Bản dịch
BV 27 — Lịch Sử Đức Phật Gotama
27. Gotamabuddhavaṁsa
Inda-bh 1Sau khi ra sức nỗ lực, ta đã đạt được quả vị Toàn Giác tối thượng trở thành đấng Toàn Giác Gotama trong thời hiện tại và là sự vinh hiển của dòng họ Sākya (Thích Ca).
Inda-bh 2Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, ta đã chuyển vận bánh xe Chánh Pháp. Đã có sự lãnh hội lần thứ nhất là của mười tám koṭi (một trăm tám chục triệu) vị.
Inda-bh 3Sau đó vào dịp khác, trong khi đang thuyết giảng ở cuộc tụ hội của loài người và chư thiên, đã có sự lãnh hội lần thứ nhì là không thể nói được bằng cách tính đếm.
Inda-bh 4Trong thời hiện tại, ta đã giáo giới người con trai của ta ngay ở nơi đây; đã có sự lãnh hội lần thứ ba là không thể nói được bằng cách tính đếm.
Inda-bh 5Ta đã có một lần tụ hội gồm các vị Thinh Văn đại ẩn sĩ. Đã có cuộc hội tụ của một ngàn hai trăm năm chục vị tỳ khưu.
Inda-bh 6Sáng chói không ô nhiễm ở giữa hội chúng tỳ khưu, ta đã ban phát tất cả các điều đã được mong mỏi, tương tợ như ngọc ma-ni ban cho mọi điều ước muốn.
Inda-bh 7Vì lòng thương thưởng chúng sanh, ta đã giảng giải bốn Chân Lý đến những người tầm cầu sự dứt bỏ lòng mong muốn tái sanh và đang ước ao (Thánh) Quả.
Inda-bh 8Đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của chục ngàn, hai chục ngàn. Sự lãnh hội của một hoặc hai người là không thể đếm được theo cách thức tính toán.
Inda-bh 9Ở đây, giáo lý của ta, của đấng Hiền Triết dòng Sākya, là khéo được thanh lọc, phổ biến đến nhiều người, có kết quả, phong phú, đã được nở rộ bông hoa.
Inda-bh 10Hàng trăm vị tỳ khưu, không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm thanh tịnh, định tĩnh; tất cả luôn quây quần xung quanh ta.
Inda-bh 11Giờ đây trong thời hiện tại, những vị nào buông bỏ sự tái sanh trong cõi người (nhưng) tâm ý chưa đạt,2 (còn) là các bậc Hữu Học, những vị tỳ khưu ấy bị bậc trí chê trách.
Inda-bh 12Những người ca ngợi đạo lộ của các bậc Thánh Nhân, luôn luôn thỏa thích trong Giáo Pháp, có niệm, là những người sẽ được giác ngộ dầu còn bị xuôi giòng chảy luân hồi.
Inda-bh 13Thành phố của ta là Kapilavatthu, người cha là đức vua Suddhodana, người mẹ sanh ra ta gọi là “Hoàng Hậu Māyā.”
Inda-bh 14Ta đã sống đời sống gia đình trong hai mươi chín năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Ramma, Suramma, Subhaka.
Inda-bh 15Có bốn mươi ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Bhaddakaccānā. Con trai tên là Rāhula.
Inda-bh 16Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, Ta đã ra đi bằng phương tiện ngựa và đã thực hành hạnh nỗ lực trong sáu năm là việc khó thực hành được.
Inda-bh 17Ta là bậc Toàn Giác Gotama, đấng Chiến Chắng, đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) tại Isipatana, thành Bārāṇasī, và là nơi nương nhờ của tất cả chúng sanh.
Inda-bh 18Hai vị tỳ khưu Kolita và Upatissa là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda luôn hiện diện bên cạnh ta.
Inda-bh 19Tỳ khưu ni Khemā và Uppalavaṇṇā là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Citta và Haṭṭhāḷavaka là (hai) nam cư sĩ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 20Nandamātā và Uttarā là (hai) nữ cư sĩ thí chủ hộ độ hàng đầu. Ta đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng ở cội cây Assattha.
Inda-bh 21Ánh sáng hào quang của ta luôn luôn vươn cao mười sáu cánh tay (8 mét). Vào thời hiện tại của ta lúc bấy giờ, tuổi thọ được biết là ít ỏi (chỉ) một trăm năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, ta đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 22Sau khi thiết lập ngọn đuốc Chánh Pháp và sự giác ngộ cho chúng sanh sau này, cũng chẳng bao lâu nữa ta cùng với hội chúng Thinh Văn sẽ Viên Tịch Niết Bàn ở ngay tại nơi này, như là ngọn lửa cạn nguồn nhiên liệu.
Inda-bh 23Các oai lực vô song ấy,1 mười lực và các thần thông này, và đây là cơ thể chứa đựng các đức hạnh được tô điểm với ba hai tướng trạng cao quý.
Inda-bh 24Sau khi chiếu sáng khắp mười phương tợ như mặt trời với các hào quang sáu loại, tất cả sẽ hoàn toàn biết mất; phải chăng tất cả các hành là trống không?
Lịch sử đức Phật Gotama là phần thứ hai mươi lăm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Ahametarahi sambuddho †, gotamo sakyavaḍḍhano;
Padhānaṃ padahitvāna, patto sambodhimuttamaṃ.
I, at this time, am the Perfectly Enlightened One, Gotama, who brings increase to the Sakyans; having undertaken the striving, I have attained supreme enlightenment.
Bây giờ, Ta là bậc Chánh Đẳng Giác, tên Gotama, người làm tăng trưởng dòng Sakya. Sau khi đã nỗ lực tinh tấn, Ta đã đạt đến sự giác ngộ tối thượng.
2.
2.
2.
Brahmunā yācito santo, dhammacakkaṃ pavattayiṃ;
Aṭṭhārasannaṃ koṭīnaṃ, paṭhamābhisamayo ahu.
Being requested by Brahmā, I, being at peace, set the Wheel of Dhamma in motion; the first penetration of the truth occurred for eighteen koṭis of devas and brahmās.
Được Phạm thiên thỉnh cầu, bậc Tịch Tĩnh, Ta đã chuyển Pháp luân. Khi ấy, sự chứng ngộ đầu tiên đã xảy ra cho mười tám koṭi chúng sanh.
3.
3.
3.
Tato parañca desente, naradevasamāgame;
Gaṇanāya na vattabbo, dutiyābhisamayo ahu.
Then, on a later occasion, while teaching in an assembly of humans and devas, the second penetration of the truth was incalculable by number.
Sau đó nữa, khi Ta thuyết giảng trong cuộc hội họp của người và trời, sự chứng ngộ thứ hai đã xảy ra cho vô số chúng sanh, không thể nói bằng số đếm.
4.
4.
4.
Idhevāhaṃ etarahi, ovadiṃ mama atrajaṃ;
Gaṇanāya na vattabbo, tatiyābhisamayo ahu.
Right here in Kapilavatthu, at this time, when I admonished my son, the third penetration of the truth for devas and humans was incalculable by number.
Bây giờ, chính tại đây, khi Ta giáo huấn con trai của Ta, sự chứng ngộ thứ ba đã xảy ra cho vô số chúng sanh, không thể nói bằng số đếm.
5.
5.
5.
Ekosi sannipāto me, sāvakānaṃ mahesinaṃ;
Aḍḍhateḷasasatānaṃ, bhikkhūnāsi samāgamo.
There was only one assembly of my disciples, the great seers; in that gathering, there was an assembly of twelve hundred and fifty bhikkhus.
Chỉ có một cuộc hội họp của các Thinh văn của Ta, những bậc Đại Sĩ. Đó là cuộc hội họp của một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ-khưu.
6.
6.
6.
Virocamāno vimalo, bhikkhusaṅghassa majjhago;
Dadāmi patthitaṃ sabbaṃ, maṇīva sabbakāmado.
Shining and stainless in the midst of the Saṅgha of bhikkhus, like a wish-fulfilling gem that grants all desires, I give all that is wished for.
Tỏa sáng, không tỳ vết, ở giữa Tăng chúng tỳ-khưu, Ta ban cho tất cả những gì được mong cầu, như ngọc maṇi ban cho mọi điều ước muốn.
7.
7.
7.
Phalamākaṅkhamānānaṃ, bhavacchandajahesinaṃ;
Catusaccaṃ pakāsemi, anukampāya pāṇinaṃ.
For those desiring the fruit, for those wishing to abandon the craving for existence, I proclaim the Four Truths out of compassion for beings.
Với lòng bi mẫn đối với chúng sanh, Ta tuyên thuyết Tứ diệu đế cho những người mong muốn Thánh quả, những người muốn từ bỏ ái dục trong các cõi.
8.
8.
8.
Dasavīsasahassānaṃ, dhammābhisamayo ahu;
Ekadvinnaṃ abhisamayo, gaṇanāto asaṅkhiyo.
In the proclamation of the Four Truths, the penetration of the Dhamma occurred for thirty thousand beings; for individuals, the penetrations were incalculable by number.
Sự chứng ngộ Pháp đã xảy ra cho ba mươi ngàn chúng sanh. Sự chứng ngộ của từng người hay hai người thì không thể đếm được về số lượng.
9.
9.
9.
Vitthārikaṃ bāhujaññaṃ, iddhaṃ phītaṃ suphullitaṃ;
Idha mayhaṃ sakyamunino, sāsanaṃ suvisodhitaṃ.
Here, this Dispensation of me, the Sage of the Sakyans, will be widespread, known to many, powerful, prosperous, flourishing, and well-purified.
Ở đây, giáo pháp của Ta, bậc Thích Ca Mâu Ni, hoàn toàn thanh tịnh, lan rộng, được nhiều người biết đến, thịnh vượng, phát triển, và nở rộ.
10.
10.
10.
Anāsavā vītarāgā, santacittā samāhitā;
Bhikkhūnekasatā sabbe, parivārenti maṃ sadā.
Taintless, free from lust, with peaceful minds, and concentrated—all the many hundreds of bhikkhus always surround me.
Tất cả các vị tỳ-khưu, nhiều trăm vị, không còn lậu hoặc, ly tham, tâm tịch tịnh, định tĩnh, luôn luôn hầu cận Ta.
11.
11.
11.
Idāni ye etarahi, jahanti mānusaṃ bhavaṃ;
Appattamānasā sekhā, te bhikkhū viññugarahitā.
Now, at this time, whatever bhikkhus who are trainees, not having yet attained their goal, abandon human existence—those bhikkhus are censured by the wise.
Ngay bây giờ, những vị tỳ-khưu nào là bậc hữu học, tâm chưa đạt đến (A-la-hán), mà từ bỏ sự tồn tại của con người, những vị tỳ-khưu ấy bị người trí quở trách.
12.
12.
12.
Ariyañca saṃthomayantā, sadā dhammaratā janā;
Bujjhissanti satimanto, saṃsārasaritaṃ gatā.
Praising the Noble Path, people who always delight in the Dhamma, being mindful, though they have gone into the river of saṃsāra, will awaken to the truth.
Những người đã đi vào dòng sông luân hồi, có chánh niệm, luôn hoan hỷ trong Pháp, và tán thán con đường Thánh, sẽ giác ngộ.
13.
13.
13.
Nagaraṃ kapilavatthu me, rājā suddhodano pitā;
Mayhaṃ janettikā mātā, māyādevīti vuccati.
My city is named Kapilavatthu, the king Suddhodana is my father; my birth mother is called Māyādevī.
Thành phố của Ta là Kapilavatthu, vua Suddhodana là cha Ta. Mẹ ruột của Ta được gọi là Māyādevī.
14.
14.
14.
Ekūnatiṃsavassāni, agāraṃ ajjhahaṃ vasiṃ;
Rammo surammo subhako, tayo pāsādamuttamā.
For twenty-nine years, I lived the household life; Ramma, Suramma, and Subha were my three excellent palaces.
Ta đã sống trong cung điện suốt hai mươi chín năm; có ba tòa lâu đài tuyệt hảo là Rammo, Surammo, và Subhako.
15.
15.
15.
Cattārīsasahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Bhaddakañcanā nāma nārī, rāhulo nāma atrajo.
There were forty thousand well-adorned women. The chief consort was named Bhaddakañcanā, and the son was named Rāhula.
Có bốn mươi ngàn cung nữ được trang điểm lộng lẫy; người vợ tên là Bhaddakañcanā, người con trai tên là Rāhula.
16.
16.
16.
Nimitte caturo disvā, assayānena nikkhamiṃ;
Chabbassaṃ padhānacāraṃ, acariṃ dukkaraṃ ahaṃ.
Having seen the four signs, I went forth by means of a horse-vehicle; for six years I practiced the difficult striving.
Sau khi nhìn thấy bốn điềm báo, ta đã xuất gia bằng xe ngựa; ta đã thực hành khổ hạnh trong sáu năm.
17.
17.
17.
Bārāṇasiyaṃ isipatane, cakkaṃ pavattitaṃ mayā;
Ahaṃ gotamasambuddho, saraṇaṃ sabbapāṇinaṃ.
At Isipatana in Bārāṇasī, the Wheel was set in motion by me. I am Gotama the Perfectly Enlightened One, a refuge for all beings.
Tại Isipatana ở Bārāṇasī, ta đã chuyển Pháp luân; ta là đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác Gotama, là nơi nương tựa cho tất cả chúng sanh.
18.
18.
18.
Kolito upatisso ca, dve bhikkhū aggasāvakā;
Ānando nāmupaṭṭhāko, santikāvacaro mama;
Kolita and Upatissa were the two monks, the chief disciples. Ānanda will be the name of my attendant, who is ever in my presence.
Kolita và Upatissa là hai vị Tỳ khưu Thượng thủ Thinh văn; vị thị giả tên là Ānanda, người thường ở gần bên ta;
Khemā uppalavaṇṇā ca, bhikkhunī aggasāvikā.
Khemā and Uppalavaṇṇā were the chief female disciples.
Khemā và Uppalavaṇṇā là hai vị Tỳ khưu ni Thượng thủ Thinh văn.
19.
19.
19.
Citto hatthāḷavako ca, aggupaṭṭhākupāsakā;
Nandamātā ca uttarā, aggupaṭṭhikupāsikā.
Citta and Hatthāḷavaka were the chief male lay attendants; Nandamātā and Uttarā were the chief female lay attendants.
Citta và Hatthāḷavaka là hai nam cư sĩ hộ độ hàng đầu; Nandamātā và Uttarā là hai nữ cư sĩ hộ độ hàng đầu.
20.
20.
20.
Ahaṃ assatthamūlamhi, patto sambodhimuttamaṃ;
Byāmappabhā sadā mayhaṃ, soḷasahatthamuggatā.
I attained supreme enlightenment at the foot of the Assattha tree. My fathom-wide radiance is ever-present, and I am sixteen cubits in height.
Ta đã đạt được tuệ giác tối thượng dưới cội cây Assattha; hào quang của ta luôn tỏa rộng một tầm, và thân ta cao mười sáu hắc-tay.
21.
21.
21.
Appaṃ vassasataṃ āyu, idānetarahi vijjati;
Tāvatā tiṭṭhamānohaṃ, tāremi janataṃ bahuṃ.
Now, at this time, the lifespan is a mere one hundred years. Remaining for that long, I ferry many people across.
Hiện nay, tuổi thọ chỉ còn một trăm năm ngắn ngủi; trong khi còn tại thế, ta giúp cho nhiều chúng sanh được vượt thoát.
22.
22.
22.
Ṭhapayitvāna dhammukkaṃ, pacchimaṃ janabodhanaṃ;
Ahampi nacirasseva, saddhiṃ sāvakasaṅghato;
Idheva parinibbissaṃ, aggī vāhārasaṅkhayā.
Having established the torch of the Dhamma for the awakening of future generations, I too, not long from now, together with the assembly of disciples, will attain Parinibbāna right here, like a fire upon the exhaustion of its fuel.
Sau khi đã dựng lên ngọn đuốc Chánh pháp để soi sáng cho thế hệ mai sau, chẳng bao lâu nữa ta cùng với hội chúng Thinh văn sẽ nhập Niết-bàn ngay tại đây, giống như ngọn lửa tắt khi hết nhiên liệu.
23.
23.
23.
Tāni ca atulatejāni, imāni ca dasabalāni †;
Ayañca guṇadhāraṇo deho, dvattiṃsavaralakkhaṇavicitto.
And those incomparable powers, and these ten powers, and this body which is a bearer of virtues, adorned with the thirty-two excellent marks—
Những oai lực vô song ấy, mười năng lực này, và thân thể mang các phẩm hạnh này, được trang hoàng với ba mươi hai tướng tốt của bậc vĩ nhân.
24.
24.
24.
Dasa disā pabhāsetvā, sataraṃsīva chappabhā;
Sabbaṃ tamantarahissanti, nanu rittā sabbasaṅkhārāti.
Having illuminated the ten directions with the six-hued radiance like the sun, all that will disappear. Are not all conditioned things indeed empty?
Sáu luồng hào quang, chiếu sáng mười phương như mặt trời, tất cả những thứ ấy sẽ biến mất. Quả thật, tất cả các pháp hữu vi đều trống rỗng!
The twenty-fifth chronicle of the Blessed One Gotama.
Phần thứ hai mươi lăm, Phật sử của đức Thế Tôn Gotama.