
That psychic power and that glory, and those jewel-wheels on the soles of his feet—all of that has vanished. Indeed, are not all conditioned things empty?
Thần thông ấy, danh tiếng ấy, và những bánh xe báu ở bàn chân; tất cả những thứ ấy đã biến mất. Quả thật, các pháp hữu vi là trống rỗng!
31.
31.
31.
Dīpaṅkaro jino satthā, nandārāmamhi nibbuto;
Tatthevassa jinathūpo, chattiṃsubbedhayojanoti.
Dīpaṅkara, the Conqueror, the Teacher, attained Parinibbāna in the Nanda Park. Right there, the Conqueror's stūpa is thirty-six yojanas high.
Đấng Chiến Thắng, bậc Đạo Sư Dīpaṅkara đã nhập Niết-bàn tại tu viện Nandārāma; tại chính nơi ấy, bảo tháp của đấng Chiến Thắng cao ba mươi sáu do-tuần.
The First Chronicle of the Blessed One Dīpaṅkara.
Phần thứ nhất, Phật sử của đấng Thế Tôn Dīpaṅkara.