Bản dịch
BV 28 — Chương Tổng Hợp về Chư Phật
28. Buddhapakiṇṇakakaṇḍa
Inda-bh 1Vô lượng kiếp trước đây, đã có bốn bậc Hướng Đạo là Taṇhaṅkara, Medhaṅkara, cùng với Saraṇaṅkara, và đấng Toàn Giác Dīpaṅkara. Các đấng Chiến Thắng ấy là thuộc về chung một kiếp.
Inda-bh 2Sau (đức Phật) Dīpaṅkara, có bậc Lãnh Đạo tên là Koṇḍañña. Chỉ một mình trong một kiếp, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 3(Số lượng) các kiếp ở vào khoảng giữa của hai vị này, (tức là) đức Thế Tôn Dīpaṅkara và đấng Đạo Sư Koṇḍañña, là không thể đếm được theo cách thức tính toán.
Inda-bh 4Sau (đức Phật) Koṇḍañña, có bậc Lãnh Đạo tên là Maṅgala. (Số lượng) các kiếp ở vào khoảng giữa của hai vị này cũng là không thể đếm được theo cách thức tính toán.
Inda-bh 5Maṅgala, Sumana, Revata, và bậc Hiền Triết Sobhita, các đức Phật, các bậc Hữu Nhãn, các đấng Quanh Minh ấy cũng ở vào một kiếp.
Inda-bh 6Sau (đức Phật) Sobhita là vị Anomadassī có danh tiếng vĩ đại. (Số lượng) các kiếp ở vào khoảng giữa của hai vị ấy cũng là không thể đếm được theo cách thức tính toán.
Inda-bh 7Anomadassī, Paduma, luôn cả bậc Lãnh Đạo Nārada, các đức Phật, các đấng chấm dứt bóng đêm, các bậc Hiền Triết ấy cũng ở vào một kiếp.
Inda-bh 8Sau (đức Phật) Nārada, có bậc Lãnh Đạo tên là Padumuttara. Được sanh lên (riêng biệt) trong một kiếp, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 9(Số lượng) các kiếp ở vào khoảng giữa của hai vị ấy, (tức là) đức Thế Tôn Nārada và đấng Đạo Sư Padumuttara, cũng là không thể đếm được theo cách thức tính toán.
Inda-bh 10Một trăm ngàn kiếp (trước đây) đã có một bậc Đại Hiền Triết, đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, là vị thọ lãnh các vật cúng dường.
Inda-bh 11Ba chục ngàn kiếp sau (đức Phật) Padumuttara, đã có hai bậc Hướng Đạo là Sumedha và Sujāta.
Inda-bh 12Mười tám trăm (một ngàn tám trăm) kiếp (trước đây), vào sau (thời đức Phật) Sujāta, đã có ba bậc Hướng Đạo là các bậc Lãnh Đạo Piyadassī, Atthadassī, và Dhammadassī; (các vị ấy) là các bậc Toàn Giác, là các đấng Tối Thượng Nhân.
Inda-bh 13Chín mươi bốn kiếp trước đây, đã có một bậc Đại Hiền Triết. Vị ấy là đấng Hiểu Biết Thế Gian Siddhattha, sâu sắc, và vô thượng.
Inda-bh 14Chín mươi hai kiếp trước đây, đã có hai bậc Hướng Đạo. Tissa và đấng Toàn Giác Phussa là không kẻ sánh bằng, không người đối thủ.
Inda-bh 15Chín mươi mốt kiếp trước đây, (đã có) đấng Lãnh Đạo tên là Vipassī. Đức Phật ấy cũng là đấng Bi Mẫn đã giải thoát chúng sanh khỏi sự trói buộc.
Inda-bh 16Ba mươi mốt kiếp trước đây, đã có hai bậc Hướng Đạo. Sikhī và luôn cả Vessabhū là không kẻ sánh bằng, không người đối thủ.
Inda-bh 17Trong kiếp Bhadda này đã có ba bậc Hướng Đạo là Kakusandha, Koṇāgamana, và luôn cả vị Lãnh Đạo Kassapa. Hiện nay, ta là đấng Toàn Giác và cũng sẽ có vị Metteyya nữa.
Inda-bh 18Cả năm vị Phật này là các bậc thông thái và là những vị có lòng thương xót thế gian. Sau khi chỉ ra Đạo Lộ ấy của các đấng Pháp Vương này cho vô số koṭi người khác, các vị ấy đã Niết Bàn cùng với các vị Thinh Văn.
Dứt Chương Tổng Hợp về Chư Phật.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
28. The Miscellaneous Section on the Buddhas.
28. Chương Tạp Lục về các vị Phật.
1.
1.
1.
Aparimeyyito kappe, caturo āsuṃ vināyakā;
Taṇhaṅkaro medhaṅkaro, athopi saraṇaṅkaro;
Dīpaṅkaro ca sambuddho, ekakappamhi te jinā.
In an incalculable aeon from this one, there were four Leaders: Taṇhaṅkara, Medhaṅkara, and also Saraṇaṅkara, and Dīpaṅkara the Fully Enlightened One. Those Conquerors arose in a single aeon.
Vô số kiếp về trước, có bốn vị Đạo Sư: Taṇhaṅkara, Medhaṅkara, và cả Saraṇaṅkara, cùng với Dīpaṅkara, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Các vị Toàn Giác ấy đã xuất hiện trong cùng một kiếp.
2.
2.
2.
Dīpaṅkarassa aparena, koṇḍañño nāma nāyako;
Ekova ekakappamhi, tāresi janataṃ bahuṃ.
After Dīpaṅkara, a Leader named Koṇḍañña, the only one in a single aeon, ferried many people across.
Sau đức Phật Dīpaṅkara, có vị Đạo Sư tên là Koṇḍañña. Ngài là vị duy nhất trong một kiếp, đã giúp nhiều chúng sanh được vượt thoát.
3.
3.
3.
Dīpaṅkarassa bhagavato, koṇḍaññassa ca satthuno;
Etesaṃ antarā kappā, gaṇanāto asaṅkhiyā.
Between the Blessed One Dīpaṅkara and the Teacher Koṇḍañña, the intervening aeons are incalculable by counting.
Giữa đức Thế Tôn Dīpaṅkara và đức Đạo Sư Koṇḍañña, số kiếp ở khoảng giữa không thể đếm được.
4.
4.
4.
Koṇḍaññassa aparena, maṅgalo nāma nāyako;
Tesampi antarā kappā, gaṇanāto asaṅkhiyā.
After Koṇḍañña, a Leader named Maṅgala arose. Between them also, the aeons are incalculable by counting.
Sau đức Phật Koṇḍañña, có vị Đạo Sư tên là Maṅgala. Giữa hai vị ấy, số kiếp cũng không thể đếm được.
5.
5.
5.
Maṅgalo ca sumano ca, revato sobhito muni;
Tepi buddhā ekakappe, cakkhumanto pabhaṅkarā.
Maṅgala, Sumana, Revata, and the sage Sobhita; those Buddhas, endowed with vision and makers of light, also arose in a single aeon.
Maṅgala, Sumana, Revata, và Sobhita là các bậc ẩn sĩ. Các vị Phật ấy, những bậc có tuệ nhãn, những người tạo ra ánh sáng, đã xuất hiện trong cùng một kiếp.
6.
6.
6.
Sobhitassa aparena, anomadassī mahāyaso;
Tesampi antarā kappā, gaṇanāto asaṅkhiyā.
After Sobhita, Anomadassī of great fame arose. Between them also, the aeons are incalculable by counting.
Sau đức Phật Sobhita là đức Anomadassī, bậc có danh tiếng lớn. Giữa hai vị ấy, số kiếp cũng không thể đếm được.
7.
7.
7.
Anomadassī padumo, nārado cāpi nāyako;
Tepi buddhā ekakappe, tamantakārakā munī.
Anomadassī, Paduma, and also the Leader Nārada; those Buddhas, sages who made an end to darkness, also arose in a single aeon.
Anomadassī, Paduma, và cả Nārada là các vị Đạo Sư. Các vị Phật ấy, những bậc ẩn sĩ đã chấm dứt bóng tối, đã xuất hiện trong cùng một kiếp.
8.
8.
8.
Nāradassa aparena, padumuttaro nāma nāyako;
Ekakappamhi uppanno, tāresi janataṃ bahuṃ.
After Nārada, a Leader named Padumuttara arose in a single aeon; he ferried many people across.
Sau đức Phật Nārada, có vị Đạo Sư tên là Padumuttara. Ngài đã xuất hiện trong một kiếp và đã giúp nhiều chúng sanh được vượt thoát.
9.
9.
9.
Nāradassa bhagavato, padumuttarassa satthuno;
Tesampi antarā kappā, gaṇanāto asaṅkhiyā.
Between the Blessed One Nārada and the Teacher Padumuttara, the intervening aeons are also incalculable by counting.
Giữa đức Thế Tôn Nārada và đức Đạo Sư Padumuttara, số kiếp ở khoảng giữa cũng không thể đếm được.
10.
10.
10.
Kappasatasahassamhi, eko āsi mahāmuni;
Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho.
One hundred thousand aeons ago, there was one Great Sage: Padumuttara, the Knower of the Worlds, worthy of receiving offerings.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, có một vị Đại Ẩn Sĩ duy nhất. Ngài là Padumuttara, bậc Thông Tỏ Thế Gian, xứng đáng nhận lễ vật.
11.
11.
11.
Tiṃsakappasahassamhi, duve āsuṃ vināyakā †;
Sumedho ca sujāto ca, orato padumuttarā.
Thirty thousand aeons after Padumuttara, there were two Leaders: Sumedha and Sujāta.
Cách đây ba mươi ngàn kiếp, sau đức Phật Padumuttara, có hai vị Đạo Sư là Sumedha và Sujāta.
12.
12.
12.
Aṭṭhārase kappasate, tayo āsuṃ vināyakā †;
Piyadassī atthadassī, dhammadassī ca nāyakā.
Eighteen hundred aeons ago, there were three Leaders: Piyadassī, Atthadassī, and Dhammadassī.
Cách đây một ngàn tám trăm kiếp, có ba vị Đạo Sư: Piyadassī, Atthadassī, và Dhammadassī là các vị Đạo Sư.
13.
13.
13.
Orato ca sujātassa, sambuddhā dvipaduttamā;
Ekakappamhi te buddhā, loke appaṭipuggalā.
And after Sujāta, in a single aeon, those Fully Enlightened Ones, supreme among two-footed beings, those peerless Buddhas, arose in the world.
Sau đức Phật Sujāta, các vị Chánh Đẳng Chánh Giác, bậc tối thượng trong loài hai chân, đã xuất hiện. Các vị Phật ấy, những bậc vô song trong thế gian, đã xuất hiện trong cùng một kiếp.
14.
14.
14.
Catunnavutito kappe, eko āsi mahāmuni;
Siddhattho so lokavidū, sallakatto anuttaro.
Ninety-four aeons from this one, there was one Great Sage: that Siddhattha, the Knower of the Worlds, the unsurpassed Extractor of the Dart.
Cách đây chín mươi bốn kiếp, có một vị Đại Ẩn Sĩ duy nhất. Ngài là Siddhattha, bậc Thông Tỏ Thế Gian, người nhổ lên mũi tên, bậc vô thượng.
15.
15.
15.
Dvenavute ito kappe, duve āsuṃ vināyakā;
Tisso phusso ca sambuddhā, asamā appaṭipuggalā.
Ninety-two aeons from this one, there were two Leaders: Tissa and Phussa, the Fully Enlightened, unequalled, and peerless Ones.
Cách đây chín mươi hai kiếp, có hai vị Đạo Sư. Tissa và Phussa là các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, không ai sánh bằng, không ai đối thủ.
16.
16.
16.
Ekanavutito kappe, vipassī nāma nāyako;
Sopi buddho kāruṇiko, satte mocesi bandhanā.
Ninety-one aeons from this one, a Leader named Vipassī arose. That compassionate Buddha liberated beings from bondage.
Cách đây chín mươi mốt kiếp, có vị Đạo Sư tên là Vipassī. Vị Phật ấy, bậc có lòng bi mẫn, đã giải thoát chúng sanh khỏi mọi ràng buộc.
17.
17.
17.
Ekatiṃse ito kappe, duve āsuṃ vināyakā;
Sikhī ca vessabhū ceva, asamā appaṭipuggalā.
Thirty-one aeons from this one, there were two Leaders: Sikhī and Vessabhū, the unequalled and peerless Ones.
Cách đây ba mươi mốt kiếp, có hai vị Lãnh Đạo, là đức Phật Sikhī và đức Phật Vessabhū, là những bậc vô song, không ai sánh bằng, đã xuất hiện.
18.
18.
18.
Imamhi bhaddake kappe, tayo āsuṃ vināyakā;
Kakusandho koṇāgamano, kassapo cāpi nāyako.
In this auspicious aeon, there have been three Leaders: Kakusandha, Koṇāgamana, and also the Leader Kassapa.
Trong kiếp hiền thiện này, có ba vị Lãnh Đạo đã xuất hiện: đức Phật Kakusandha, đức Phật Koṇāgamana, và đức Phật Kassapa.
19.
19.
19.
Ahametarahi sambuddho, metteyyo cāpi hessati;
Etepime pañca buddhā, dhīrā lokānukampakā.
I am now the Fully Enlightened One, and Metteyya will also come to be. These five Buddhas are steadfast and compassionate towards the world.
Hiện nay, Ta là bậc Chánh Đẳng Giác, và đức Phật Metteyya cũng sẽ xuất hiện. Năm vị Phật này là những bậc hiền trí, có lòng bi mẫn đối với thế gian.
20.
20.
20.
Etesaṃ dhammarājūnaṃ, aññesaṃnekakoṭinaṃ;
Ācikkhitvāna taṃ maggaṃ, nibbutā te sasāvakāti.
Having declared that path, those Kings of Dhamma and countless others attained Nibbāna together with their disciples.
Sau khi đã chỉ dạy con đường ấy của các vị Pháp Vương này và của vô số các vị khác, các Ngài cùng với các vị đệ tử đã nhập Niết-bàn.
The Miscellaneous Section on the Buddhas is concluded.
Phẩm Tạp Lục về Chư Phật đã kết thúc.