Bản dịch
BV 2 — Phần Nói về Sumedha
2 Sumedhapatthanākathā
Inda-bh 1Vào thuở bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp, có thành phố tên Amara là đáng nhìn, xinh xắn.
Inda-bh 2(Thành phố này) dồi dào thức ăn nước uống và nhộn nhịp với mười loại âm thanh như tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng trống, tiếng tù và vỏ ốc, tiếng xe cộ, và còn được giới thiệu về thức ăn nước uống: “Xin hãy nhai, xin hãy uống.”
Inda-bh 3Thành phố được đầy đủ về mọi yếu tố và thành tựu tất cả hoạt động về nghề nghiệp, có đầy đủ bảy loại châu báu, đông đảo với đủ hạng người, thịnh vượng tợ như thành phố của chư thiên, là nơi cư ngụ của những người có được thiện nghiệp.
Inda-bh 4Vị Bà-la-môn tên Sumedha ở thành phố Amaravatī là có được nhiều koṭi tiền tích lũy, có dồi dào về tài sản và lúa gạo.
Inda-bh 5Là vị chuyên về phúng tụng, nắm vững chú thuật, thông thạo ba bộ Vệ Đà, đã đạt đến sự toàn hảo về khoa tướng số, về truyền thuyết, và về phận sự chánh yếu.
Inda-bh 6Khi ấy, sau khi ngồi xuống ở nơi thanh vắng ta đã suy nghĩ như vầy: “Sự tái sanh, sự tiêu hoại của xác thân là khổ. Sự mê mờ, sự chết, sự đày đọa của sự già là khổ.
Inda-bh 7Và trong khi luôn có trạng thái sanh, trạng thái già, trạng thái bệnh hoạn, ta sẽ tầm cầu sự không già, sự không chết, sự an ổn, Niết Bàn.
Inda-bh 8Hay là ta nên từ bỏ tấm thân hôi thối chất chứa đầy các loại chất phế thải này và trở thành người không vướng bận, không mong cầu?
Inda-bh 9Đạo lộ ấy là có và sẽ xuất hiện. Đạo lộ ấy không thể không có gốc gác. Ta sẽ tầm cầu đạo lộ ấy để hoàn toàn giải thoát khỏi hữu.
Inda-bh 10Cũng giống như khi khổ đau được tìm thấy thì điều gọi là an lạc cũng được tìm thấy, tương tợ như thế khi hữu được tìm thấy thì phi hữu cũng là điều nên được mong mỏi.
Inda-bh 11Cũng giống như khi sự nóng được tìm thấy thì điều khác là sự lạnh cũng được tìm thấy, tương tợ như thế khi ba loại lửa (tham, sân, si) được tìm thấy thì Niết Bàn cũng là điều nên được mong mỏi.
Inda-bh 12Cũng giống như khi điều ác được tìm thấy thì điều thiện cũng được tìm thấy, tương tợ y như thế khi sanh được tìm thấy thì vô sanh cũng là điều nên được mong mỏi.
Inda-bh 13Giống như người bị dính phẩn nhìn thấy hồ nước đầy mà không tìm đến hồ nước ấy, thì việc sai trái ấy không phải là của hồ nước.
Inda-bh 14Tương tợ như vậy, khi hồ nước Bất Tử được tìm thấy cho việc gột rửa bợn nhơ phiền não, người không tìm đến hồ nước ấy thì điều sai trái không phải là của hồ nước Bất Tử.
Inda-bh 15Giống như người bị vây hãm xung quanh bởi những kẻ đối nghịch, khi con đường thoát ra được tìm thấy, người ấy không tẩu thoát thì việc sai trái ấy không phải là của con đường.
Inda-bh 16Tương tợ như vậy, người bị vây hãm toàn diện bởi phiền não, khi đạo lộ thánh thiện được tìm thấy, người không chịu tìm đến đạo lộ ấy thì điều sai trái không phải là của đạo lộ thánh thiện.
Inda-bh 17Cũng giống như người bị bệnh, khi vị thầy thuốc được tìm thấy, người không để cho (vị thầy thuốc) chữa trị căn bệnh ấy thì việc sai trái ấy không phải là của vị thầy thuốc.
Inda-bh 18Tương tợ như vậy, người bị khổ đau, bị hành hạ toàn diện bởi những căn bệnh phiền não (nhưng) không chịu tìm đến vị thầy thì điều sai trái ấy không phải là của vị thầy hướng dẫn.
Inda-bh 19Cũng giống như người sau khi rủ bỏ thây chết ghê tởm vướng ở cổ có thể đạt đến an lạc, sống tự tại, theo ý muốn.
Inda-bh 20Tương tợ y như thế, sau khi từ bỏ tấm thân hôi thối tập hợp đủ loại chất phế thải này, ta có thể trở thành người không vướng bận, không mong cầu.
Inda-bh 21Giống như những người nam hoặc nữ sau khi thải bỏ phẩn ở nhà tiêu rồi ra đi không vướng bận, không mong cầu.
Inda-bh 22Tương tợ y như thế, sau khi từ bỏ tấm thân được chất chứa đủ loại phế thải này ta sẽ ra đi giống như người sau khi đã đi tiêu thì (rời khỏi) nhà xí.
Inda-bh 23Cũng giống như những chủ nhân sau khi quăng bỏ con thuyền cũ kỹ, rã rời, có sự rò rỉ nước, thì ra đi không còn vướng bận, không mong cầu.
Inda-bh 24Tương tợ y như thế, sau khi từ bỏ tấm thân có chín khiếu thường xuyên tiết ra chất dơ này, ta sẽ ra đi giống như những chủ nhân quăng bỏ con thuyền đã bị vỡ tan.
Inda-bh 25Giống như người mang theo hàng hóa đi cùng bọn trộm cướp, sau khi nhận thấy nỗi lo sợ bởi việc cướp giật hàng hóa, liền tách biệt ra đi.
Inda-bh 26Tương tợ y như thế, thân này được ví tương đương với kẻ cướp lớn, ta sẽ chối bỏ thân này và ra đi, thoát khỏi nỗi sợ hãi về việc bị cướp đoạt thiện pháp.”
Inda-bh 27Sau khi suy nghĩ như thế, ta đã bố thí của cải hàng trăm koṭi đến những người có nơi nương tựa lẫn những người không nơi nương tựa rồi đã đi đến Hy-mã-lạp sơn.
Inda-bh 28Ở không xa Hy-mã-lạp sơn, có ngọn núi tên Dhammaka là khu ẩn cư khéo được tạo lập dành cho ta có ngôi nhà lá khéo được xây dựng.
Inda-bh 29Nơi ấy ta đã tạo ra đường kinh hành không phạm vào năm điều sai trái. Ta đã đạt được năng lực của thắng trí hội đủ tám đức tính.
Inda-bh 30Ở nơi ấy ta đã quăng bỏ tấm vải choàng liên quan đến chín điều sai trái. Ta đã mặc y phục vỏ cây có được mười hai đức tính.
Inda-bh 31Ta đã từ bỏ ngôi nhà lá dính líu tám điều sai trái. Ta đi đến ngụ ở gốc cây có được mười đức tính.
Inda-bh 32Ta đã hoàn toàn từ bỏ mễ cốc đã được gieo đã được trồng. Ta đã thọ dụng trái cây rơi rụng được hội đủ vô số đức tính.
Inda-bh 33Tại nơi ấy, ta đã ra sức nỗ lực trong việc ngồi, đứng, đi kinh hành. Ta đã đạt được năng lực của thắng trí trong thời gian bảy ngày.
Inda-bh 34Như thế, khi ta đạt được sự thành tựu (năm thắng trí, ngũ thông) và trở nên tự tại trong pháp tu tập (của đạo sĩ), thì đấng Chiến Thắng tên Dīpaṅkara, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đã hiện khởi.
Inda-bh 35Đắm chìm trong sự thỏa thích của thiền, ta đã không chứng kiến bốn điều báo hiệu về sự nhập thai, đản sanh, giác ngộ, và thuyết giảng Giáo Pháp.
Inda-bh 36(Những người dân) ở khu vực biên địa, sau khi thỉnh mời đức Như Lai, đã dọn sạch sẽ con đường ngự đến của Ngài với tâm trí hớn hở.
Inda-bh 37Vào lúc bấy giờ, sau khi rời khỏi khu ẩn cư của bản thân, ta, khi ấy, vừa đi ở trên không trung vừa chỉnh lại bộ y phục bằng vỏ cây.
Inda-bh 38Nhìn thấy dân chúng tràn ngập niềm phấn khởi, hớn hở, mừng rỡ, vui sướng, ta đã từ không trung đáp xuống rồi lập tức hỏi mọi người rằng:
Inda-bh 39“Đông đảo dân chúng được hớn hở, mừng rỡ, vui sướng, tràn ngập niềm phấn khởi. Đạo lộ, con đường, lối đi, ngõ vào được dọn sạch sẽ cho ai vậy?”
Inda-bh 40Được ta hỏi, họ đã đáp rằng: “Đức Phật, bậc Tối Thượng ở thế gian, đấng Chiến Thắng, vị Lãnh Đạo Thế Gian tên là Dīpaṅkara đã hiện khởi. Đạo lộ, con đường, lối đi, ngõ vào được dọn sạch sẽ cho vị ấy.”
Inda-bh 41Khi nghe rằng: “Đức Phật,” pháp hỷ đã sanh khởi đến ta ngay lập tức. Ta đã bày tỏ tâm hoan hỷ, thốt lên rằng: “Đức Phật! Đức Phật!”
Inda-bh 42Đứng tại nơi ấy, với tâm trí phấn chấn, hớn hở, ta đã suy nghĩ: “Ta sẽ gieo các nhân lành ở nơi đây (đức Phật). Đương nhiên chớ để thời khắc trôi đi” (rồi nói rằng):
Inda-bh 43“Nếu các người dọn sạch sẽ vì đức Phật. Xin các người hãy nhường cho tôi một khu vực. Tôi cũng sẽ dọn sạch sẽ con đường, lối đi, ngõ vào.”
Inda-bh 44Rồi họ đã nhường cho ta dọn sạch sẽ con đường ở một khu vực. Khi ấy, ta làm sạch sẽ con đường trong lúc nghĩ tưởng đến “Đức Phật! Đức Phật!”
Inda-bh 45Khi khu vực của ta còn chưa hoàn tất, bậc Đại Hiền Triết, đấng Chiến Thắng Dīpaṅkara, cùng với bốn trăm ngàn vị Lậu Tận không còn ô nhiễm có sáu thắng trí (lục thông) như thế ấy, đã bước lên con đường.
Inda-bh 46Nhiều người di chuyển từ phía đối diện, họ vỗ kêu những chiếc trống. Chư thiên và nhân loại vui mừng đã thốt lên tiếng “Lành thay!”
Inda-bh 47Chư thiên ngắm nhìn loài người. Và loài người cũng nhìn ngắm chư thiên. Cả hai nhóm ấy cũng đã chắp tay lên đi theo sau đức Như Lai.
Inda-bh 48Chư thiên với nhạc khí cõi trời, loài người với nhạc khí của nhân gian, cả hai nhóm ấy vừa trình tấu vừa đi theo sau đức Như Lai.
Inda-bh 49Chư thiên di chuyển trên bầu trời ở trong không gian rải rắc hoa Mạn-đà-la, hoa sen, hoa san hô của cõi trời xuống hướng này hướng nọ.
Inda-bh 50Loài người di chuyển ở trên bề mặt trái đất ném các bông hoa Chăm-pa, bông hoa Salala, bông hoa Nīpa, bông hoa Nāga, Punnāga, và Ketaka tỏa khắp các phương.
Inda-bh 51Tại nơi ấy, sau khi xõa tóc, ta đã trải ra bộ y phục vỏ cây và da thú ở trên bãi bùn lầy, rồi ta đã nằm sấp xuống (nói rằng):
Inda-bh 52“Xin đức Phật hãy bước lên (người) con. Xin Ngài cùng các đệ tử hãy tiến bước. Xin các vị chớ bước đi ở chỗ ấy trong bùn lầy; (việc này) sẽ đem lại sự lợi ích cho con.”
Inda-bh 53Khi đang nằm ở trên mặt đất, tư tưởng như vầy đã khởi đến ta: “(Nếu) mong muốn, ta có thể thiêu đốt các phiền não của ta trong ngày hôm nay.
Inda-bh 54Ta có được gì ở đây khi chứng đắc Giáo Pháp theo phương thức không được tiếng tăm? Ta nên thành tựu quả vị Toàn Tri và trở thành đức Phật ở thế gian có cả chư thiên.
Inda-bh 55Ta có được gì khi là người biết được sức mạnh (của bản thân) lại vượt qua chỉ một mình? Ta nên thành tựu quả vị Toàn Tri và giúp cho thế gian luôn cả chư thiên vượt qua.
Inda-bh 56Với hành động hướng thượng này của ta đã được thực hiện đến bậc Tối Thượng Nhân, ta sẽ thành tựu quả vị Toàn Tri và sẽ giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 57Sau khi cắt đứt giòng chảy luân hồi và phá hủy ba cõi (tái sanh), ta sẽ ngự lên con thuyền Chánh Pháp và sẽ giúp cho thế gian luôn cả chư thiên vượt qua.”
Inda-bh 58Sự phát nguyện được thành tựu nhờ vào sự tổng hợp của tám pháp: Bản thân là loài người, thành tựu nam căn, có chủng tử, nhìn thấy bậc Đạo Sư, là vị xuất gia, hội đủ đức hạnh, có hành động hướng thượng, và lòng ước muốn.
Inda-bh 59Đấng Thông Suốt Thế Gian Dīpaṅkara, vị thọ nhận các vật cúng dường, đã đứng kề cận đỉnh đầu của ta và đã nói lời này:
Inda-bh 60“Các ngươi hãy nhìn người đạo sĩ tóc bện có khổ hạnh cao tột này. Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này, (người này) sẽ trở thành vị Phật ở thế gian.
Inda-bh 61Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 62Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 63Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 64Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề, bậc Vô Thượng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Inda-bh 65Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 66Kolita và Upatissa không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh, sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu.
Inda-bh 67Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng ấy. Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu.
Inda-bh 68(Hai vị) không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 69Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 70Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 71Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 72“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 73Giống như những người băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 74Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 75Đấng Thông Suốt Thế Gian Dīpaṅkara, vị thọ nhận các vật cúng dường, đã công bố về hành động của ta rồi đã đi nhiễu quanh ta.
Inda-bh 76Các vị Thích tử hiện diện ở tại nơi ấy đã đi nhiễu quanh (ta). Chư thiên, nhân loại, và các A-tu-la đã đảnh lễ (ta) rồi ra đi.
Inda-bh 77Khi vị Lãnh Đạo Thế Gian cùng hội chúng đã đi khỏi tầm nhìn của ta, khi ấy ta đã từ chỗ nằm vươn dậy rồi xếp vào thế kiết già.
Inda-bh 78Khi ấy, ta được an lạc với sự an lạc, được vui sướng với sự vui sướng, và trong khi được tràn ngập với pháp hỷ, và ta đã xếp vào tư thế kiết già.
Inda-bh 79Sau khi ngồi xuống với tư thế kiết già, khi ấy ta đã suy nghĩ như vầy: “Được tự tại trong pháp thiền, ta đã đạt đến sự toàn hảo về thắng trí.
Inda-bh 80Ở trong (mười) ngàn thế giới, các ẩn sĩ ngang bằng với ta là không có. Không có vị nào bằng về các phép thần thông. Ta đã đạt được sự an lạc như thế ấy.”
Inda-bh 81Với tư thế kiết già của ta, cư dân ở mười ngàn thế giới đã phát ra lời nói vang dội rằng: “Chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 82Trước đây, những điềm báo hiệu nào đã được thể hiện khi các vị Bồ Tát xếp vào tư thế kiết già cao quý, những điều ấy được thể hiện ngày hôm nay.
Inda-bh 83Sự lạnh lẽo được biến đi và sự nóng nảy được lắng dịu. Những điều ấy được thể hiện ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 84Mười ngàn thế giới không có tiếng động và không bị chộn rộn. Những điều ấy được thể hiện ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 85Các cơn gió lớn ngừng thổi, các giòng nước ngừng chảy. Những điều ấy được thể hiện ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 86Các bông hoa mọc ở trên đất và mọc ở trong nước, tất cả lập tức nở hoa. Tất cả những bông hoa ấy cũng được nở ra ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 87Và nếu là những dây leo hay là những cây cối thì lập tức trở thành trĩu nặng những quả. Tất cả các cây ấy cũng được kết trái ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 88Ở trên không trung và ở đất liền, các châu báu lập tức rực sáng. Các châu báu ấy cũng rực sáng ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 89Các loại nhạc cụ của loài người và của cõi trời lập tức tấu nhạc. Cả hai loại nhạc cụ ấy cũng trình tấu ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 90Những bông hoa các loại đã lập tức rơi xuống từ bầu trời. Chúng cũng được thể hiện ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 91Đại dương lùi ra xa, mười thế giới rúng động. Cả hai việc ấy cũng ầm ĩ ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 92Mười ngàn ngọn lửa ở các địa ngục lập tức được dập tắt. Các ngọn lửa ấy cũng được dập tắt ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 93Mặt trời không bị u ám, tất cả các ngôi sao được nhìn thấy. Các việc ấy cũng được thể hiện ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 94Dầu không có mưa nhưng nước lập tức được phun lên từ mặt đất. Nước ấy cũng được phun lên từ mặt đất ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 95Các chòm sao, các vì tinh tú chiếu sáng ở trên vòm trời. Chòm sao Visākhā được liên kết với mặt trăng; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 96Các loài thú ở hang, các loài thú ở hốc rời khỏi chỗ ngụ của chúng. Chúng cũng chối từ chỗ ngụ ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 97Không có sự không vui thích ở các chúng sanh, họ lập tức trở nên hớn hở. Tất cả bọn họ cũng hớn hở ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 98Tật bịnh được giảm thiểu và nạn đói được tiêu trừ. Các điều ấy cũng được thể hiện ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 99Khi ấy, tham dục trở nên nhỏ nhoi, sân hận si mê được tiêu trừ. Tất cả các điều ấy cũng đã biến mất ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 100Khi ấy, nỗi sợ hãi không hiện diện. Điều ấy cũng được thể hiện ngày hôm nay. Với hiện tướng ấy, chúng tôi biết được chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 101Bụi bặm không bốc lên phía bên trên. Điều ấy cũng được thể hiện ngày hôm nay. Với hiện tướng ấy, chúng tôi biết được chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 102Mùi khó chịu biến đi. Mùi hương của cõi trời tỏa đến. Hương thơm ấy cũng tỏa ra ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 103Tất cả chư thiên đều hiện ra ngoại trừ các vị ở cõi vô sắc. Tất cả các vị ấy cũng được nhìn thấy ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 104Cho đến các nơi gọi là địa ngục, toàn bộ lập tức được nhìn thấy. Tất cả các nơi ấy cũng được nhìn thấy ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 105Khi ấy, các bức tường thành, các cánh cửa, và các tảng đá không còn là các vật chướng ngại. Ngày hôm nay, chúng cũng đều trở thành những khoảng không; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 106Sự chết và sự tái sanh không xảy ra vào thời khắc ấy. Chúng không được nhìn thấy ngày hôm nay; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.
Inda-bh 107Hãy nỗ lực tinh tấn một cách bền bĩ. Chớ có quay lui, hãy tiến bước. Chúng tôi cũng biết rõ điều này; chắc chắn ngài sẽ trở thành đức Phật.”
Inda-bh 108Nghe được lời nói của cả hai là của đức Phật và của (chư thiên) mười ngàn thế giới, khi ấy ta trở nên hớn hở, mừng rỡ, vui sướng, và đã suy nghĩ như vầy:
Inda-bh 109“Chư Phật, các đấng Chiến Thắng không có nói hai lời, không có lời nói rồ dại. Chư Phật không có sự dối trá, chắc chắn ta sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 110Giống như cục đất được ném ở khoảng không thì chắc chắn rơi xuống đất, tương tợ y như thế lời nói của chư Phật là chắc chắn và có cơ sở. Chư Phật không có sự dối trá, chắc chắn ta sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 111Cũng giống như sự chết của tất cả chúng sanh là chắc chắn và có cơ sở, tương tợ y như thế lời nói của chư Phật tối thượng là chắc chắn và có cơ sở. Chư Phật không có sự dối trá, chắc chắn ta sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 112Giống như khi đêm tàn đã đến thì có sự mọc lên của mặt trời là điều chắc chắn, tương tợ y như thế lời nói của chư Phật tối thượng là chắc chắn và có cơ sở. Chư Phật không có sự dối trá, chắc chắn ta sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 113Giống như tiếng rống của con sư tử khi rời khỏi chỗ nằm là điều chắc chắn, tương tợ y như thế lời nói của chư Phật tối thượng là chắc chắn và có cơ sở. Chư Phật không có sự dối trá, chắc chắn ta sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 114Giống như việc hạ sanh của các sản phụ là điều chắc chắn, tương tợ y như thế lời nói của chư Phật tối thượng là chắc chắn và có cơ sở. Chư Phật không có sự dối trá, chắc chắn ta sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 115Vậy, ta hãy xem xét các pháp tạo thành quả vị Phật từ nơi này và từ nơi này, ở bên trên (cõi trời), ở bên dưới (cõi nhân loại), và các phương hướng cho đến tận bản thể của các pháp ấy.”
Inda-bh 116Khi ấy, trong lúc xem xét ta đã nhận ra pháp thứ nhất là sự toàn hảo về bố thí (bố thí ba-la-mật), là đạo lộ thênh thang đã được thực hành bởi các vị đại ẩn sĩ tiền bối.
Inda-bh 117Ngươi hãy củng cố và thọ trì cho được pháp thứ nhất này. Ngươi hãy đạt đến sự toàn hảo về bố thí nếu ngươi muốn đạt được quả vị Giác Ngộ.
Inda-bh 118Cũng giống như cái chum được chứa đầy đã bị úp ngược lại bởi bất cứ người nào thì tuôn nước ra không còn dư sót, hoàn toàn không giữ lại ở trong đó.
Inda-bh 119Tương tợ y như thế, khi nhìn thấy những người cầu xin dầu hèn, sang, hay trung bình, ngươi hãy cho ra vật thí không chừa lại ví như cái chum đã được úp ngược.
Inda-bh 120Nhưng các pháp tu thành Phật sẽ không chỉ có chừng ấy, ta sẽ xem xét các điều khác cũng là các pháp làm chín muồi sự giác ngộ.
Inda-bh 121Khi ấy, trong lúc xem xét ta đã nhận ra pháp thứ nhì là sự toàn hảo về giới đã được các vị đại ẩn sĩ tiền bối thực hành, gắn bó.
Inda-bh 122Ngươi hãy củng cố và thọ trì cho được pháp thứ nhì này. Ngươi hãy đạt đến sự toàn hảo về giới nếu ngươi muốn đạt được Giác Ngộ.
Inda-bh 123Cũng giống như con bò mộng có cái đuôi bị vướng vào bất cứ vật gì thà chấp nhận cái chết ở tại nơi ấy chứ không làm đứt cái đuôi.
Inda-bh 124Tương tợ y như thế, ngươi hãy làm tròn đủ các giới luật trong bốn lãnh vực, hãy luôn luôn gìn giữ vẹn toàn giới luật giống như là con bò mộng hộ trì cái đuôi vậy.
Inda-bh 125Nhưng các pháp tạo thành quả vị Phật sẽ không chỉ có chừng ấy, ta sẽ xem xét các điều khác nữa cũng là các pháp làm chín muồi sự giác ngộ.
Inda-bh 126Khi ấy, trong lúc xem xét ta đã nhận ra pháp thứ ba là sự toàn hảo về xuất ly đã được các vị đại ẩn sĩ tiền bối thực hành, gắn bó.
Inda-bh 127Ngươi hãy củng cố và thọ trì cho được pháp thứ ba này. Ngươi hãy đạt đến sự toàn hảo về xuất ly nếu ngươi muốn đạt được quả vị Giác Ngộ.
Inda-bh 128Giống như người sống đã lâu ở trong nhà tù, bị hành hạ khổ sở, không khởi lên lòng ái luyến đối với nơi ấy mà tầm cầu chỉ mỗi sự tự do.
Inda-bh 129Tương tợ y như thế, ngươi hãy nhìn tất cả các cõi tái sanh (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) như là các nhà tù. Hãy hướng về xuất ly nhắm đến sự hoàn toàn giải thoát khỏi các cõi.
Inda-bh 130Nhưng các pháp tạo thành quả vị Phật sẽ không chỉ có chừng ấy, ta sẽ xem xét các điều khác nữa cũng là các pháp làm chín muồi sự giác ngộ.
Inda-bh 131Khi ấy, trong lúc xem xét ta đã nhận ra pháp thứ tư là sự toàn hảo về trí tuệ đã được các vị đại ẩn sĩ tiền bối thực hành, gắn bó.
Inda-bh 132Ngươi hãy củng cố và thọ trì cho được pháp thứ tư này. Ngươi hãy đạt đến sự toàn hảo về trí tuệ nếu ngươi muốn đạt được quả vị Giác Ngộ.
Inda-bh 133Cũng giống như vị tỳ khưu trong khi đi khất thực không bỏ qua các gia đình dầu hèn, sang, hay trung lưu, và đạt được phương tiện sinh sống như thế ấy.
Inda-bh 134Tương tợ y như thế, trong khi vấn hỏi người có trí tuệ vào mọi thời điểm, ngươi sẽ đạt đến sự toàn hảo về trí tuệ và sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Inda-bh 135Nhưng các pháp tạo thành quả vị Phật sẽ không chỉ có chừng ấy, ta sẽ xem xét các điều khác nữa cũng là các pháp làm chín muồi sự giác ngộ.
Inda-bh 136Khi ấy, trong lúc xem xét ta đã nhận ra pháp thứ năm là sự toàn hảo về tinh tấn đã được các vị đại ẩn sĩ tiền bối thực hành, gắn bó.
Inda-bh 137Ngươi hãy củng cố và thọ trì cho được pháp thứ năm này. Ngươi hãy đạt đến sự toàn hảo về tinh tấn nếu ngươi muốn đạt được quả vị Giác Ngộ.
Inda-bh 138Cũng giống như con sư tử, vua các loài thú, trong khi ngồi, đứng, đi tới lui, có sự tinh tấn không uể oải và có tâm cảnh giác vào khi ấy.
Inda-bh 139Tương tợ y như thế, ở tại tất cả các cõi tái sanh ngươi hãy nỗ lực sự tinh tấn bền vững, sau khi đạt đến sự toàn hảo về tinh tấn ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Inda-bh 140Nhưng các pháp tạo thành quả vị Phật sẽ không chỉ có chừng ấy, ta sẽ xem xét các điều khác nữa cũng là các pháp làm chín muồi sự giác ngộ.
Inda-bh 141Khi ấy, trong lúc xem xét ta đã nhận ra pháp thứ sáu là sự toàn hảo về nhẫn nại đã được các vị đại ẩn sĩ tiền bối thực hành, gắn bó.
Inda-bh 142Ngươi hãy củng cố và thọ trì cho được pháp thứ sáu này. Với tâm trí không chao động ở trong pháp ấy, ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Inda-bh 143Cũng giống như trái đất chịu đựng tất cả các vật quăng bỏ, cả sạch sẽ lẫn dơ dáy, không tỏ ra bực bội hay thích thú.
Inda-bh 144Tương tợ y như thế, ngươi cũng hãy chấp nhận sự trọng vọng hoặc khinh khi của tất cả, sau khi đạt đến sự toàn hảo về nhẫn nại ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Inda-bh 145Nhưng các pháp tạo thành quả vị Phật sẽ không chỉ có chừng ấy, ta sẽ xem xét các điều khác nữa cũng là các pháp làm chín muồi quả vị Giác Ngộ.
Inda-bh 146Khi ấy, trong lúc xem xét ta đã nhận ra pháp thứ bảy là sự toàn hảo về chân thật đã được các vị đại ẩn sĩ tiền bối thực hành, gắn bó.
Inda-bh 147Ngươi hãy củng cố và thọ trì cho được pháp thứ bảy này. Không có nói hai lời trong pháp này (thì) ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Inda-bh 148Cũng giống như (ngôi sao) Osadhī, có trạng thái cân bằng ở tại thế gian luôn cả các cõi trời, không đi lệch ra ngoài quỹ đạo vào thời điểm trong năm hoặc mùa tiết.
Inda-bh 149Tương tợ y như thế, chớ đi lệch ra khỏi đường lối của các sự thật, sau khi đạt đến sự toàn hảo về chân thật ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Inda-bh 150Nhưng các pháp tạo thành quả vị Phật sẽ không chỉ có chừng ấy, ta sẽ xem xét các điều khác nữa cũng là các pháp làm chín muồi sự giác ngộ.
Inda-bh 151Khi ấy, trong lúc xem xét ta đã nhận ra pháp thứ tám là sự toàn hảo về quyết định đã được các vị đại ẩn sĩ tiền bối thực hành, gắn bó.
Inda-bh 152Ngươi hãy củng cố và thọ trì cho được pháp thứ tám này. Sau khi trở nên không còn giao động trong pháp này ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Inda-bh 153Cũng giống như hòn núi đá bền vững, khéo được kết cấu, đứng yên tại chính vị trí của nó, không rung động vì những cơn gió dữ dội.
Inda-bh 154Tương tợ y như thế, ngươi cũng hãy luôn luôn không chao đảo trong sự quyết định, sau khi đạt được sự toàn hảo về quyết định ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Inda-bh 155Nhưng các pháp tạo thành quả vị Phật sẽ không chỉ có chừng ấy, ta sẽ xem xét các điều khác nữa cũng là các pháp làm chín muồi sự giác ngộ.
Inda-bh 156Khi ấy, trong lúc xem xét ta đã nhận ra pháp thứ chín là sự toàn hảo về từ ái đã được các vị đại ẩn sĩ tiền bối thực hành, gắn bó.
Inda-bh 157Ngươi hãy củng cố và thọ trì cho được pháp thứ chín này. Hãy là người không ai sánh bằng về lòng từ ái nếu ngươi muốn đạt được quả vị Giác Ngộ.
Inda-bh 158Cũng giống như nước tẩy sạch bụi bặm cáu ghét, và đem lại sự mát mẻ cho những người hiền và những kẻ ác một cách bình đẳng.
Inda-bh 159Tương tợ y như thế, ngươi hãy phát triển tâm từ ái một cách bình đẳng đối với người thân hay kẻ nghịch. Sau khi đạt được sự toàn hảo về từ ái ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Inda-bh 160Nhưng các pháp tạo thành quả vị Phật sẽ không chỉ có chừng ấy, ta sẽ xem xét các điều khác nữa cũng là các pháp làm chín muồi sự giác ngộ.
Inda-bh 161Khi ấy, trong lúc xem xét ta đã nhận ra pháp thứ mười là sự toàn hảo về hành xả đã được các vị đại ẩn sĩ tiền bối thực hành, gắn bó.
Inda-bh 162Ngươi hãy củng cố và thọ trì cho được pháp thứ mười này. Được cân bằng và trở nên vững chải, ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Inda-bh 163Cũng giống như trái đất bình thản đối với vật dơ vật sạch đã được ném xuống, không phạm vào cả hai điều là giận dữ hay ưu đãi ấy.
Inda-bh 164Tương tợ y như thế, ngươi hãy luôn luôn giữ trạng thái cân bằng đối với lạc và khổ, sau khi đạt đến sự toàn hảo về hành xả ngươi sẽ thành tựu quả vị Toàn Giác.
Inda-bh 165Các pháp làm chín muồi sự giác ngộ ở thế gian chỉ có chừng ấy, không có pháp nào khác hơn thế nữa. Ngươi hãy thiết lập bền vững trong các pháp ấy.
Inda-bh 166Trong khi ta đang suy nghiệm các pháp này về bản thể, tính chất, và đặc điểm, do oai lực của các pháp quả đất và mười ngàn thế giới đã rúng động.
Inda-bh 167Quả đất lay động gào thét như là máy ép mía bị khuấy rối. Máy ép dầu có bánh xe rung chuyển như thế nào thì trái đất rung động như thế ấy.
Inda-bh 168Cho đến nhóm người ở tại nơi dâng cúng vật thực đến đức Phật, trong lúc run rẩy họ bị choáng váng rồi nằm dài trên mặt đất tại nơi ấy.
Inda-bh 169Hàng ngàn hũ đựng nước và nhiều trăm chiếc lu va chạm lẫn nhau bị vỡ tan, bị nghiền nát ở tại nơi ấy.
Inda-bh 170Với tâm trí lo âu, sợ hãi, hoảng hốt, hồi hộp, bối rối, dân chúng đã tụ hội lại rồi đi đến gặp (đức Phật) Dīpaṅkara (hỏi rằng):
Inda-bh 171“Điều gì sẽ xảy ra ở thế gian? Là điều tốt hay điều xấu? Toàn bộ thế gian bị khuấy động, xin bậc Hữu Nhãn hãy xua tan điều ấy.”
Inda-bh 172Khi ấy, bậc Đại Hiền Triết Dīpaṅkara đã giải thích rõ cho họ rằng: “Hãy yên tâm. Chớ có hoảng hốt về việc động đất này.
Inda-bh 173Người mà hôm nay ta đã công bố sẽ trở thành vị Phật ở thế gian, người ấy suy nghiệm về pháp đã được thực hành bởi các đấng Chiến Thắng thời quá khứ.
Inda-bh 174Trong khi vị ấy đang suy nghiệm về pháp là nền tảng của chư Phật không có thiếu sót, vì thế trái đất này với mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên đã rúng động.”
Inda-bh 175Sau khi lắng nghe lời nói của đức Phật, lập tức tâm (mọi người) được lắng dịu. Tất cả đã đến gần ta rồi cũng đã đảnh lễ lần nữa.
Inda-bh 176Sau khi đã thọ trì đức hạnh của chư Phật và lập tâm kiên cố, khi ấy ta đã cúi lạy (đức Phật) Dīpaṅkara và đã từ chỗ ngồi đứng dậy.
Inda-bh 177Với những bông hoa, cả hai hạng chư thiên và nhân loại rải rắc bông hoa của cõi trời và của loài người xuống Sumedha đang từ chỗ ngồi đứng dậy.
Inda-bh 178Và cả hai hạng chư thiên và nhân loại ấy phát biểu lời chúc tốt lành rằng: “Lời phát nguyện của ngài thật vĩ đại. Mong rằng ngài sẽ đạt được điều ấy theo như ước muốn.
Inda-bh 179Mong rằng tất cả các điều rủi ro được xa lánh. Mong rằng sầu não, bệnh tật được tiêu trừ. Mong rằng sự nguy hiểm đừng xảy đến cho ngài. Ngài hãy mau mau đạt đến quả vị Giác Ngộ tối thượng.
Inda-bh 180Cũng giống như cây cho hoa nở hoa khi đến mùa, tương tợ y như thế, hỡi Đức Phật Anh Hùng, xin ngài hãy trổ hoa với trí tuệ của vị Phật.
Inda-bh 181Giống như bất cứ những vị nào là Toàn Giác đều đã làm tròn đủ sự toàn hảo của mười pháp, tương tợ y như thế, hỡi đấng Đại Hùng, xin ngài hãy làm tròn đủ sự toàn hảo của mười pháp.
Inda-bh 182Giống như bất cứ những vị nào là Toàn Giác đã giác ngộ ở khuôn viên cội Bồ Đề, tương tợ y như thế, hỡi đấng Đại Hùng, xin ngài hãy giác ngộ ở cội Bồ Đề của đấng Chiến Thắng.
Inda-bh 183Giống như bất cứ những vị nào là Toàn Giác đã chuyển vận bánh xe Chánh Pháp, tương tợ y như thế, hỡi đấng Đại Hùng, xin ngài hãy chuyển vận bánh xe Chánh Pháp.
Inda-bh 184Giống như mặt trăng vào ngày rằm là thanh khiết và chiếu sáng, tương tợ y như thế, ngài đã được vẹn toàn, xin ngài hãy chiếu sáng mười ngàn thế giới.
Inda-bh 185Giống như mặt trời được thoát khỏi thần Rāhu thì vô cùng rạng rỡ với nguồn năng lượng, tương tợ y như thế sau khi thoát ra khỏi thế gian xin ngài hãy tỏa sáng với sự vinh quang.
Inda-bh 186Giống như mọi con sông đều chảy xuôi về biển cả, tương tợ như thế các thế gian luôn cả chư thiên xuôi dòng trong sự hiện diện của Ngài.”
Inda-bh 187Khi ấy, được họ tán dương và ca ngợi, vị ấy đã thọ trì mười pháp. Và trong khi làm tròn đủ các pháp ấy, vị ấy đã tiến vào khu rừng thẳm.
Dứt phần nói về Sumedha.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. The Account of Sumedha’s Aspiration
2. Câu chuyện về sự phát nguyện của Sumedha
1.
1.
1.
Kappe ca satasahasse, caturo ca asaṅkhiye;
Amaraṃ nāma nagaraṃ, dassaneyyaṃ manoramaṃ.
Four incalculable and one hundred thousand aeons ago, there was a city named Amara, lovely to behold and delightful.
Cách đây bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp; Có một thành phố tên là Amara, đáng chiêm ngưỡng và làm say đắm lòng người.
2.
2.
2.
Dasahi saddehi avivittaṃ, annapānasamāyutaṃ;
Hatthisaddaṃ assasaddaṃ, bherisaṅkharathāni ca;
Khādatha pivatha ceva, annapānena ghositaṃ.
Unceasingly filled with ten sounds and endowed with food and drink, it resounded with the sounds of elephants, horses, drums, conches, and chariots, and with proclamations concerning its food and drink: ‘Eat and drink!’
Không bao giờ vắng lặng bởi mười loại âm thanh, đầy đủ thức ăn và đồ uống; Tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng trống, ốc tù và xe cộ; Và tiếng rao về thức ăn và đồ uống: ‘Hãy ăn và hãy uống!’
3.
3.
3.
Nagaraṃ sabbaṅgasampannaṃ, sabbakammamupāgataṃ;
Sattaratanasampannaṃ, nānājanasamākulaṃ;
Samiddhaṃ devanagaraṃva, āvāsaṃ puññakamminaṃ.
The city was complete in all its aspects, a center of all crafts and trades, possessed of the seven treasures, and crowded with various peoples; it was prosperous like a city of the devas, an abode for those of meritorious deeds.
Thành phố ấy đầy đủ tất cả các thành phần, đạt đến tất cả các công việc; đầy đủ bảy loại báu vật, đông đúc với nhiều hạng người; thịnh vượng như thành phố của chư thiên, là nơi ở của những người có phước nghiệp.
4.
4.
4.
Nagare amaravatiyā, sumedho nāma brāhmaṇo;
Anekakoṭisannicayo, pahūtadhanadhaññavā.
In the city of Amaravatī, there was a brahmin named Sumedha, who had accumulated many crores and possessed abundant wealth and grain.
Tại thành phố Amaravatī, có vị Bà-la-môn tên là Sumedha; người đã tích trữ vô số trăm triệu tài sản, có nhiều của cải và lúa gạo.
5.
5.
5.
Ajjhāyako mantadharo, tiṇṇaṃ vedāna pāragū;
Lakkhaṇe itihāse ca, sadhamme pāramiṃ gato.
He was a reciter and bearer of the sacred verses, one who had gone to the far shore of the three Vedas; in the science of signs and in legends, and in his own doctrine, he had reached perfection.
Vị ấy là người học tập, người ghi nhớ thần chú, bậc thông suốt ba bộ Vệ-đà; đã đạt đến sự toàn hảo về tướng pháp, về cổ sự, và về chánh pháp của mình.
6.
6.
6.
Rahogato nisīditvā, evaṃ cintesahaṃ tadā;
‘‘Dukkho punabbhavo nāma, sarīrassa ca bhedanaṃ.
Having gone into solitude and seated myself, I at that time reflected thus: ‘Rebirth is suffering, as is the breaking up of the body.’
Lúc bấy giờ, ta đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống và suy nghĩ như vầy: ‘Sự tái sanh quả là khổ, và sự tan rã của thân thể cũng vậy.’
7.
7.
7.
‘‘Jātidhammo jarādhammo, byādhidhammo sahaṃ † tadā;
Ajaraṃ amataṃ khemaṃ, pariyesissāmi nibbutiṃ.
‘Being myself subject to birth, aging, and sickness, I will seek Nibbāna, which is free from aging, free from death, and secure.’
‘Ta có bản chất phải sanh, có bản chất phải già, có bản chất phải bệnh; ta sẽ tìm kiếm trạng thái tịch tịnh không già, không chết, an ổn.’
8.
8.
8.
‘‘Yaṃnūnimaṃ pūtikāyaṃ, nānākuṇapapūritaṃ;
Chaḍḍayitvāna gaccheyyaṃ, anapekkho anatthiko.
‘Surely I should, without attachment or desire, cast off this putrid body, filled with various kinds of corpses, and depart.’
‘Chắc chắn ta nên từ bỏ thân thể hôi thối này, vốn đầy dẫy các loại tử thi, rồi ra đi không luyến tiếc, không ham muốn.’
9.
9.
9.
‘‘Atthi hehiti so maggo, na so sakkā na hetuye;
Pariyesissāmi taṃ maggaṃ, bhavato parimuttiyā.
‘There must be such a path; it cannot be that there is not. I will seek that path for the sake of liberation from existence.’
‘Con đường ấy chắc chắn phải có; không thể nào nó không hiện hữu. Ta sẽ tìm kiếm con đường ấy để giải thoát khỏi sự hiện hữu.’
10.
10.
10.
‘‘Yathāpi dukkhe vijjante, sukhaṃ nāmapi vijjati;
Evaṃ bhave vijjamāne, vibhavopi icchitabbako.
‘Just as when suffering exists, something called happiness is also found; so too, when existence is found, the cessation of existence should also be sought.’
‘Ví như khi có khổ, thì cũng có cái gọi là lạc; cũng vậy, khi có sự hiện hữu, thì sự chấm dứt hiện hữu cũng đáng được mong cầu.’
11.
11.
11.
‘‘Yathāpi uṇhe vijjante, aparaṃ vijjati sītalaṃ;
Evaṃ tividhaggi vijjante, nibbānaṃ icchitabbakaṃ.
‘Just as when heat exists, another thing, coolness, is also found; so too, when the threefold fire exists, Nibbāna should be sought.’
‘Ví như khi có nóng, thì cũng có cái khác là mát; cũng vậy, khi có ba ngọn lửa, thì Niết-bàn cũng đáng được mong cầu.’
12.
12.
12.
‘‘Yathāpi pāpe vijjante, kalyāṇamapi vijjati;
Evameva jāti vijjante, ajātipicchitabbakaṃ.
‘Just as when evil exists, good is also found; so too, when birth exists, the unborn should also be sought.’
‘Ví như khi có điều ác, thì cũng có điều thiện; cũng vậy, khi có sự sanh, thì sự không sanh cũng đáng được mong cầu.’
13.
13.
13.
‘‘Yathā gūthagato puriso, taḷākaṃ disvāna pūritaṃ;
Na gavesati taṃ taḷākaṃ, na doso taḷākassa so.
‘Just as a man covered in filth, upon seeing a full lake, does not seek out that lake—this is not the fault of the lake.’
‘Ví như người bị dính phẩn, thấy một cái hồ đầy nước, mà không tìm đến cái hồ ấy, đó không phải là lỗi của cái hồ.’
14.
14.
14.
‘‘Evaṃ kilesamaladhova, vijjante amatantaḷe;
Na gavesati taṃ taḷākaṃ, na doso amatantaḷe.
‘So too, when the deathless lake for washing away the stain of the defilements exists, if one does not seek that lake, it is not the fault of the deathless lake.’
‘Cũng vậy, khi có hồ bất tử để gột rửa cấu uế của phiền não, mà người ấy không tìm đến cái hồ đó, đó không phải là lỗi của hồ bất tử.’
15.
15.
15.
‘‘Yathā arīhi pariruddho, vijjante gamanampathe;
Na palāyati so puriso, na doso añjasassa so.
‘Just as a man surrounded by enemies, though a path of escape exists, does not flee—this is not the fault of the path.’
‘Ví như người bị kẻ thù bao vây, khi có con đường để đi, mà người ấy không chạy trốn, đó không phải là lỗi của con đường.’
16.
16.
16.
‘‘Evaṃ kilesapariruddho, vijjamāne sive pathe;
Na gavesati taṃ maggaṃ, na doso sivamañjase.
‘So too, one surrounded by defilements, though a safe path exists, does not seek that path—this is not the fault of the safe path.’
‘Cũng vậy, người bị phiền não bao vây, khi có con đường an tịnh, mà không tìm kiếm con đường ấy, đó không phải là lỗi của con đường an tịnh.’
17.
17.
17.
‘‘Yathāpi byādhito puriso, vijjamāne tikicchake;
Na tikicchāpeti taṃ byādhiṃ, na doso so tikicchake.
‘Just as a sick man, though a physician is present, does not have his illness treated—this is not the fault of the physician.’
‘Ví như người bị bệnh, khi có thầy thuốc, mà không chữa trị căn bệnh ấy, đó không phải là lỗi của thầy thuốc.’
18.
18.
18.
‘‘Evaṃ kilesabyādhīhi, dukkhito paripīḷito;
Na gavesati taṃ ācariyaṃ, na doso so vināyake.
‘So too, one afflicted and tormented by the disease of the defilements, does not seek that teacher—this is not the fault of the guide.’
‘Cũng vậy, người bị đau khổ, bị các bệnh phiền não hành hạ, mà không tìm kiếm vị thầy, đó không phải là lỗi của bậc dẫn dắt.’
19.
19.
19.
‘‘Yathāpi kuṇapaṃ puriso, kaṇṭhe bandhaṃ jigucchiya;
Mocayitvāna gaccheyya, sukhī serī sayaṃvasī.
‘Just as a man, disgusted with a corpse bound to his neck, would untie it and depart, happy, free, and his own master.’
‘Ví như người có tử thi buộc ở cổ, ghê tởm nó, sau khi cởi bỏ, người ấy có thể đi một cách an lạc, tự do, tự tại.’
20.
20.
20.
‘‘Tathevimaṃ pūtikāyaṃ, nānākuṇapasañcayaṃ;
Chaḍḍayitvāna gaccheyyaṃ, anapekkho anatthiko.
‘Even so, I should cast off this putrid body, this collection of various corpses, and depart, without attachment or desire.’
‘Cũng vậy, ta nên từ bỏ thân thể hôi thối này, nơi tích tụ các loại tử thi, rồi ra đi không luyến tiếc, không ham muốn.’
21.
21.
21.
‘‘Yathā uccāraṭṭhānamhi, karīsaṃ naranāriyo;
Chaḍḍayitvāna gacchanti, anapekkhā anatthikā.
‘Just as men and women, having left excrement in a place for defecation, depart without attachment or desire.’
‘Ví như đàn ông và đàn bà, sau khi bỏ lại phân ở nơi đại tiện, họ ra đi không luyến tiếc, không ham muốn.’
22.
22.
22.
‘‘Evamevāhaṃ imaṃ kāyaṃ, nānākuṇapapūritaṃ;
Chaḍḍayitvāna gacchissaṃ, vaccaṃ katvā yathā kuṭiṃ.
‘Even so shall I, having cast off this body filled with various corpses, depart, as one leaves a privy after having used it.’
‘Cũng vậy, ta sẽ từ bỏ thân này, vốn đầy dẫy các loại tử thi, rồi ra đi, như người bỏ lại nhà vệ sinh sau khi đã đại tiện.’
23.
23.
23.
‘‘Yathāpi jajjaraṃ nāvaṃ, paluggaṃ udagāhiniṃ †;
Sāmī chaḍḍetvā gacchanti, anapekkhā anatthikā.
‘Just as the owners of a decayed, broken, and leaking boat abandon it and depart, without attachment or desire.’
‘Ví như những người chủ, sau khi từ bỏ chiếc thuyền cũ nát, mục rữa, và bị rò nước, họ ra đi không luyến tiếc, không ham muốn.’
24.
24.
24.
‘‘Evamevāhaṃ imaṃ kāyaṃ, navacchiddaṃ dhuvassavaṃ;
Chaḍḍayitvāna gacchissaṃ, jiṇṇanāvaṃva sāmikā.
‘Even so shall I, having cast off this body with its nine openings and constant flow, depart, as owners do a worn-out boat.’
‘Cũng vậy, ta sẽ từ bỏ thân này, có chín lỗ và luôn tiết dịch, rồi ra đi, như những người chủ bỏ lại chiếc thuyền cũ.’
25.
25.
25.
‘‘Yathāpi puriso corehi, gacchanto bhaṇḍamādiya;
Bhaṇḍacchedabhayaṃ disvā, chaḍḍayitvāna gacchati.
‘Just as a man traveling with his merchandise in the company of thieves, seeing the danger of his goods being stolen, would abandon them and depart.’
‘Ví như người mang theo hàng hóa đi cùng với bọn cướp, thấy nguy cơ hàng hóa bị mất, liền bỏ lại bọn cướp mà đi.’
26.
26.
26.
‘‘Evameva ayaṃ kāyo, mahācorasamo viya;
Pahāyimaṃ gamissāmi, kusalacchedanā bhayā’’.
‘Even so, this body is like a great thief. I shall abandon it and go, out of fear of the destruction of my merit.’
‘Cũng vậy, thân này giống như một tên đại cướp; vì sợ thiện pháp bị hủy hoại, ta sẽ từ bỏ nó mà đi.’
27.
27.
27.
Evāhaṃ cintayitvāna, nekakoṭisataṃ dhanaṃ;
Nāthānāthānaṃ datvāna, himavantamupāgamiṃ.
Having reflected thus, I gave away my wealth of many hundreds of crores to those with and without protectors, and I went to the Himālaya.
Sau khi suy nghĩ như vậy, ta đã bố thí vô số trăm triệu tài sản cho những người có và không có nơi nương tựa, rồi đi đến Hy-mã-lạp sơn.
28.
28.
28.
Himavantassāvidūre, dhammiko nāma pabbato;
Assamo sukato mayhaṃ, paṇṇasālā sumāpitā.
Not far from the Himālaya, there is a mountain named Dhammika. There my hermitage was well-made, a leaf-hut skillfully created.
Không xa Hy-mã-lạp sơn, có một ngọn núi tên là Dhammika; ở đó, am thất của ta được xây cất tốt, và một cái lều lá được tạo dựng khéo léo.
29.
29.
29.
Caṅkamaṃ tattha māpesiṃ, pañcadosavivajjitaṃ;
Aṭṭhaguṇasamūpetaṃ, abhiññābalamāhariṃ.
There I created a walking path free from the five faults and endowed with eight qualities, and I brought forth the power of the super-knowledges.
Ở đó, ta đã tạo ra một con đường kinh hành, không có năm lỗi; và ta đã đạt được sức mạnh của các thắng trí, vốn có tám phẩm chất.
30.
30.
30.
Sāṭakaṃ pajahiṃ tattha, navadosamupāgataṃ;
Vākacīraṃ nivāsesiṃ, dvādasaguṇamupāgataṃ.
There, I abandoned the fine cloth garment, which is endowed with nine faults; I wore the bark-cloth garment, which is endowed with twelve virtues.
Ở đó, ta đã từ bỏ y phục bằng vải, vốn có chín lỗi; ta đã mặc vào y bằng vỏ cây, vốn có mười hai phẩm chất.
31.
31.
31.
Aṭṭhadosasamākiṇṇaṃ, pajahiṃ paṇṇasālakaṃ;
Upāgamiṃ rukkhamūlaṃ, guṇe dasahupāgataṃ.
I abandoned the leaf-hut, which was replete with eight faults; I approached the foot of a tree, which is endowed with ten virtues.
Ta đã từ bỏ lều lá, vốn đầy dẫy tám lỗi; ta đã đến dưới gốc cây, nơi có mười phẩm chất.
32.
32.
32.
Vāpitaṃ ropitaṃ dhaññaṃ, pajahiṃ niravasesato;
Anekaguṇasampannaṃ, pavattaphalamādiyiṃ.
I abandoned completely the grain that is sown and planted; I took the fruit that falls of its own accord, which is endowed with many virtues.
Ta đã từ bỏ hoàn toàn các loại lúa được gieo trồng; ta đã nhận lấy các loại trái cây rụng tự nhiên, vốn có nhiều phẩm chất.
33.
33.
33.
Tatthappadhānaṃ padahiṃ, nisajjaṭṭhānacaṅkame;
Abbhantaramhi sattāhe, abhiññābalapāpuṇiṃ.
There, in the places for sitting, standing, and walking, I strove in the striving; within seven days, I attained the power of higher knowledge.
Tại nơi ấy, trong lúc ngồi, đứng, và kinh hành, ta đã nỗ lực tinh tấn. Trong vòng bảy ngày, ta đã đạt được năng lực của các thắng trí.
34.
34.
34.
Evaṃ me siddhippattassa, vasībhūtassa sāsane;
Dīpaṅkaro nāma jino, uppajji lokanāyako.
Thus, while I had attained accomplishment and mastery in the teaching, the Victor named Dīpaṅkara, the Leader of the World, arose.
Như vậy, trong khi ta đã đạt được thành tựu và thuần thục trong giáo pháp, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Chiến Thắng tên là Dīpaṅkara đã xuất hiện.
35.
35.
35.
Uppajjante ca jāyante, bujjhante dhammadesane;
Caturo nimitte nāddasaṃ, jhānaratisamappito.
At his conception, at his birth, at his awakening, and at his teaching of the Dhamma, I did not see the four omens that occurred, as I was devoted to the bliss of jhāna.
Do đang an hưởng trong hỷ lạc của thiền định, ta đã không nhìn thấy bốn điềm báo lúc Ngài nhập thai, đản sanh, thành đạo, và thuyết Pháp.
36.
36.
36.
Paccantadesavisaye, nimantetvā tathāgataṃ;
Tassa āgamanaṃ maggaṃ, sodhenti tuṭṭhamānasā.
In a border region, the people, having invited the Tathāgata, cleared the path for his arrival with joyful minds.
Tại một vùng biên địa, sau khi đã thỉnh mời đức Như Lai, với tâm hoan hỷ, họ dọn dẹp con đường cho sự quang lâm của Ngài.
37.
37.
37.
Ahaṃ tena samayena, nikkhamitvā sakassamā;
Dhunanto vākacīrāni, gacchāmi ambare tadā.
At that time, having gone out from my own hermitage while shaking my bark-cloth garments, I then went through the sky.
Vào lúc ấy, ta rời khỏi am thất của mình, vừa đi vừa giũ tấm y bằng vỏ cây, ta đang đi trên hư không.
38.
38.
38.
Vedajātaṃ janaṃ disvā, tuṭṭhahaṭṭhaṃ pamoditaṃ;
Orohitvāna gaganā, manusse pucchi tāvade.
Seeing the people filled with great joy, delighted and elated, I descended from the sky and at that moment asked them.
Khi thấy đám đông hân hoan, vui mừng, và phấn khởi, ta từ trên không trung đi xuống và liền hỏi những người ấy.
39.
39.
39.
‘‘Tuṭṭhahaṭṭho pamudito, vedajāto mahājano;
Kassa sodhīyati maggo, añjasaṃ vaṭumāyanaṃ’’.
‘The great crowd is delighted, elated, and filled with great joy; for whose benefit is the path, the straight way, the highway, being cleared?’
‘Đám đông này hân hoan, vui mừng, và phấn khởi, con đường, lối đi, và đường mòn này được dọn dẹp vì ai?’
40.
40.
40.
Te me puṭṭhā viyākaṃsu, ‘‘buddho loke anuttaro;
Dīpaṅkaro nāma jino, uppajji lokanāyako;
Tassa sodhīyati maggo, añjasaṃ vaṭumāyanaṃ’’.
Those who were asked by me replied: ‘The unsurpassed Buddha, the Victor named Dīpaṅkara, the Leader of the World, has arisen in the world. For his benefit, the path, the straight way, the highway, is being cleared.’
Được ta hỏi, họ đã trả lời: ‘Đức Phật vô thượng ở trên đời, đấng Chiến Thắng tên là Dīpaṅkara, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, đã xuất hiện. Con đường, lối đi, và đường mòn này được dọn dẹp là vì Ngài.’
41.
41.
41.
Buddhotivacanaṃ † sutvāna, pīti uppajji tāvade;
Buddho buddhoti kathayanto, somanassaṃ pavedayiṃ.
Upon hearing the word ‘Buddha,’ joy arose in me at that very moment. Uttering, ‘Buddha, Buddha,’ I experienced mental gladness.
Nghe được lời nói ‘Phật,’ hỷ lạc liền khởi sanh trong ta. Vừa nói ‘Phật, Phật,’ ta cảm nhận được sự hoan hỷ.
42.
42.
42.
Tattha ṭhatvā vicintesiṃ, tuṭṭho saṃviggamānaso;
‘‘Idha bījāni ropissaṃ, khaṇo ve mā upaccagā.
Standing there, delighted and with a mind stirred by spiritual urgency, I reflected: ‘Here I shall plant the seeds. Indeed, let not this opportune moment pass me by.’
Đứng tại nơi ấy, với tâm hoan hỷ và xúc động, ta đã suy nghĩ: ‘Nơi đây ta sẽ gieo trồng hạt giống. Mong rằng khoảnh khắc này sẽ không trôi qua.’
43.
43.
43.
‘‘Yadi buddhassa sodhetha, ekokāsaṃ dadātha me;
Ahampi sodhayissāmi, añjasaṃ vaṭumāyanaṃ’’.
‘If you are clearing the way for the Buddha, give me one section; I too will clear the straight path, the highway.’
‘Nếu quý vị dọn dẹp vì đức Phật, xin hãy cho tôi một chỗ. Tôi cũng sẽ dọn dẹp con đường, lối đi, và đường mòn này.’
44.
44.
44.
Adaṃsu te mamokāsaṃ, sodhetuṃ añjasaṃ tadā;
Buddho buddhoti cintento, maggaṃ sodhemahaṃ tadā.
Then they gave me a section to clear the straight path. Thinking, ‘Buddha, Buddha,’ I then cleared the path.
Khi ấy, họ đã cho ta một chỗ để dọn dẹp con đường. Bấy giờ, trong khi tâm niệm ‘Phật, Phật,’ ta đã dọn dẹp con đường.
45.
45.
45.
Aniṭṭhite mamokāse, dīpaṅkaro mahāmuni;
Catūhi satasahassehi, chaḷabhiññehi tādihi;
Khīṇāsavehi vimalehi, paṭipajji añjasaṃ jino.
While my section was still unfinished, the great sage Dīpaṅkara, the Victor, proceeded along the straight path together with four hundred thousand Arahants who possessed the six higher knowledges, were steadfast, and were stainless.
Khi phần việc của ta chưa xong, bậc Đại ẩn sĩ Dīpaṅkara, đấng Chiến Thắng, đã đi vào con đường cùng với bốn trăm ngàn vị lậu tận, thanh tịnh, có sáu thắng trí và tâm tánh như như.
46.
46.
46.
Paccuggamanā vattanti, vajjanti bheriyo bahū;
Āmoditā naramarū, sādhukāraṃ pavattayuṃ.
They went forth to meet him, and many great drums were beaten. Men and gods, rejoicing, raised a cry of approval.
Họ tiến ra nghênh đón, nhiều trống lớn được đánh lên. Người và trời hoan hỷ, cùng nhau vang tiếng ‘Lành thay!’
47.
47.
47.
Devā manusse passanti, manussāpi ca devatā;
Ubhopi te pañjalikā, anuyanti tathāgataṃ.
Devas saw humans, and humans also saw devas. Both groups, with hands joined in reverence, followed behind the Tathāgata.
Chư thiên thấy loài người, và loài người cũng thấy chư thiên. Cả hai chúng ấy đều chắp tay cung kính, đi theo sau đức Như Lai.
48.
48.
48.
Devā dibbehi turiyehi, manussā mānusehi ca †;
Ubhopi te vajjayantā, anuyanti tathāgataṃ.
The devas with divine musical instruments and the humans with human ones, both groups playing, followed behind the Tathāgata.
Chư thiên với nhạc cụ cõi trời, và loài người với nhạc cụ cõi người; cả hai chúng ấy vừa tấu nhạc, vừa đi theo sau đức Như Lai.
49.
49.
49.
Dibbaṃ mandāravaṃ pupphaṃ, padumaṃ pārichattakaṃ;
Disodisaṃ okiranti, ākāsanabhagatā marū.
The devas moving through the sky scattered in every direction the divine Mandārava flowers, lotuses, and Pārichattaka flowers.
Chư thiên đi trên hư không rải khắp mọi phương hướng hoa Mạn-đà-la, hoa sen, và hoa san hô trời thiêng liêng.
50.
50.
50.
Dibbaṃ candanacuṇṇañca, varagandhañca kevalaṃ;
Disodisaṃ okiranti, ākāsanabhagatā † marū.
The devas moving through the sky scattered in every direction divine sandalwood powder and excellent, pure fragrances.
Chư thiên đi trên hư không rải khắp mọi phương hướng bột chiên-đàn thiêng liêng và tất cả các loại hương thơm hảo hạng.
51.
51.
51.
Campakaṃ saralaṃ nīpaṃ, nāgapunnāgaketakaṃ;
Disodisaṃ ukkhipanti, bhūmitalagatā narā.
The people on the ground tossed up in every direction Campaka, Sarala, Nīpa, Nāga, Punnāga, and Ketaka flowers.
Những người đi trên mặt đất tung lên khắp mọi phương hướng hoa ngọc lan, hoa thông, hoa gáo, hoa vấp, hoa mù u, và hoa dứa dại.
52.
52.
52.
Kese muñcitvāhaṃ tattha, vākacīrañca cammakaṃ;
Kalale pattharitvāna, avakujjo nipajjahaṃ.
There, having unbound my matted hair, and having spread my bark-cloth garment and deerskin on the mud, I lay down prone.
Tại nơi đó, ta đã xõa tóc, trải y vỏ cây và tấm da thú của mình trên vũng bùn, rồi nằm úp mặt xuống.
53.
53.
53.
‘‘Akkamitvāna maṃ buddho, saha sissehi gacchatu;
Mā naṃ kalale akkamittha, hitāya me bhavissati’’.
‘Let the Buddha, together with his disciples, walk over me; let him not step in the mud. This will be for my long-term welfare.’
‘Xin đức Phật cùng các đệ tử hãy đi qua, dẫm lên trên con. Xin Ngài đừng dẫm lên vũng bùn. Điều này sẽ vì lợi ích cho con.’
54.
54.
54.
Pathaviyaṃ nipannassa, evaṃ me āsi cetaso;
‘‘Icchamāno ahaṃ ajja, kilese jhāpaye mama.
As I was lying on the ground, this thought arose in my mind: ‘If I so wished, today I could burn away my defilements.’
Khi đang nằm trên mặt đất, tâm ta đã khởi lên ý nghĩ như vầy: ‘Nếu muốn, ngay hôm nay ta có thể đốt sạch các phiền não của mình.’
55.
55.
55.
‘‘Kiṃ me aññātavesena, dhammaṃ sacchikatenidha;
Sabbaññutaṃ pāpuṇitvā, buddho hessaṃ sadevake.
‘What use is it for me to realize the Dhamma here in an unknown guise? Having attained omniscience, I shall become a Buddha in the world together with its devas.’
‘Có ích gì cho ta khi chứng ngộ Chánh Pháp ở đây với một thân phận vô danh? Sau khi đạt được nhất thiết trí, ta sẽ trở thành một vị Phật trong thế giới cùng với chư thiên.’
56.
56.
56.
‘‘Kiṃ me ekena tiṇṇena, purisena thāmadassinā;
Sabbaññutaṃ pāpuṇitvā, santāressaṃ sadevakaṃ.
‘What use is it for me, a man who perceives his own strength, to cross over alone? Having attained omniscience, I shall ferry across the world together with its devas.’
‘Là một người nam có năng lực, có ích gì cho ta khi một mình vượt qua? Sau khi đạt được nhất thiết trí, ta sẽ giúp cho thế giới cùng với chư thiên được vượt qua.’
57.
57.
57.
‘‘Iminā me adhikārena, katena purisuttame;
Sabbaññutaṃ pāpuṇitvā, tāremi janataṃ bahuṃ.
‘By this act of aspiration made by me towards the Supreme among Men, I will, having attained omniscience, ferry across many beings.’
‘Nhờ vào sự quyết tâm này của ta, được thực hiện trước bậc Tối Thắng Nhân, sau khi đạt được nhất thiết trí, ta sẽ đưa nhiều chúng sanh vượt qua.’
58.
58.
58.
‘‘Saṃsārasotaṃ chinditvā, viddhaṃsetvā tayo bhave;
Dhammanāvaṃ samāruyha, santāressaṃ sadevakaṃ’’.
‘Having cut off the stream of saṃsāra and demolished the three states of existence, I will, having boarded the ship of the Dhamma, ferry across the world together with its devas.’
‘Sau khi cắt đứt dòng chảy luân hồi, phá tan ba cõi hữu, và lên con thuyền Chánh Pháp, ta sẽ giúp cho thế giới cùng với chư thiên được vượt qua.’
59.
59.
59.
Manussattaṃ liṅgasampatti, hetu satthāradassanaṃ;
Pabbajjā guṇasampatti, adhikāro ca chandatā;
Aṭṭhadhammasamodhānā, abhinīhāro samijjhati.
Human existence, perfection of gender, the right causal foundation, the sight of a Teacher, the going forth, the attainment of virtues, an act of aspiration, and strong desire: from the convergence of these eight conditions, the great resolution succeeds.
Thân người, giới tính nam, có nhân duyên (để chứng quả A-la-hán), được gặp bậc Đạo Sư, được xuất gia, thành tựu các phẩm hạnh, có sự cúng dường tối thượng, và có ý chí mạnh mẽ. Do sự hội đủ của tám pháp này, lời đại nguyện được thành tựu.
60.
60.
60.
Dīpaṅkaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Ussīsake maṃ ṭhatvāna, idaṃ vacanamabravi.
Dīpaṅkara, the Knower of the World, the Receiver of Offerings, standing at my head, spoke this utterance.
Đức Dīpaṅkara, bậc Thông Tỏ Thế Gian, xứng đáng thọ nhận các vật cúng dường, đã đứng ở phía đầu của ta và nói lên lời này.
61.
61.
61.
‘‘Passatha imaṃ tāpasaṃ, jaṭilaṃ uggatāpanaṃ;
Aparimeyyito kappe, buddho loke bhavissati.
“See this ascetic, the matted-haired one of austere practice; in an immeasurable aeon from now, he will become a Buddha in the world.
‘Hãy nhìn vị đạo sĩ khổ hạnh, tóc bện, tu tập nghiêm khắc này. Sau vô số kiếp không thể đếm được kể từ đây, vị này sẽ trở thành một vị Phật ở trên đời.’
62.
62.
62.
‘‘Ahu kapilavhayā rammā, nikkhamitvā tathāgato;
Padhānaṃ padahitvāna, katvā dukkarakārikaṃ.
“From the delightful city named Kapila, the Tathāgata will go forth; having applied himself to striving, he will perform the difficult ascetic practices.
‘Sau khi xuất gia từ thành phố khả ái tên là Kapila, vị Như Lai ấy sẽ nỗ lực tinh tấn và thực hành khổ hạnh.’
63.
63.
63.
‘‘Ajapālarukkhamūlasmiṃ, nisīditvā tathāgato;
Tattha pāyāsaṃ paggayha, nerañjaramupehiti.
“Having sat down at the foot of the Ajapāla banyan tree, the Tathāgata, having accepted the milk-rice there, will approach the Nerañjarā river.
“Vị Như Lai sẽ ngồi xuống, ở tại gốc cây Ajapāla; Ở nơi ấy, sau khi thọ nhận món cháo sữa, ngài sẽ đi đến sông Nerañjarā.”
64.
64.
64.
‘‘Nerañjarāya tīramhi, pāyāsaṃ ada so jino;
Paṭiyattavaramaggena, bodhimūlamupehiti.
“That Victor, having partaken of the milk-rice on the bank of the Nerañjarā, will approach the foot of the Bodhi tree by the excellent path prepared.
“Vị Chiến Thắng ấy, sau khi dùng món cháo sữa ở tại bờ sông Nerañjarā, sẽ đi đến cội Bồ-đề bằng con đường cao quý đã được dọn sẵn.”
65.
65.
65.
‘‘Tato padakkhiṇaṃ katvā, bodhimaṇḍaṃ anuttaro †;
Assattharukkhamūlamhi, bujjhissati mahāyaso.
“Then, having circumambulated the Bodhi-maṇḍa in a clockwise manner, the Unsurpassed One of great renown will awaken at the foot of the Assattha tree.
“Sau đó, bậc Vô Thượng, đấng Đại Danh Vọng, sau khi đi nhiễu quanh Bồ-đề đàn theo chiều bên phải, sẽ giác ngộ ở tại gốc cây Assattha.”
66.
66.
66.
‘‘Imassa janikā mātā, māyā nāma bhavissati;
Pitā suddhodano nāma, ayaṃ hessati gotamo.
“His birth-giving mother will be named Māyā; his father will be named Suddhodana, and this one will become Gotama.
“Thân mẫu sinh ra vị này sẽ có tên là Māyā; thân phụ sẽ có tên là Suddhodana; vị này sẽ là Gotama.”
67.
67.
67.
‘‘Anāsavā vītarāgā, santacittā samāhitā;
Kolito upatisso ca, aggā hessanti sāvakā;
Ānando nāmupaṭṭhāko, upaṭṭhissatimaṃ † jinaṃ.
“Free from taints, devoid of passion, with serene minds, and well-composed, Kolita and Upatissa will be the chief disciples. An attendant named Ānanda will wait upon this Victor.
“Kolita và Upatissa, các vị không còn lậu hoặc, đã ly tham, tâm được an tịnh, có định tĩnh, sẽ là các vị Thượng thủ Thinh văn. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ hầu cận vị Chiến Thắng này.”
68.
68.
68.
‘‘Khemā uppalavaṇṇā ca, aggā hessanti sāvikā;
Anāsavā vītarāgā, santacittā samāhitā;
Bodhi tassa bhagavato, assatthoti pavuccati.
“Khemā and Uppalavaṇṇā will be the chief female disciples; free from taints, devoid of passion, with serene minds, and well-composed. The Bodhi tree of that Blessed One is called the Assattha.
“Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là các vị Thượng thủ Nữ Thinh văn. Các vị ấy không còn lậu hoặc, đã ly tham, tâm được an tịnh, có định tĩnh. Cây Bồ-đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là Assattha.”
69.
69.
69.
‘‘Citto ca hatthāḷavako †, aggā hessantupaṭṭhakā;
Uttarā nandamātā ca, aggā hessantupaṭṭhikā’’.
“Citto and Hatthāḷavaka will be the chief male lay attendants; Uttarā and Nandamātā will be the chief female lay attendants.”
“Citto và Hatthāḷavaka sẽ là các vị Thượng thủ nam cư sĩ hộ độ. Uttarā và Nandamātā sẽ là các vị Thượng thủ nữ cư sĩ hộ độ.”
70.
70.
70.
Idaṃ sutvāna vacanaṃ, asamassa mahesino;
Āmoditā naramarū, buddhabījaṃ kira † ayaṃ.
Hearing this utterance of the Unsurpassed Great Sage, humans and devas rejoiced, thinking, 'This is indeed a Buddha-seed!'
Sau khi nghe được lời nói này của bậc Đại Ẩn Sĩ vô song, chư thiên và nhân loại đã hoan hỷ: ‘Vị này quả thật là mầm mống của một vị Phật’.
71.
71.
71.
Ukkuṭṭhisaddā vattanti, apphoṭenti † hasanti ca;
Katañjalī namassanti, dasasahassī sadevakā.
The devas and beings of the ten-thousand world systems raised shouts of acclamation, snapped their fingers, and laughed; with hands joined in reverence, they paid homage.
Các tiếng reo hò vang lên, họ vỗ tay và cười lớn. Chúng sanh ở mười ngàn thế giới cùng với chư thiên chắp tay và đảnh lễ.
72.
72.
72.
‘‘Yadimassa lokanāthassa, virajjhissāma sāsanaṃ;
Anāgatamhi addhāne, hessāma sammukhā imaṃ.
“If we should miss the teaching of this Lord of the World, in a future time, we shall be in the presence of this one.”
“Nếu chúng con bỏ lỡ giáo pháp của vị Hộ Trì Thế Gian này, trong thời vị lai, chúng con sẽ được diện kiến vị này.”
73.
73.
73.
‘‘Yathā manussā nadiṃ tarantā, paṭititthaṃ virajjhiya;
Heṭṭhātitthe gahetvāna, uttaranti mahānadiṃ.
“Just as people crossing a river, having missed the direct ford, take a ford downstream and cross the great river.
“Ví như những người đang vượt sông, sau khi bỏ lỡ bến đỗ ở phía đối diện, đã nắm lấy bến đỗ ở phía dưới và vượt qua dòng sông lớn.”
74.
74.
74.
‘‘Evameva mayaṃ sabbe, yadi muñcāmimaṃ jinaṃ;
Anāgatamhi addhāne, hessāma sammukhā imaṃ’’.
“Even so, all of us, if we miss this Victor, in a future time, we shall be in the presence of this one.”
“Cũng tương tự như thế, nếu tất cả chúng con bỏ lỡ vị Chiến Thắng này, trong thời vị lai, chúng con sẽ được diện kiến vị này.”
75.
75.
75.
Dīpaṅkaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Mama kammaṃ pakittetvā, dakkhiṇaṃ pādamuddhari.
Dīpaṅkara, the Knower of the Worlds, the Recipient of Offerings, having proclaimed my deed, lifted his right foot.
Đức Dīpaṅkara, bậc Thông Suốt Thế Gian, người xứng đáng thọ nhận các vật cúng dường, sau khi tuyên thuyết về hành nghiệp của tôi, đã nhấc bàn chân phải lên.
76.
76.
76.
Ye tatthāsuṃ jinaputtā, padakkhiṇamakaṃsu † maṃ;
Devā manussā asurā ca, abhivādetvāna pakkamuṃ.
The sons of the Victor who were there circumambulated me; devas, humans, and asuras, having paid homage, then departed.
Các vị con của đấng Chiến Thắng đã có mặt ở nơi ấy đã đi nhiễu quanh tôi theo chiều bên phải. Chư thiên, nhân loại, và a-tu-la, sau khi đã đảnh lễ, đã ra đi.
77.
77.
77.
Dassanaṃ me atikkante, sasaṅghe lokanāyake;
Sayanā vuṭṭhahitvāna, pallaṅkaṃ ābhujiṃ tadā.
When the Leader of the World, together with the Saṅgha, had passed from my sight, I, having risen from my resting place, then sat down cross-legged.
Khi bậc Lãnh Đạo Thế Gian cùng với Tăng chúng đã đi khuất tầm mắt của tôi, sau khi đứng dậy từ chỗ nằm, tôi đã ngồi kiết-già vào lúc ấy.
78.
78.
78.
Sukhena sukhito homi, pāmojjena pamodito;
Pītiyā ca abhissanno, pallaṅkaṃ ābhujiṃ tadā.
Happy with happiness, gladdened by joy, and suffused with rapture, I then sat down cross-legged.
Tôi đã được an lạc với sự an lạc, đã được hân hoan với niềm hân hoan, và đã được thấm nhuần với niềm hỷ lạc. Tôi đã ngồi kiết-già vào lúc ấy.
79.
79.
79.
Pallaṅkena nisīditvā, evaṃ cintesahaṃ tadā;
‘‘Vasībhūto ahaṃ jhāne, abhiññāsu pāramiṃgato †.
Having sat down cross-legged, I then reflected thus: ‘I have gained mastery in the jhānas and have reached perfection in the higher knowledges.’
Sau khi ngồi kiết-già, tôi đã suy nghĩ như vầy vào lúc ấy: ‘Ta đã thuần thục các tầng thiền, đã đạt đến sự toàn hảo về các thắng trí’.
80.
80.
80.
‘‘Sahassiyamhi lokamhi, isayo natthi me samā;
Asamo iddhidhammesu, alabhiṃ īdisaṃ sukhaṃ.
‘In this thousand-fold world system, there are no ascetics equal to me; I am unequalled in the powers of iddhi. Such happiness have I attained.’
“‘Trong một ngàn thế giới, không có vị ẩn sĩ nào sánh bằng ta. Về các pháp thần thông, ta là vô song. Ta đã đạt được sự an lạc như thế này.’”
81.
81.
81.
‘‘Pallaṅkābhujane mayhaṃ, dasasahassādhivāsino;
Mahānādaṃ pavattesuṃ, ‘dhuvaṃ buddho bhavissasi.
As I sat cross-legged, the inhabitants of the ten-thousand world systems raised a great cry: ‘Assuredly, you will become a Buddha!’
Khi tôi đang ngồi kiết-già, các chúng sanh ở mười ngàn thế giới đã phát ra tiếng rống lớn: ‘Chắc chắn ngài sẽ thành Phật’.
82.
82.
82.
‘‘‘Yā pubbe bodhisattānaṃ, pallaṅkavaramābhuje;
Nimittāni padissanti, tāni ajja padissare.
‘The very signs that formerly appeared for Bodhisattas when assuming the excellent cross-legged posture, those same signs are appearing today.’
“‘Những điềm triệu nào đã xuất hiện trước đây khi các vị Bồ-tát ngồi kiết-già trên bảo tọa, những điềm triệu ấy đang xuất hiện ngày hôm nay.’”
83.
83.
83.
‘‘‘Sītaṃ byapagataṃ hoti, uṇhañca upasammati;
Tāni ajja padissanti, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘The cold vanishes, and the heat is allayed; those signs are appearing today. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Cái lạnh đã biến mất, và cái nóng được lắng dịu. Những điềm triệu ấy đang xuất hiện ngày hôm nay, chắc chắn ngài sẽ thành Phật.’”
84.
84.
84.
‘‘‘Dasasahassī lokadhātū, nissaddā honti nirākulā;
Tāni ajja padissanti, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘The ten-thousand world systems have become silent and untroubled; those signs are appearing today. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Mười ngàn thế giới trở nên yên lặng và không bị khuấy động. Những điềm triệu ấy đang xuất hiện ngày hôm nay, chắc chắn ngài sẽ thành Phật.’”
85.
85.
85.
‘‘‘Mahāvātā na vāyanti, na sandanti savantiyo;
Tāni ajja padissanti, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘Great winds do not blow, and flowing rivers do not run; those signs are appearing today. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Các ngọn gió lớn không thổi, các dòng sông đang chảy không còn chảy nữa. Những điềm triệu ấy đang xuất hiện ngày hôm nay, chắc chắn ngài sẽ thành Phật.’”
86.
86.
86.
‘‘‘Thalajā dakajā pupphā, sabbe pupphanti tāvade;
Tepajja pupphitā † sabbe, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘Land-born and water-born flowers, all bloom at that moment; today, all those same flowers are in bloom. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Vào lúc ấy, tất cả các loài hoa trên cạn và dưới nước đều nở rộ. Tất cả chúng cũng đang nở rộ ngày hôm nay, chắc chắn ngài sẽ thành Phật.’”
87.
87.
87.
‘‘‘Latā vā yadi vā rukkhā, phalabhārā honti tāvade;
Tepajja phalitā sabbe, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘Creepers and trees alike become laden with fruit at that moment; today, all those same plants are bearing fruit. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Vào lúc ấy, các loại dây leo và cây cối đều trĩu nặng quả. Tất cả chúng cũng đang kết quả ngày hôm nay, chắc chắn ngài sẽ thành Phật.’”
88.
88.
88.
‘‘‘Ākāsaṭṭhā ca bhūmaṭṭhā, ratanā jotanti tāvade;
Tepajja ratanā jotanti, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘Jewels abiding in the sky and on the earth shine forth at that moment; today, those same jewels are shining. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Vào lúc ấy, các bảo vật ở trên không và ở dưới đất đều tỏa sáng. Các bảo vật ấy cũng đang tỏa sáng ngày hôm nay, chắc chắn ngài sẽ thành Phật.’”
89.
89.
89.
‘‘‘Mānussakā ca dibbā ca, turiyā vajjanti tāvade;
Tepajjubho abhiravanti, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘Human and divine musical instruments play at that moment; today, both kinds are resounding. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Vào lúc ấy, các nhạc cụ của nhân loại và của chư thiên đều vang lên. Cả hai loại ấy cũng đang vang dội ngày hôm nay, chắc chắn ngài sẽ thành Phật.’”
90.
90.
90.
‘‘‘Vicitrapupphā gaganā, abhivassanti tāvade;
Tepi ajja pavassanti, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘At that moment, from the sky, various flowers rain down; those too are raining down today. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Vào lúc ấy, những trận mưa hoa đa dạng từ trên không trung trút xuống. Chúng cũng đang trút xuống ngày hôm nay, chắc chắn ngài sẽ thành Phật.’”
91.
91.
91.
‘‘‘Mahāsamuddo ābhujati, dasasahassī pakampati;
Tepajjubho abhiravanti, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘The great ocean churns, the ten-thousandfold world system trembles; today, both of these resound. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Đại dương gầm vang, mười ngàn thế giới rung chuyển. Cả hai điều ấy cũng đang vang dội ngày hôm nay, chắc chắn ngài sẽ thành Phật.’”
92.
92.
92.
‘‘‘Nirayepi dasasahasse, aggī nibbanti tāvade;
Tepajja nibbutā aggī, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘In the hells of the ten-thousandfold world system, the fires are extinguished at that moment; today those fires are also extinguished. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Vào lúc ấy, các ngọn lửa ở các địa ngục trong mười ngàn thế giới đều được dập tắt. Các ngọn lửa ấy cũng đã được dập tắt ngày hôm nay, chắc chắn ngài sẽ thành Phật.’”
93.
93.
93.
‘‘‘Vimalo hoti sūriyo, sabbā dissanti tārakā;
Tepi ajja padissanti, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘The sun becomes immaculate, all the stars become visible; those too are visible today. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Mặt trời trở nên không tì vết, tất cả các vì sao đều hiện rõ; hôm nay chúng cũng đang hiện rõ, ngài chắc chắn sẽ thành Phật.
94.
94.
94.
‘‘‘Anovaṭṭhena † udakaṃ, mahiyā ubbhijji tāvade;
Tampajjubbhijjate mahiyā, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘At that moment, water sprang up from the earth without rain; that water is also springing up from the earth today. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Khi ấy, dù trời không mưa, nước từ đất đã vọt lên; hôm nay nước ấy cũng đang vọt lên từ đất, ngài chắc chắn sẽ thành Phật.
95.
95.
95.
‘‘‘Tārāgaṇā virocanti, nakkhattā gaganamaṇḍale;
Visākhā candimā yuttā, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘The hosts of stars and the constellations shine brightly in the sphere of the sky; the constellation Visākhā is conjoined with the moon. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Các nhóm sao, các chòm sao tỏa sáng trên vòm trời; sao Visākhā đi cùng với mặt trăng, ngài chắc chắn sẽ thành Phật.
96.
96.
96.
‘‘‘Bilāsayā darīsayā, nikkhamanti sakāsayā;
Tepajja āsayā chuddhā, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘Creatures dwelling in holes and creatures dwelling in ravines come forth from their own dwellings; today those creatures have also come forth from their dwellings. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Loài sống trong hang, loài sống trong khe núi, đã ra khỏi nơi ở của mình; hôm nay chúng cũng đã rời khỏi nơi ở, ngài chắc chắn sẽ thành Phật.
97.
97.
97.
‘‘‘Na honti aratī sattānaṃ, santuṭṭhā honti tāvade;
Tepajja sabbe santuṭṭhā, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘There is no discontent among beings; they become contented at that moment. Today, all those beings are also contented. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Chúng sanh không còn bất mãn, tất cả đều hoan hỷ vào lúc ấy; hôm nay tất cả chúng cũng đều hoan hỷ, ngài chắc chắn sẽ thành Phật.
98.
98.
98.
‘‘‘Rogā tadupasammanti, jighacchā ca vinassati;
Tāni ajja padissanti, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘Diseases are then pacified, and hunger perishes; those signs are visible today. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Khi ấy, bệnh tật được lắng dịu, và cơn đói khát cũng tiêu tan; những điềm ấy hôm nay đang hiện rõ, ngài chắc chắn sẽ thành Phật.
99.
99.
99.
‘‘‘Rāgo tadā tanu hoti, doso moho vinassati;
Tepajja vigatā sabbe, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘At that moment, lust becomes attenuated; hatred and delusion perish. Today, all those have also vanished. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Khi ấy, tham ái trở nên mỏng manh, sân hận và si mê bị tiêu diệt; hôm nay tất cả chúng đều đã biến mất, ngài chắc chắn sẽ thành Phật.
100.
100.
100.
‘‘‘Bhayaṃ tadā na bhavati, ajjapetaṃ padissati;
Tena liṅgena jānāma, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘Fear does not arise at that moment; this is also apparent today. By that sign we know: assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Khi ấy, không có sự sợ hãi, hôm nay điều ấy cũng đang hiện rõ; nhờ điềm báo ấy, chúng tôi biết rằng, ngài chắc chắn sẽ thành Phật.
101.
101.
101.
‘‘‘Rajonuddhaṃsati uddhaṃ, ajjapetaṃ padissati;
Tena liṅgena jānāma, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘Dust does not rise upwards; this is also apparent today. By that sign we know: assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Bụi không bay lên cao, hôm nay điều ấy cũng đang hiện rõ; nhờ điềm báo ấy, chúng tôi biết rằng, ngài chắc chắn sẽ thành Phật.
102.
102.
102.
‘‘‘Aniṭṭhagandho pakkamati, dibbagandho pavāyati;
Sopajja vāyati gandho, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘Unpleasant odors depart and divine fragrances waft; that fragrance is also wafting today. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Mùi hôi thối biến mất, hương trời tỏa ngát; hôm nay hương ấy cũng đang tỏa ngát, ngài chắc chắn sẽ thành Phật.
103.
103.
103.
‘‘‘Sabbe devā padissanti, ṭhapayitvā arūpino;
Tepajja sabbe dissanti, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘All devas, excepting the formless ones, become visible; all those are also visible today. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Tất cả chư thiên đều hiện ra, ngoại trừ các vị cõi Vô Sắc; hôm nay tất cả các vị ấy cũng đều hiện rõ, ngài chắc chắn sẽ thành Phật.
104.
104.
104.
‘‘‘Yāvatā nirayā nāma, sabbe dissanti tāvade;
Tepajja sabbe dissanti, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘At that moment, all realms whatsoever that are called hells became visible; all those are also visible today. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Bao nhiêu cảnh giới được gọi là địa ngục, tất cả đều hiện rõ vào lúc ấy; hôm nay tất cả chúng cũng đều hiện rõ, ngài chắc chắn sẽ thành Phật.
105.
105.
105.
‘‘‘Kuṭṭā † kavāṭā selā ca, na hontāvaraṇā tadā;
Ākāsabhūtā tepajja, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘At that moment, walls, doors, and rocks were not obstructions; today they have become as open space. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Tường vách, cửa nẻo, và đá núi, khi ấy không còn là vật cản; hôm nay chúng cũng trở thành hư không, ngài chắc chắn sẽ thành Phật.
106.
106.
106.
‘‘‘Cutī ca upapatti ca, khaṇe tasmiṃ na vijjati;
Tānipajja padissanti, dhuvaṃ buddho bhavissasi.
‘At that moment, passing away and taking rebirth did not exist; those signs are visible today. Assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Sự chết và sự tái sanh, trong khoảnh khắc ấy không tồn tại; những điềm ấy hôm nay cũng đang hiện rõ, ngài chắc chắn sẽ thành Phật.
107.
107.
107.
‘‘‘Daḷhaṃ paggaṇha vīriyaṃ, mā nivatta abhikkama;
Mayampetaṃ vijānāma, dhuvaṃ buddho bhavissasi’’’.
‘Exert your energy firmly! Do not turn back; go forward! We too know this: assuredly, you will become a Buddha.’
“‘Hãy nỗ lực tinh tấn một cách vững chắc, đừng lui bước, hãy tiến lên; chúng tôi cũng biết rõ điều này, ngài chắc chắn sẽ thành Phật.’”
108.
108.
108.
Buddhassa vacanaṃ sutvā, dasasahassīnacūbhayaṃ;
Tuṭṭhahaṭṭho pamodito, evaṃ cintesahaṃ tadā.
Having heard the words of both the Buddha and the inhabitants of the ten-thousandfold world system, I, pleased, joyful, and delighted, reflected thus at that time:
Sau khi nghe lời của đức Phật và của chư vị ở mười ngàn thế giới, ta vui vẻ, hoan hỷ, hân hoan, và đã suy nghĩ như vầy vào lúc ấy.
109.
109.
109.
‘‘Advejjhavacanā buddhā, amoghavacanā jinā;
Vitathaṃ natthi buddhānaṃ, dhuvaṃ buddho bhavāmahaṃ.
‘The Buddhas, the Victors, are of speech that is not twofold; their speech is not in vain. The speech of the Buddhas is not false; I shall surely become a Buddha.’
“Chư Phật có lời nói không hai nghĩa, các bậc Chiến Thắng có lời nói không vô ích; chư Phật không có lời nói sai trái, ta chắc chắn sẽ thành Phật.
110.
110.
110.
‘‘Yathā khittaṃ nabhe leḍḍu, dhuvaṃ patati bhūmiyaṃ;
Tatheva buddhaseṭṭhānaṃ, vacanaṃ dhuvasassataṃ;
Vitathaṃ natthi buddhānaṃ, dhuvaṃ buddho bhavāmahaṃ.
‘Just as a clod of earth thrown into the sky certainly falls to the ground, so too the word of the foremost Buddhas is certain and constant. The speech of the Buddhas is not false; I shall surely become a Buddha.’
“Như cục đất ném lên trời, chắc chắn rơi xuống đất; cũng vậy, lời của các bậc Phật tối thượng là chắc chắn và vĩnh cửu; chư Phật không có lời nói sai trái, ta chắc chắn sẽ thành Phật.
111.
111.
111.
‘‘Yathāpi sabbasattānaṃ, maraṇaṃ dhuvasassataṃ;
Tatheva buddhaseṭṭhānaṃ, vacanaṃ dhuvasassataṃ;
Vitathaṃ natthi buddhānaṃ, dhuvaṃ buddho bhavāmahaṃ.
‘Just as the death of all beings is certain and constant, so too the word of the foremost Buddhas is certain and constant. The speech of the Buddhas is not false; I shall surely become a Buddha.’
“Cũng như cái chết của tất cả chúng sanh là chắc chắn và vĩnh cửu; cũng vậy, lời của các bậc Phật tối thượng là chắc chắn và vĩnh cửu; chư Phật không có lời nói sai trái, ta chắc chắn sẽ thành Phật.
112.
112.
112.
‘‘Yathā rattikkhaye patte, sūriyuggamanaṃ dhuvaṃ;
Tatheva buddhaseṭṭhānaṃ, vacanaṃ dhuvasassataṃ;
Vitathaṃ natthi buddhānaṃ, dhuvaṃ buddho bhavāmahaṃ.
‘Just as, when the end of the night is reached, the rising of the sun is certain, so too the word of the foremost Buddhas is certain and constant. The word of the Buddhas is not false; I shall surely become a Buddha.’
“Như khi đêm tàn, mặt trời mọc là điều chắc chắn; cũng vậy, lời của các bậc Phật tối thượng là chắc chắn và vĩnh cửu; chư Phật không có lời nói sai trái, ta chắc chắn sẽ thành Phật.
113.
113.
113.
‘‘Yathā nikkhantasayanassa, sīhassa nadanaṃ dhuvaṃ;
Tatheva buddhaseṭṭhānaṃ, vacanaṃ dhuvasassataṃ;
Vitathaṃ natthi buddhānaṃ, dhuvaṃ buddho bhavāmahaṃ.
Just as the roar of a lion emerging from its lair is certain, so too the word of the foremost Buddhas is certain and constant. The word of the Buddhas is not false; I shall surely become a Buddha.
“Như tiếng rống của sư tử khi ra khỏi hang là điều chắc chắn; cũng vậy, lời của các bậc Phật tối thượng là chắc chắn và vĩnh cửu; chư Phật không có lời nói sai trái, ta chắc chắn sẽ thành Phật.
114.
114.
114.
‘‘Yathā āpannasattānaṃ, bhāramoropanaṃ dhuvaṃ;
Tatheva buddhaseṭṭhānaṃ, vacanaṃ dhuvasassataṃ;
Vitathaṃ natthi buddhānaṃ, dhuvaṃ buddho bhavāmahaṃ.
Just as for pregnant women the laying down of their burden is certain, so too the word of the foremost Buddhas is certain and constant. The word of the Buddhas is not false; I shall surely become a Buddha.
“Như việc hạ sanh của người nữ mang thai là điều chắc chắn; cũng vậy, lời của các bậc Phật tối thượng là chắc chắn và vĩnh cửu; chư Phật không có lời nói sai trái, ta chắc chắn sẽ thành Phật.
115.
115.
115.
‘‘Handa buddhakare dhamme, vicināmi ito cito;
Uddhaṃ adho dasa disā, yāvatā dhammadhātuyā’’.
Now, I shall investigate the qualities that make one a Buddha, searching here and there—upwards, downwards, and in the ten directions—as far as the Dhamma-element extends.
“Này, ta sẽ tìm kiếm các pháp tạo nên Phật ở đây đó; trên, dưới, mười phương, trong toàn bộ pháp giới.”
116.
116.
116.
Vicinanto tadā dakkhiṃ, paṭhamaṃ dānapāramiṃ;
Pubbakehi mahesīhi, anuciṇṇaṃ mahāpathaṃ.
While investigating at that time, I saw first the perfection of giving—the great path repeatedly practiced by the Great Sages of the past.
Khi tìm kiếm, lúc ấy ta đã thấy Ba-la-mật bố thí đầu tiên; con đường lớn được các bậc Đại sĩ xưa thực hành.
117.
117.
117.
‘‘Imaṃ tvaṃ paṭhamaṃ tāva, daḷhaṃ katvā samādiya;
Dānapāramitaṃ gaccha, yadi bodhiṃ pattumicchasi.
If you wish to attain enlightenment, first make this perfection of giving exceedingly firm and undertake it well. Go and fulfill the perfection of giving.
“Nếu ngươi muốn đạt được giác ngộ, thì trước tiên hãy làm cho pháp này vững chắc và thọ trì; hãy thực hành Ba-la-mật bố thí.
118.
118.
118.
‘‘Yathāpi kumbho sampuṇṇo, yassa kassaci adho kato;
Vamate vudakaṃ nissesaṃ, na tattha parirakkhati.
Just as a pot filled with water, when turned upside down by anyone, pours out all the water without remainder and holds none of it back,
“Cũng như cái bình đầy nước, khi bị ai đó úp ngược, nó trút ra hết sạch nước, không giữ lại chút nào ở đó.
119.
119.
119.
‘‘Tatheva yācake disvā, hīnamukkaṭṭhamajjhime;
Dadāhi dānaṃ nissesaṃ, kumbho viya adho kato.
So too, having seen supplicants—whether lowly, excellent, or middling—give your gift without remainder, like a pot turned upside down.
“Cũng vậy, khi thấy người xin, dù là hạ, thượng, hay trung; hãy cho đi vật bố thí không còn sót lại, như cái bình bị úp ngược.
120.
120.
120.
‘‘Nahete ettakāyeva, buddhadhammā bhavissare;
Aññepi vicinissāmi, ye dhammā bodhipācanā’’.
The qualities of a Buddha cannot be only this many; I shall also investigate other qualities that bring enlightenment to maturity.
“Những pháp của Phật này chắc không chỉ có chừng ấy; ta sẽ tìm kiếm cả những pháp khác, những pháp làm cho giác ngộ chín muồi.”
121.
121.
121.
Vicinanto tadā dakkhiṃ, dutiyaṃ sīlapāramiṃ;
Pubbakehi mahesīhi, āsevitanisevitaṃ.
While investigating then, I perceived the second perfection, the perfection of virtue, cultivated and practiced by the great sages of old.
Khi tìm kiếm, lúc ấy ta đã thấy Ba-la-mật giới thứ hai; được các bậc Đại sĩ xưa thường xuyên thực hành.
122.
122.
122.
‘‘Imaṃ tvaṃ dutiyaṃ tāva, daḷhaṃ katvā samādiya;
Sīlapāramitaṃ gaccha, yadi bodhiṃ pattumicchasi.
If you wish to attain enlightenment, first make this second perfection firm and undertake it well; go and fulfill the perfection of virtue.
“Nếu ngươi muốn đạt được giác ngộ, thì hãy làm cho pháp thứ hai này vững chắc và thọ trì; hãy thực hành Ba-la-mật giới.
123.
123.
123.
‘‘Yathāpi camarī vālaṃ, kismiñci paṭilaggitaṃ;
Upeti maraṇaṃ tattha, na vikopeti vāladhiṃ.
Just as the cāmarī yak, when its tail is entangled in anything, would rather meet death there than damage its tail,
“Cũng như con bò lông mao (camarī), khi lông đuôi bị vướng vào vật gì; nó thà chịu chết ở nơi ấy, chứ không làm hư hại chùm lông đuôi.”
124.
124.
124.
‘‘Tatheva tvaṃ catūsu bhūmīsu, sīlāni paripūraya;
Parirakkha sabbadā sīlaṃ, camarī viya vāladhiṃ.
So too, you should fulfill the virtues in the four planes; always guard your virtue, as the cāmarī guards its tail.
“Cũng thế, ngươi hãy làm cho viên mãn các giới trong bốn nền tảng; hãy luôn luôn bảo vệ giới hạnh, như con bò lông mao bảo vệ đuôi của nó.”
125.
125.
125.
‘‘Nahete ettakāyeva, buddhadhammā bhavissare;
Aññepi vicinissāmi, ye dhammā bodhipācanā’’.
The qualities of a Buddha cannot be only this many; I shall also investigate other qualities that bring enlightenment to maturity.
“Các pháp đưa đến quả vị Phật không thể chỉ có chừng ấy. Ta sẽ tìm kiếm các pháp khác nữa, là những pháp làm cho Bồ Đề được chín muồi.”
126.
126.
126.
Vicinanto tadā dakkhiṃ, tatiyaṃ nekkhammapāramiṃ;
Pubbakehi mahesīhi, āsevitanisevitaṃ.
While investigating then, I perceived the third perfection, the perfection of renunciation, cultivated and practiced by the great sages of old.
Khi ấy, trong lúc tìm kiếm, ta đã thấy ba-la-mật xuất gia là pháp thứ ba, đã được các bậc Đại sĩ đời trước thường xuyên thực hành và theo đuổi.
127.
127.
127.
‘‘Imaṃ tvaṃ tatiyaṃ tāva, daḷhaṃ katvā samādiya;
Nekkhammapāramitaṃ gaccha, yadi bodhiṃ pattumicchasi.
If you wish to attain enlightenment, first make this third perfection firm and undertake it well; go and fulfill the perfection of renunciation.
“Nếu ngươi mong muốn đạt đến Bồ Đề, trước tiên hãy thực hành ba-la-mật xuất gia này, là pháp thứ ba, bằng cách làm cho vững chắc và thọ trì.”
128.
128.
128.
‘‘Yathā andughare puriso, ciravuttho dukhaṭṭito;
Na tattha rāgaṃ janesi, muttiṃyeva gavesati.
Just as a man who has long dwelt in a prison, afflicted by suffering, generates no attachment for that place but seeks only release,
“Cũng như người ở lâu trong ngục tù, bị đau khổ bức bách; người ấy không sanh lòng tham ái ở nơi đó, mà chỉ tìm cầu sự giải thoát.”
129.
129.
129.
‘‘Tatheva tvaṃ sabbabhave, passa andughare viya;
Nekkhammābhimukho hohi, bhavato parimuttiyā.
So too, you should see all existences as a prison; for the sake of liberation from existence, be one who is intent on renunciation.
“Cũng thế, ngươi hãy xem tất cả các cõi hữu như là ngục tù; vì sự giải thoát khỏi cõi hữu, hãy hướng về sự xuất gia.”
130.
130.
130.
‘‘Nahete ettakāyeva, buddhadhammā bhavissare;
Aññepi vicinissāmi, ye dhammā bodhipācanā’’.
The qualities of a Buddha cannot be only this many; I shall also investigate other qualities that bring enlightenment to maturity.
“Các pháp đưa đến quả vị Phật không thể chỉ có chừng ấy. Ta sẽ tìm kiếm các pháp khác nữa, là những pháp làm cho Bồ Đề được chín muồi.”
131.
131.
131.
Vicinanto tadā dakkhiṃ, catutthaṃ paññāpāramiṃ;
Pubbakehi mahesīhi, āsevitanisevitaṃ.
While investigating then, I perceived the fourth perfection, the perfection of wisdom, cultivated and practiced by the great sages of old.
Khi ấy, trong lúc tìm kiếm, ta đã thấy ba-la-mật trí tuệ là pháp thứ tư, đã được các bậc Đại sĩ đời trước thường xuyên thực hành và theo đuổi.
132.
132.
132.
‘‘Imaṃ tvaṃ catutthaṃ tāva, daḷhaṃ katvā samādiya;
Paññāpāramitaṃ gaccha, yadi bodhiṃ pattumicchasi.
If you wish to attain enlightenment, first make this fourth perfection firm and undertake it well; go and fulfill the perfection of wisdom.
“Nếu ngươi mong muốn đạt đến Bồ Đề, trước tiên hãy thực hành ba-la-mật trí tuệ này, là pháp thứ tư, bằng cách làm cho vững chắc và thọ trì.”
133.
133.
133.
‘‘Yathāpi bhikkhu bhikkhanto, hīnamukkaṭṭhamajjhime;
Kulāni na vivajjento, evaṃ labhati yāpanaṃ.
Just as a bhikkhu, wandering for alms, not avoiding families—whether low, high, or middling—thus obtains sustenance,
“Cũng như vị tỳ khưu trong lúc đi khất thực, không tránh né các gia đình dù là hạ tiện, cao sang, hay trung bình; như thế, vị ấy nhận được vật thực đủ để sống.”
134.
134.
134.
‘‘Tatheva tvaṃ sabbakālaṃ, paripucchaṃ budhaṃ janaṃ;
Paññāpāramitaṃ gantvā, sambodhiṃ pāpuṇissasi.
So too, you, by always questioning the wise, having fulfilled the perfection of wisdom, will attain supreme enlightenment.
“Cũng thế, ngươi hãy luôn luôn hỏi han người có trí; sau khi đã thực hành ba-la-mật trí tuệ, ngươi sẽ đạt đến quả vị Chánh Đẳng Giác.”
135.
135.
135.
‘‘Nahete ettakāyeva, buddhadhammā bhavissare;
Aññepi vicinissāmi, ye dhammā bodhipācanā’’.
The qualities of a Buddha cannot be only this many; I shall also investigate other qualities that bring enlightenment to maturity.
“Các pháp đưa đến quả vị Phật không thể chỉ có chừng ấy. Ta sẽ tìm kiếm các pháp khác nữa, là những pháp làm cho Bồ Đề được chín muồi.”
136.
136.
136.
Vicinanto tadā dakkhiṃ, pañcamaṃ vīriyapāramiṃ;
Pubbakehi mahesīhi, āsevitanisevitaṃ.
While investigating then, I perceived the fifth perfection, the perfection of energy, cultivated and practiced by the great sages of old.
Khi ấy, trong lúc tìm kiếm, ta đã thấy ba-la-mật tinh tấn là pháp thứ năm, đã được các bậc Đại sĩ đời trước thường xuyên thực hành và theo đuổi.
137.
137.
137.
‘‘Imaṃ tvaṃ pañcamaṃ tāva, daḷhaṃ katvā samādiya;
Vīriyapāramitaṃ gaccha, yadi bodhiṃ pattumicchasi.
If you wish to attain enlightenment, first make this fifth perfection firm and undertake it well; go and fulfill the perfection of energy.
“Nếu ngươi mong muốn đạt đến Bồ Đề, trước tiên hãy thực hành ba-la-mật tinh tấn này, là pháp thứ năm, bằng cách làm cho vững chắc và thọ trì.”
138.
138.
138.
‘‘Yathāpi sīho migarājā, nisajjaṭṭhānacaṅkame;
Alīnavīriyo hoti, paggahitamano sadā.
Just as the lion, the king of beasts, whether sitting, standing, or walking, is of unsluggish energy, with a mind ever steadfast,
“Cũng như sư tử, vua của các loài thú, dù trong lúc ngồi, đứng, hay đi kinh hành, luôn có tinh tấn không thối chuyển và có tâm được nâng cao.”
139.
139.
139.
‘‘Tatheva tvaṃ † sabbabhave, paggaṇha vīriyaṃ daḷhaṃ;
Vīriyapāramitaṃ gantvā, sambodhiṃ pāpuṇissasi.
So too, in every existence, firmly exert your energy; having fulfilled the perfection of energy, you will attain supreme enlightenment.
“Cũng thế, ngươi hãy nỗ lực tinh tấn một cách vững chắc trong tất cả các cõi hữu; sau khi đã thực hành ba-la-mật tinh tấn, ngươi sẽ đạt đến quả vị Chánh Đẳng Giác.”
140.
140.
140.
‘‘Nahete ettakāyeva, buddhadhammā bhavissare;
Aññepi vicinissāmi, ye dhammā bodhipācanā’’.
The qualities of a Buddha cannot be only this many; I shall also investigate other qualities that bring enlightenment to maturity.
“Các pháp đưa đến quả vị Phật không thể chỉ có chừng ấy. Ta sẽ tìm kiếm các pháp khác nữa, là những pháp làm cho Bồ Đề được chín muồi.”
141.
141.
141.
Vicinanto tadā dakkhiṃ, chaṭṭhamaṃ khantipāramiṃ;
Pubbakehi mahesīhi, āsevitanisevitaṃ.
While investigating then, I perceived the sixth perfection, the perfection of patience, cultivated and practiced by the great sages of old.
Khi ấy, trong lúc tìm kiếm, ta đã thấy ba-la-mật nhẫn nại là pháp thứ sáu, đã được các bậc Đại sĩ đời trước thường xuyên thực hành và theo đuổi.
142.
142.
142.
‘‘Imaṃ tvaṃ chaṭṭhamaṃ tāva, daḷhaṃ katvā samādiya;
Tattha advejjhamānaso, sambodhiṃ pāpuṇissasi.
First, make this sixth perfection firm and undertake it well; being of undivided mind therein, you will attain supreme enlightenment.
“Trước tiên, ngươi hãy thực hành pháp thứ sáu này bằng cách làm cho vững chắc và thọ trì; với tâm không dao động về pháp ấy, ngươi sẽ đạt đến quả vị Chánh Đẳng Giác.”
143.
143.
143.
‘‘Yathāpi pathavī nāma, sucimpi asucimpi ca;
Sabbaṃ sahati nikkhepaṃ, na karoti paṭighaṃ tayā.
Just as the earth endures everything cast upon it, both the pure and the impure, and shows no aversion,
“Cũng như đất, chịu đựng tất cả những gì được vứt bỏ lên trên, dù là trong sạch hay không trong sạch; và không sanh lòng sân hận vì điều ấy.”
144.
144.
144.
‘‘Tatheva tvampi sabbesaṃ, sammānāvamānakkhamo;
Khantipāramitaṃ gantvā, sambodhiṃ pāpuṇissasi.
So too, you too, being one who endures the respect and disrespect of all, having fulfilled the perfection of patience, will attain supreme enlightenment.
“Cũng thế, ngươi cũng hãy chịu đựng được sự tôn trọng và khinh miệt của tất cả mọi người; sau khi đã thực hành ba-la-mật nhẫn nại, ngươi sẽ đạt đến quả vị Chánh Đẳng Giác.”
145.
145.
145.
‘‘Nahete ettakāyeva, buddhadhammā bhavissare;
Aññepi vicinissāmi, ye dhammā bodhipācanā’’.
The qualities of a Buddha cannot be only this many; I shall also investigate other qualities that bring enlightenment to maturity.
“Các pháp đưa đến quả vị Phật không thể chỉ có chừng ấy. Ta sẽ tìm kiếm các pháp khác nữa, là những pháp làm cho Bồ Đề được chín muồi.”
146.
146.
146.
Vicinanto tadā dakkhiṃ, sattamaṃ saccapāramiṃ;
Pubbakehi mahesīhi, āsevitanisevitaṃ.
While investigating then, I perceived the seventh perfection, the perfection of truth, cultivated and practiced by the great sages of old.
Khi ấy, trong lúc tìm kiếm, ta đã thấy ba-la-mật chân thật là pháp thứ bảy, đã được các bậc Đại sĩ đời trước thường xuyên thực hành và theo đuổi.
147.
147.
147.
‘‘Imaṃ tvaṃ sattamaṃ tāva, daḷhaṃ katvā samādiya;
Tattha advejjhavacano, sambodhiṃ pāpuṇissasi.
First, make this seventh perfection firm and undertake it well; being of speech that is not twofold therein, you will attain supreme enlightenment.
“Trước tiên, ngươi hãy thực hành pháp thứ bảy này bằng cách làm cho vững chắc và thọ trì; với lời nói không hai lòng về pháp ấy, ngươi sẽ đạt đến quả vị Chánh Đẳng Giác.”
148.
148.
148.
‘‘Yathāpi osadhī nāma, tulābhūtā sadevake;
Samaye utuvasse vā, na vokkamati vīthito.
Just as the morning star, a balance for the world with its devas, does not deviate from its path, whether in season or out of season,
“Cũng như sao Hôm, là vật thăng bằng cho thế giới cùng với chư Thiên, dù trong các thời tiết hay trong các mùa, cũng không đi lệch khỏi quỹ đạo của nó.”
149.
149.
149.
‘‘Tatheva tvampi saccesu, mā vokkama hi vīthito;
Saccapāramitaṃ gantvā, sambodhiṃ pāpuṇissasi.
So too, you too, do not deviate from the path of truth; having fulfilled the perfection of truth, you will attain supreme enlightenment.
“Cũng thế, ngươi cũng đừng đi lệch khỏi con đường của sự thật; sau khi đã thực hành ba-la-mật chân thật, ngươi sẽ đạt đến quả vị Chánh Đẳng Giác.”
150.
150.
150.
‘‘Nahete ettakāyeva, buddhadhammā bhavissare;
Aññepi vicinissāmi, ye dhammā bodhipācanā’’.
The qualities of a Buddha cannot be only this many; I shall also investigate other qualities that bring enlightenment to maturity.
“Các pháp đưa đến quả vị Phật không thể chỉ có chừng ấy. Ta sẽ tìm kiếm các pháp khác nữa, là những pháp làm cho Bồ Đề được chín muồi.”
151.
151.
151.
Vicinanto tadā dakkhiṃ, aṭṭhamaṃ adhiṭṭhānapāramiṃ;
Pubbakehi mahesīhi, āsevitanisevitaṃ.
While investigating then, I saw the eighth perfection, the perfection of determination, practiced and frequented by the great seers of the past.
Khi ấy, trong lúc tìm kiếm, ta đã thấy ba-la-mật quyết định là pháp thứ tám, đã được các bậc Đại sĩ đời trước thường xuyên thực hành và theo đuổi.
152.
152.
152.
‘‘Imaṃ tvaṃ aṭṭhamaṃ tāva, daḷhaṃ katvā samādiya;
Tattha tvaṃ acalo hutvā, sambodhiṃ pāpuṇissasi.
First, make this eighth perfection firm and undertake it well; therein, having become unshakable, you will attain perfect enlightenment.
“Trước tiên, ngươi hãy thực hành pháp thứ tám này bằng cách làm cho vững chắc và thọ trì; sau khi đã trở nên không lay chuyển ở nơi pháp ấy, ngươi sẽ đạt đến quả vị Chánh Đẳng Giác.”
153.
153.
153.
‘‘Yathāpi pabbato selo, acalo suppatiṭṭhito;
Na kampati bhusavātehi, sakaṭṭhāneva tiṭṭhati.
“Just as a mountain of rock, unshakable and well-established, does not tremble from fierce winds, but remains in its own place;
“Ví như núi đá vững bền, đứng yên không hề lay chuyển, chẳng hề rung động bởi các ngọn gió mạnh, chỉ đứng yên tại chỗ của mình.”
154.
154.
154.
‘‘Tatheva tvampi adhiṭṭhāne, sabbadā acalo bhava;
Adhiṭṭhānapāramitaṃ gantvā, sambodhiṃ pāpuṇissasi.
“Just so, you too, in your determination, always be unshakable; having fulfilled the perfection of determination, you will attain perfect enlightenment.”
“Cũng thế, ngươi hãy luôn luôn không lay chuyển trong pháp nguyện. Sau khi viên mãn pháp nguyện ba-la-mật, ngươi sẽ chứng đắc quả vị Chánh Đẳng Giác.”
155.
155.
155.
‘‘Nahete ettakāyeva, buddhadhammā bhavissare;
Aññepi vicinissāmi, ye dhammā bodhipācanā’’.
“These will not be the only qualities for Buddhahood; I shall investigate other qualities that ripen for awakening.”
“Các Phật pháp này chắc chắn không chỉ có chừng ấy. Ta sẽ tìm kiếm thêm những pháp khác, những pháp làm cho Bồ-đề được chín muồi.”
156.
156.
156.
Vicinanto tadā dakkhiṃ, navamaṃ mettāpāramiṃ;
Pubbakehi mahesīhi, āsevitanisevitaṃ.
Investigating then, I saw the ninth perfection, the perfection of loving-kindness, practiced and frequented by the great seers of the past.
Khi ấy, trong lúc tìm kiếm, ta đã thấy pháp thứ chín là tâm từ ba-la-mật, đã được các bậc Đại sĩ đời trước thường xuyên thực hành.
157.
157.
157.
‘‘Imaṃ tvaṃ navamaṃ tāva, daḷhaṃ katvā samādiya;
Mettāya asamo hohi, yadi bodhiṃ pattumicchasi.
“If you wish to attain enlightenment, first, having made this ninth perfection firm, undertake it well; be without equal in loving-kindness.
“Nếu ngươi mong muốn chứng đắc Bồ-đề, trước tiên hãy thọ trì pháp thứ chín này một cách vững chắc. Hãy trở thành người không ai sánh bằng về tâm từ.”
158.
158.
158.
‘‘Yathāpi udakaṃ nāma, kalyāṇe pāpake jane;
Samaṃ pharati sītena, pavāheti rajomalaṃ.
“Just as water pervades good and evil people equally with coolness and washes away dust and dirt;
“Ví như nước, lan tỏa sự mát mẻ một cách bình đẳng đến người tốt và kẻ xấu, và cuốn trôi đi bụi bẩn và vết nhơ.”
159.
159.
159.
‘‘Tatheva tvaṃ hitāhite, samaṃ mettāya bhāvaya;
Mettāpāramitaṃ gantvā, sambodhiṃ pāpuṇissasi.
“Just so, you, develop loving-kindness equally towards the beneficial and the unbeneficial; having fulfilled the perfection of loving-kindness, you will attain perfect enlightenment.”
“Cũng thế, ngươi hãy tu tập tâm từ một cách bình đẳng đối với người hữu ích và người không hữu ích. Sau khi viên mãn tâm từ ba-la-mật, ngươi sẽ chứng đắc quả vị Chánh Đẳng Giác.”
160.
160.
160.
‘‘Nahete ettakāyeva, buddhadhammā bhavissare;
Aññepi vicinissāmi, ye dhammā bodhipācanā’’.
“These will not be the only qualities for Buddhahood; I shall investigate other qualities that ripen for awakening.”
“Các Phật pháp này chắc chắn không chỉ có chừng ấy. Ta sẽ tìm kiếm thêm những pháp khác, những pháp làm cho Bồ-đề được chín muồi.”
161.
161.
161.
Vicinanto tadā dakkhiṃ, dasamaṃ upekkhāpāramiṃ;
Pubbakehi mahesīhi, āsevitanisevitaṃ.
Investigating then, I saw the tenth perfection, the perfection of equanimity, practiced and frequented by the great seers of the past.
Khi ấy, trong lúc tìm kiếm, ta đã thấy pháp thứ mười là tâm xả ba-la-mật, đã được các bậc Đại sĩ đời trước thường xuyên thực hành.
162.
162.
162.
‘‘Imaṃ tvaṃ dasamaṃ tāva, daḷhaṃ katvā samādiya;
Tulābhūto daḷho hutvā, sambodhiṃ pāpuṇissasi.
“First, having made this tenth perfection firm, undertake it well; having become balanced and firm, you will attain perfect enlightenment.
“Trước tiên, ngươi hãy thọ trì pháp thứ mười này một cách vững chắc. Sau khi trở nên vững vàng như cái cân, ngươi sẽ chứng đắc quả vị Chánh Đẳng Giác.”
163.
163.
163.
‘‘Yathāpi pathavī nāma, nikkhittaṃ asuciṃ suciṃ;
Upekkhati ubhopete, kopānunayavajjitā.
“Just as the earth is equanimous towards both the impure and the pure that are cast upon it, being devoid of aversion and affection;
“Ví như mặt đất, giữ tâm xả đối với cả hai thứ, vật bất tịnh và vật thanh tịnh được vứt bỏ lên trên, từ bỏ cả sự ghét và thương.”
164.
164.
164.
‘‘Tatheva tvaṃ sukhadukkhe, tulābhūto sadā bhava;
Upekkhāpāramitaṃ gantvā, sambodhiṃ pāpuṇissasi.
“Just so, you too, in pleasure and pain, always be balanced; having fulfilled the perfection of equanimity, you will attain perfect enlightenment.”
“Cũng thế, ngươi hãy luôn luôn như cái cân trong hạnh phúc và đau khổ. Sau khi viên mãn tâm xả ba-la-mật, ngươi sẽ chứng đắc quả vị Chánh Đẳng Giác.”
165.
165.
165.
‘‘Ettakāyeva te loke, ye dhammā bodhipācanā;
Tatuddhaṃ natthi aññatra, daḷhaṃ tattha patiṭṭhaha’’.
“In the world, these are the only qualities that ripen for awakening; beyond them, there is nothing further. Stand firm therein.”
“Ở thế gian, những pháp làm cho Bồ-đề chín muồi chỉ có chừng ấy. Ngoài ra không có gì cao hơn nữa. Hãy an trú vững chắc trong các pháp ấy.”
166.
166.
166.
Ime dhamme sammasato, sabhāvasarasalakkhaṇe;
Dhammatejena vasudhā, dasasahassī pakampatha.
As these qualities were being contemplated with their nature, function, and characteristic, by the power of that Dhamma, the earth of the ten-thousand-world system trembled.
Trong khi vị ấy quán xét các pháp này về tự tánh, phận sự, và tướng trạng, do uy lực của pháp, mặt đất trong mười ngàn thế giới đã rung chuyển.
167.
167.
167.
Calatī ravatī pathavī, ucchuyantaṃva pīḷitaṃ;
Telayante yathā cakkaṃ, evaṃ kampati medanī.
The earth moves and roars, like a sugarcane press being squeezed; just as a wheel in an oil-press, so the earth quakes.
Mặt đất chuyển động và kêu rền, như máy ép mía đang bị ép. Trái đất rung chuyển như bánh xe trong máy ép dầu.
168.
168.
168.
Yāvatā parisā āsi, buddhassa parivesane;
Pavedhamānā sā tattha, mucchitā seti bhūmiyaṃ.
Whatever assembly was at the place of the Buddha's meal, that assembly, trembling and having fainted, lay there upon the ground.
Bao nhiêu hội chúng có mặt tại nơi cúng dường Đức Phật, hội chúng ấy tại nơi đó đều run rẩy, ngất đi, và nằm xuống trên mặt đất.
169.
169.
169.
Ghaṭānekasahassāni, kumbhīnañca satā bahū;
Sañcuṇṇamathitā tattha, aññamaññaṃ paghaṭṭitā.
Many thousands of pots and many hundreds of jars, colliding with one another, were there crushed and smashed to powder.
Tại nơi đó, nhiều ngàn cái bình và nhiều trăm cái vò lớn, va chạm vào nhau, đã bị nghiền nát tan tành.
170.
170.
170.
Ubbiggā tasitā bhītā, bhantā byāthitamānasā;
Mahājanā samāgamma, dīpaṅkaramupāgamuṃ.
Agitated, terrified, and afraid, bewildered and with afflicted minds, the great crowd, having gathered together, approached Dīpaṅkara.
Đám đông dân chúng kinh hãi, hoảng hốt, sợ sệt, bối rối, tâm trí phiền muộn, đã tụ tập lại và đi đến gần Đức Phật Dīpaṅkara.
171.
171.
171.
‘‘Kiṃ bhavissati lokassa, kalyāṇamatha pāpakaṃ;
Sabbo upadduto loko, taṃ vinodehi cakkhuma’’.
“What will become of the world, good or evil? The whole world is afflicted by this disaster; dispel that fear, O One with Vision!”
“Điều gì sẽ xảy ra cho thế gian, điều tốt lành hay điều xấu xa? Toàn thể thế gian đang bị tai họa. Hỡi bậc Thiên Nhãn, xin Ngài hãy xua tan nỗi sợ hãi ấy.”
172.
172.
172.
Tesaṃ tadā saññapesi, dīpaṅkaro mahāmuni;
‘‘Visaṭṭhā hotha mā bhetha †, imasmiṃ pathavikampane.
Then Dīpaṅkara, the great sage, made it known to them: “Be at ease, do not be afraid at this earthquake.
Khi ấy, Đức Đại Mâu-ni Dīpaṅkara đã cho họ biết: “Hãy yên tâm, đừng sợ hãi về trận động đất này.”
173.
173.
173.
‘‘Yamahaṃ ajja byākāsiṃ, buddho loke bhavissati;
Eso sammasati dhammaṃ, pubbakaṃ jinasevitaṃ.
“The one whom I have today declared, ‘He will be a Buddha in the world,’ that one is contemplating the Dhamma frequented by the Jinas of the past.
“Vị mà hôm nay Ta đã thọ ký rằng: ‘Sẽ thành Phật ở thế gian’, vị ấy đang quán xét pháp đã được các bậc Toàn Giác đời trước thực hành.”
174.
174.
174.
‘‘Tassa sammasato dhammaṃ, buddhabhūmiṃ asesato;
Tenāyaṃ kampitā pathavī, dasasahassī sadevake’’.
“As he contemplates the Dhamma, the ground of Buddhahood, completely, for that reason this earth of the ten-thousand-world system, including its devas, has quaked.”
“Trong khi vị ấy quán xét pháp thuộc về Phật địa một cách không còn dư sót, chính vì nguyên nhân ấy mà mặt đất này đã rung chuyển trong mười ngàn thế giới cùng với cõi trời.”
175.
175.
175.
Buddhassa vacanaṃ sutvā, mano nibbāyi tāvade;
Sabbe maṃ upasaṅkamma, punāpi abhivandisuṃ.
Having heard the Buddha's word, their minds were pacified at that very moment. All approached me and paid homage once more.
Sau khi nghe lời của Đức Phật, tâm của họ liền được an tịnh. Tất cả họ đã đến gần ta và lại đảnh lễ một lần nữa.
176.
176.
176.
Samādiyitvā buddhaguṇaṃ, daḷhaṃ katvāna mānasaṃ;
Dīpaṅkaraṃ namassitvā, āsanā vuṭṭhahiṃ tadā.
Having undertaken the qualities for Buddhahood and made my mind firm, I paid homage to Dīpaṅkara and then arose from my seat.
Khi ấy, sau khi thọ trì các Phật pháp, làm cho tâm được vững chắc, và đảnh lễ Đức Phật Dīpaṅkara, ta đã đứng dậy từ chỗ ngồi.
177.
177.
177.
Dibbaṃ mānusakaṃ pupphaṃ, devā mānusakā ubho;
Samokiranti pupphehi, vuṭṭhahantassa āsanā.
Both devas and humans scattered divine and human flowers upon me as I was rising from my seat.
Chư thiên và loài người, cả hai giới, đã tung rải những đóa hoa cõi trời và hoa cõi người lên ta, khi ta đang đứng dậy từ chỗ ngồi.
178.
178.
178.
Vedayanti ca te sotthiṃ, devā mānusakā ubho;
‘‘Mahantaṃ patthitaṃ tuyhaṃ, taṃ labhassu yathicchitaṃ.
Both devas and humans proclaimed a blessing: “May you obtain the great aspiration you have wished for, just as you desire.
Chư thiên và loài người, cả hai giới, cũng nói lên lời chúc phúc: “Nguyện vọng của ngài thật lớn lao. Xin ngài hãy đạt được điều ấy như ý muốn.”
179.
179.
179.
‘‘Sabbītiyo vivajjantu, soko rogo vinassatu;
Mā te bhavantvantarāyā †, phusa khippaṃ bodhimuttamaṃ.
“May all calamities be avoided for you, may sorrow and disease perish. May there be no obstacles for you; quickly attain the supreme enlightenment.”
“Mong mọi tai ương hãy tránh xa ngài, sầu muộn và bệnh tật hãy tiêu tan. Mong đừng có chướng ngại nào đến với ngài, mong ngài hãy mau chóng chứng ngộ quả vị Bồ-đề tối thượng.”
180.
180.
180.
‘‘Yathāpi samaye patte, pupphanti pupphino dumā;
Tatheva tvaṃ mahāvīra, buddhañāṇena pupphasi.
“Just as flowering trees bloom when their season arrives, so too, O Great Hero, may you blossom with the Buddha-knowledge.
“Ví như các loài cây có hoa, khi đến mùa thì trổ hoa; cũng thế, hỡi bậc Đại Hùng, mong ngài hãy nở hoa bằng Phật trí.”
181.
181.
181.
‘‘Yathā ye keci sambuddhā, pūrayuṃ dasa pāramī;
Tatheva tvaṃ mahāvīra, pūraya dasa pāramī.
“Just as all Perfectly Enlightened Ones fulfilled the ten perfections, so too, O Great Hero, fulfill the ten perfections.
“Ví như tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác đã viên mãn mười pháp ba-la-mật; cũng thế, hỡi bậc Đại Hùng, mong ngài hãy viên mãn mười pháp ba-la-mật.”
182.
182.
182.
‘‘Yathā ye keci sambuddhā, bodhimaṇḍamhi bujjhare;
Tatheva tvaṃ mahāvīra, bujjhassu jinabodhiyaṃ.
“Just as all Perfectly Enlightened Ones awakened at the seat of enlightenment, so too, O Great Hero, may you awaken at the Conqueror's Bodhi-tree.
“Ví như tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác đã giác ngộ tại Bồ-đề đoàn; cũng thế, hỡi bậc Đại Hùng, mong ngài hãy giác ngộ tại cây Bồ-đề của bậc Toàn Giác.”
183.
183.
183.
‘‘Yathā ye keci sambuddhā, dhammacakkaṃ pavattayuṃ;
Tatheva tvaṃ mahāvīra, dhammacakkaṃ pavattaya.
“Just as all Perfectly Enlightened Ones set in motion the Wheel of Dhamma, so too, O Great Hero, set in motion the Wheel of Dhamma.
“Như thế nào các vị Chánh Đẳng Giác đã chuyển vận bánh xe Pháp; cũng như thế ấy, hỡi bậc Đại Hùng, ngài hãy chuyển vận bánh xe Pháp.”
184.
184.
184.
‘‘Puṇṇamāye yathā cando, parisuddho virocati;
Tatheva tvaṃ puṇṇamano, viroca dasasahassiyaṃ.
“Just as the moon on the full-moon day, being pure, shines, so too, you, with a full mind, shine forth in the ten-thousand-world system.
“Như thế nào mặt trăng hoàn toàn trong sạch tỏa sáng vào ngày rằm; cũng như thế ấy, với tâm ý viên mãn, ngài hãy tỏa sáng trong mười ngàn thế giới.”
185.
185.
185.
‘‘Rāhumutto yathā sūriyo, tāpena atirocati;
Tatheva lokā muñcitvā, viroca siriyā tuvaṃ.
“Just as the sun, freed from Rāhu, shines exceedingly with its radiance, so too, you, being freed from the world, shine forth with glory.
“Như thế nào mặt trời được giải thoát khỏi Rāhu tỏa sáng rực rỡ với ánh quang; cũng như thế ấy, sau khi được giải thoát khỏi thế gian, ngài hãy tỏa sáng với vẻ huy hoàng.”
186.
186.
186.
‘‘Yathā yā kāci nadiyo, osaranti mahodadhiṃ;
Evaṃ sadevakā lokā, osarantu tavantike’’.
“Just as all rivers flow into the great ocean, so may the worlds with their devas resort to your presence.”
“Như thế nào tất cả các con sông đều chảy vào đại dương; cũng như thế ấy, mong rằng các chúng sanh cùng với chư Thiên hãy đến nơi ngài.”
187.
187.
187.
Tehi thutappasattho so, dasa dhamme samādiya;
Te dhamme paripūrento, pavanaṃ pāvisī tadāti.
He, praised and lauded by them, having undertaken the ten qualities, and wishing to fulfill those qualities, then entered the forest.
Khi ấy, vị ấy được họ tán dương ca tụng, sau khi thọ trì mười pháp (Ba-la-mật), với mong muốn làm cho viên mãn các pháp ấy, đã đi vào khu rừng.
The Discourse on the Aspiration of Sumedha is concluded.
Câu chuyện về lời phát nguyện của Sumedha đã kết thúc.