Bản dịch
BV 26 — Lịch Sử Đức Phật Kassapa
26. Kassapabuddhavaṁsa
Inda-bh 1Sau (đức Phật) Koṇāgamana, có bậc Toàn Giác, đấng Tối Thượng Nhân tên Kassapa là vị Pháp Vương tỏa sáng hào quang.
Inda-bh 2Vị ấy sau khi biếu tặng vật thí là tài sản gia đình đã được xả bỏ và nhiều cơm ăn nước uống đến những người ăn xin và làm tròn đủ tâm ý, vị ấy đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng, ví như con bò mộng đã (được tự do sau khi) phá vỡ chuồng trại.
Inda-bh 3Trong khi đấng Lãnh Đạo Thế Gian Kassapa đang chuyển vận bánh xe Chánh Pháp, đã có sự lãnh hội lần thứ nhất là của hai mươi ngàn koṭi (hai trăm tỷ) vị.
Inda-bh 4Vào lúc đức Phật đi du hành ở thế gian trong bốn tháng, đã có sự lãnh hội lần thứ nhì là của mười ngàn koṭi (một trăm tỷ) vị.
Inda-bh 5Sau khi đã thể hiện sự biến hóa song thông, vị ấy đã giảng giải về bản thể của trí tuệ; đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của năm ngàn koṭi (năm mươi tỷ) vị.
Inda-bh 6Ở tại thành phố của chư thiên Sudhammā xinh xắn, đấng Chiến Thắng đã giảng giải Giáo Pháp ở tại nơi ấy và đã giác ngộ ba ngàn koṭi (ba mươi tỷ) chư thiên.
Inda-bh 7Trong lần thuyết giảng Giáo Pháp khác cho dạ-xoa Naradeva, sự lãnh hội của những người ấy là không thể đếm được theo cách thức tính toán.
Inda-bh 8Vị Thiên Nhân ấy của chư thiên đã có chỉ một lần hội tụ gồm các bậc Lậu Tận không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy.
Inda-bh 9Khi ấy, đã có cuộc hội tụ của hai mươi ngàn vị tỳ khưu là những vị đã vượt qua tham ái bằng sự hổ thẹn (tội lỗi) và giới hạnh như thế ấy.
Inda-bh 10Vào lúc bấy giờ, ta là thanh niên Bà-la-môn nổi tiếng với tên Jotipāla, là người trì tụng, nắm vững chú thuật, thành thạo ba bộ Vệ Đà.
Inda-bh 11Ta đã đạt đến sự toàn hảo về khoa tướng mạo, về truyền thuyết, và về các phận sự chánh yếu, là vị rành rẽ về trời đất, có trí tuệ đã được hoàn tất, thuần thục.
Inda-bh 12Vị hộ độ của đức Thế Tôn Kassapa tên Ghaṭikāra (thợ làm đồ gốm), là người có sự tôn kính, có sự vâng lời, đã đạt Niết Bàn trong quả vị thứ ba (Bất Lai).
Inda-bh 13Ghaṭikāra đã đưa ta đi đến gặp đấng Chiến Thắng Kassapa. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của vị ấy, ta đã xuất gia trong sự chứng minh của vị ấy.
Inda-bh 14Sau khi đã khởi sự tinh cần và là người thông thạo trong các phận sự lớn nhỏ, ta không bỏ sót bất cứ điều gì và làm tròn đủ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.
Inda-bh 15Cho đến những gì đã được đức Phật nói lên tức là Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng gồm chín thể loại, sau khi học tập toàn bộ ta đã làm rạng rỡ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.
Inda-bh 16Sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu ở nơi ta, đức Phật ấy cũng đã chú nguyện rằng: “Trong kiếp Bhadda này, người này sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 17Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 18Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 19Ở tại bờ sông Nerañjarā, (đức Như Lai) thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 20Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề, bậc Vô Thượng Nhân, vị có danh tiếng vĩ đại, sẽ ngồi xuống vào tư thế kiết già và sẽ được giác ngộ ở chỗ ngồi giác ngộ tối thắng trong vị thế bất bại.
Inda-bh 21Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 22Kolita và Upatissa không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.
Inda-bh 23Khemā và Uppalavaṇṇā không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 24Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 25Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 26Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 27“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 28Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 29Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 30Sau khi nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Inda-bh 31Như thế, sau khi đã trôi nổi (luân hồi) và trong khi tránh xa điều sai trái, ta có điều khó thực hành được đã được thực hành, và nguyên nhân chính là vì quả vị Giác Ngộ của ta.
Inda-bh 32Thành phố có tên là Bārāṇasī, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Kikī. Tại nơi ấy, gia tộc vĩ đại của đấng Toàn Giác cư ngụ ở trong thành phố.
Inda-bh 33Và vị Bà-la-môn Brahmadatta ấy đã là người cha của đức Phật. Người mẹ của bậc Đại Ẩn Sĩ Kassapa tên là Dhanavatī.
Inda-bh 34Vị ấy đã sống ở giữa gia đình hai ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Haṁsa, Yasa, và Sirinanda.
Inda-bh 35Có ba lần mười sáu ngàn (bốn mươi tám ngàn) phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Sunandā. Con trai tên là Vijitasena.
Inda-bh 36Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, bậc Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng tòa lâu đài và đã thực hành hạnh nỗ lực bảy ngày.
Inda-bh 37Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân Kassapa đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) ở tại Migadāya (vườn nai).
Inda-bh 38Tissa và Bhāradvāja đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Kassapa tên là Sabbamitta.
Inda-bh 39Anulā và Uruvelā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là “Nigrodha.”
Inda-bh 40Sumaṅgala và Ghaṭīkāra đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Vijitasenā và Bhaddā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 41Đạt đến chiều cao hai mươi ratana (5 mét), đức Phật ấy tương tợ như lằn tia chớp ở trên bầu trời, như là mặt trăng được tròn đầy bởi quầng ánh sáng.
Inda-bh 42Tuổi thọ của bậc Đại Ẩn Sĩ ấy là hai chục ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 43Sau khi đã tạo ra hồ nước Chánh Pháp, đã ban hành dầu thơm giới (đức), đã mặc vào tấm vải Chánh Pháp, đã phân phối tràng hoa Chánh Pháp,
Inda-bh 44sau khi đã thiết lập cho đại chúng tấm gương Giáo Pháp không tỳ vết, (vị ấy đã nói rằng): “Những ai mong mỏi Niết Bàn, hãy nhìn vào vật trang sức của ta.”
Inda-bh 45Sau khi đã ban cho tấm áo giáp là Giới có tấm da chắn bảo vệ là Thiền phủ lên, sau khi đã trùm lên tấm da Giáo Pháp (là Niệm và Tỉnh Giác), sau khi đã ban cho tấm chiến bào tối thắng (là Tứ Chánh Cần).
Inda-bh 46Sau khi đã ban cho tấm mộc che là Niệm, cây thương là Trí Tuệ sắc bén, sau khi đã ban cho cây gươm cao quý là Giáo Pháp và Giới nhằm mục đích trừ diệt sự gắn liền (với các phiền não).
Inda-bh 47Sau khi đã ban cho vật tô điểm là ba Minh, vòng nguyệt quế là bốn Quả Vị, sau khi đã ban cho vật trang sức là sáu Thắng Trí và tràng hoa Giáo Pháp (là chín Pháp Siêu Thế).
Inda-bh 48Sau khi đã ban cho chiếc lọng trắng Diệu Pháp ngăn chặn các điều sai trái, sau khi làm hiện ra bông hoa Vô Úy, vị ấy đã Niết Bàn cùng với các Thinh Văn.
Inda-bh 49Chính vị này là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác không thể đo lường, khó thể đạt đến. Đây chính là Pháp Bảo đã khéo được thuyết giảng, hãy đến và thấy.
Inda-bh 50Đây chính là Tăng Bảo đã thực hành đúng đắn và vô thượng; tất cả đều hoàn toàn biết mất; phải chăng tất cả các hành là trống không?
Inda-bh 51Bậc Đạo Sư, đấng Chiến Thắng cao quý Mahākassapa, đã Niết Bàn tại tu viện Setavyā. Ngôi bảo tháp của đấng Chiến Thắng dành cho vị ấy đã được dựng lên có chiều cao một do-tuần ở ngay tại nơi ấy.
Lịch sử đức Phật Kassapa là phần thứ hai mươi bốn.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Koṇāgamanassa aparena, sambuddho dvipaduttamo;
Kassapo nāma gottena, dhammarājā pabhaṅkaro.
After Koṇāgamana, there arose a Perfectly Enlightened One, supreme among bipeds, Kassapa by name and by clan, a King of Dhamma, a maker of light.
Sau thời của đức Phật Koṇāgamana, bậc Chánh Đẳng Giác, đấng Tối Thắng trong loài hai chân, có tên theo dòng tộc là Kassapa, là bậc Pháp Vương, là đấng tạo ra ánh sáng (đã xuất hiện).
2.
2.
2.
Sañchaḍḍitaṃ kulamūlaṃ, bahvannapānabhojanaṃ;
Datvāna yācake dānaṃ, pūrayitvāna mānasaṃ;
Usabhova āḷakaṃ bhetvā, patto sambodhimuttamaṃ.
Having abandoned his family estate, abundant with food and drink, and having given gifts to beggars, fulfilling his resolve, he, like a bull breaking out of its pen, attained supreme enlightenment.
Sau khi từ bỏ gốc rễ gia tộc, sau khi bố thí nhiều thức ăn, thức uống, và vật thực đến những người xin, sau khi làm cho tâm được viên mãn, giống như con bò mộng phá vỡ chuồng, vị ấy đã chứng đắc quả vị Chánh Đẳng Giác vô thượng.
3.
3.
3.
Dhammacakkaṃ pavattente, kassape lokanāyake;
Vīsakoṭisahassānaṃ, paṭhamābhisamayo ahu.
When Kassapa, the leader of the world, set in motion the Wheel of Dhamma, there was the first penetration for twenty thousand crores of beings.
Khi đức Kassapa, bậc Lãnh Đạo thế gian, chuyển vận bánh xe Pháp, đã có sự thấu ngộ đầu tiên cho hai mươi ngàn ức (chư thiên và nhân loại).
4.
4.
4.
Catumāsaṃ yadā buddho, loke carati cārikaṃ;
Dasakoṭisahassānaṃ, dutiyābhisamayo ahu.
When the Buddha wandered on tour in the world for four months, there was the second penetration for ten thousand crores of beings.
Khi đức Phật du hành trong thế gian trong bốn tháng, đã có sự thấu ngộ lần thứ hai cho mười ngàn ức (chư thiên và nhân loại).
5.
5.
5.
Yamakaṃ vikubbanaṃ katvā, ñāṇadhātuṃ pakittayi;
Pañcakoṭisahassānaṃ, tatiyābhisamayo ahu.
Having performed the Twin Miracle and proclaimed the element of knowledge, there was the third penetration for five thousand crores of beings.
Sau khi thực hiện phép lạ song thông và tuyên thuyết về giới của trí tuệ, đã có sự thấu ngộ lần thứ ba cho năm ngàn ức (chư thiên và nhân loại).
6.
6.
6.
Sudhammā devapure ramme, tattha dhammaṃ pakittayi;
Tīṇikoṭisahassānaṃ, devānaṃ bodhayī jino.
In the delightful city of the devas, in the Sudhammā hall, there he proclaimed the Dhamma. The Victor awakened three thousand crores of devas.
Ở tại Sudhammā trong thành phố của chư thiên khả ái, bậc Chiến Thắng đã thuyết giảng Chánh pháp ở nơi ấy và đã làm giác ngộ cho ba ngàn ức chư thiên.
7.
7.
7.
Naradevassa yakkhassa, apare dhammadesane;
Etesānaṃ abhisamayā, gaṇanāto asaṅkhiyā.
In a subsequent Dhamma teaching for the yakkha Naradeva, the penetrations of those who had assembled were incalculable by counting.
Vào một lần khác, trong buổi thuyết Pháp cho dạ-xoa Naradeva, sự thấu ngộ của những vị đã đến là không thể đếm được bằng cách tính toán.
8.
8.
8.
Tassāpi devadevassa, eko āsi samāgamo;
Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ, santacittāna tādinaṃ.
There was a single assembly for that god of gods, an assembly of those whose taints were destroyed, who were stainless, with tranquil minds, such ones.
Vị trời của các trời ấy (Đức Phật Kassapa) cũng chỉ có một lần hội họp của các vị A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc, không còn cấu uế, có tâm tịch tịnh, và vững vàng.
9.
9.
9.
Vīsabhikkhusahassānaṃ, tadā āsi samāgamo;
Atikkantabhavantānaṃ, hirisīlena tādinaṃ.
Then there was an assembly of twenty thousand bhikkhus, such ones who had transcended existence, endowed with conscience and virtue.
Khi ấy, đã có cuộc hội họp của hai mươi ngàn vị Tỳ-khưu, là những bậc đã vượt qua các cõi hữu, vững vàng trong tàm và giới.
10.
10.
10.
Ahaṃ tadā māṇavako, jotipāloti vissuto;
Ajjhāyako mantadharo, tiṇṇaṃ vedāna pāragū.
At that time I was a young brahmin known as Jotipāla, a reciter of the hymns, a master of the sacred texts, one who had mastered the three Vedas.
Khi ấy, ta là một thanh niên nổi tiếng với tên gọi Jotipāla, là người tụng đọc và ghi nhớ các câu chú, thông suốt ba bộ kinh Vệ-đà.
11.
11.
11.
Lakkhaṇe itihāse ca, sadhamme pāramiṃ gato;
Bhūmantalikkhakusalo, katavijjo anāvayo.
I had gone to perfection in the science of marks, in legends, and in my own doctrine. I was skilled in earth-lore and sky-lore, accomplished in knowledge, and faultless.
Ta đã đạt đến sự thông suốt trong tướng thuật, cổ sử, và trong chánh pháp (của dòng dõi mình); thiện xảo về địa lý và thiên văn, đã hoàn tất học thuật, không còn thiếu sót.
12.
12.
12.
Kassapassa bhagavato, ghaṭikāro nāmupaṭṭhāko;
Sagāravo sappatisso, nibbuto tatiye phale.
Ghaṭikāra by name was the attendant of the Blessed One Kassapa. Respectful and deferential, he was extinguished with the third fruit.
Có người thị giả của Đức Thế Tôn Kassapa tên là Ghaṭikāra, là người có lòng tôn kính, biết vâng lời, đã tịch tịnh với quả vị thứ ba.
13.
13.
13.
Ādāya maṃ ghaṭīkāro, upagañchi kassapaṃ jinaṃ;
Tassa dhammaṃ suṇitvāna, pabbajiṃ tassa santike.
Taking me with him, Ghaṭikāra approached the Victor Kassapa. Having heard his Dhamma, I went forth in his presence.
Ghaṭikāra đã dẫn ta đến yết kiến Đức Phật Kassapa, bậc Chiến Thắng. Sau khi nghe pháp của Ngài, ta đã xuất gia nơi Ngài.
14.
14.
14.
Āraddhavīriyo hutvā, vattāvattesu kovido;
Na kvaci parihāyāmi, pūresiṃ jinasāsanaṃ.
Having become one with aroused energy, skilled in the major and minor duties, I did not fall away in any respect but fulfilled the Victor's Dispensation.
Trở thành người tinh tấn, thiện xảo trong các phận sự lớn nhỏ, ta không hề suy giảm ở bất cứ đâu và đã làm viên mãn giáo pháp của bậc Chiến Thắng.
15.
15.
15.
Yāvatā buddhabhaṇitaṃ, navaṅgaṃ jinasāsanaṃ;
Sabbaṃ pariyāpuṇitvāna, sobhayiṃ jinasāsanaṃ.
Having completely mastered the entire nine-limbed Dispensation of the Victor as spoken by the Buddha, I illuminated the Victor's Dispensation.
Sau khi đã học hỏi tất cả giáo pháp chín chi phần của bậc Chiến Thắng, bao nhiêu lời Phật dạy, ta đã làm rạng rỡ giáo pháp của bậc Chiến Thắng.
16.
16.
16.
Mama acchariyaṃ disvā, sopi buddho viyākari;
‘‘Imamhi bhaddake kappe, ayaṃ buddho bhavissati.
Seeing my wonderful deed, that Buddha too made a prediction: ‘In this fortunate aeon, this one will become a Buddha.’
Vị Phật ấy, sau khi thấy được điều kỳ diệu của ta, cũng đã thọ ký rằng: ‘Trong kiếp hiền thiện này, vị này sẽ thành Phật.’
17.
17.
17.
‘‘Ahu kapilavhayā rammā, nikkhamitvā tathāgato;
Padhānaṃ padahitvāna, katvā dukkarakārikaṃ.
‘Having gone forth from the delightful city named Kapila, the Tathāgata, having undertaken the striving and performed the difficult practice,
‘Bậc Như Lai, sau khi xuất gia từ thành Kapilavatthu khả ái, sẽ nỗ lực tinh cần và thực hành khổ hạnh.’
18.
18.
18.
‘‘Ajapālarukkhamūle, nisīditvā tathāgato;
Tattha pāyāsaṃ paggayha, nerañjaramupehiti.
‘Having sat down at the foot of the Goatherd's Banyan Tree, the Tathāgata, having accepted the milk-rice there, will approach the Nerañjarā River.
‘Bậc Như Lai sẽ ngự tọa tại cội cây Ajapāla, tại đó, sau khi nhận món cháo sữa, Ngài sẽ đi đến sông Nerañjarā.’
19.
19.
19.
‘‘Nerañjarāya tīramhi, pāyāsaṃ paribhuñjiya;
Paṭiyattavaramaggena, bodhimūlamupehiti.
‘On the bank of the Nerañjarā, having consumed the milk-rice, he will approach the foot of the Bodhi tree by the excellent, prepared path.
‘Tại bờ sông Nerañjarā, sau khi thọ dụng món cháo sữa, Ngài sẽ đi đến cội Bồ-đề theo con đường thù thắng đã được dọn sẵn.’
20.
20.
20.
‘‘Tato padakkhiṇaṃ katvā, bodhimaṇḍaṃ anuttaro;
Aparājitaṭṭhānamhi †, bodhipallaṅkamuttame;
Pallaṅkena nisīditvā, bujjhissati mahāyaso.
‘Then, having circumambulated the Bodhi terrace, the unsurpassed one will sit cross-legged on the supreme Bodhi seat at the unconquered spot; and that one of great fame will awaken.
‘Sau đó, bậc Vô Thượng, Đại Danh Vọng, sau khi đi nhiễu bên phải quanh Bồ-đề đoàn, sẽ ngự tọa kiết-già trên tòa Bồ-đề tối thượng tại nơi bất bại, và sẽ giác ngộ.’
21.
21.
21.
‘‘Imassa janikā mātā, māyā nāma bhavissati;
Pitā suddhodano nāma, ayaṃ hessati gotamo.
‘This one’s birth-mother will be named Māyā; his father will be named Suddhodana. This one will be Gotama.
‘Mẹ ruột của vị này sẽ có tên là Māyā, cha sẽ có tên là Suddhodana, và vị này sẽ là Gotama.’
22.
22.
22.
‘‘Anāsavā vītarāgā, santacittā samāhitā;
Kolito upatisso ca, aggā hessanti sāvakā;
‘Free from taints, devoid of lust, with tranquil minds, and concentrated, Kolita and Upatissa will be the chief disciples.
‘Kolita và Upatissa, những vị không còn lậu hoặc, đã ly tham, có tâm tịch tịnh, định tĩnh, sẽ là các vị Thượng thủ Thinh văn.’
Ānando nāmupaṭṭhāko, upaṭṭhissatimaṃ jinaṃ.
An attendant named Ānanda will attend upon this Victor.
‘Người thị giả tên là Ānanda sẽ hầu hạ vị Chiến Thắng này.’
23.
23.
23.
‘‘Khemā uppalavaṇṇā ca, aggā hessanti sāvikā;
Anāsavā santacittā, vītarāgā samāhitā;
Bodhi tassa bhagavato, assatthoti pavuccati.
‘Khemā and Uppalavaṇṇā will be the chief female disciples, free from taints, with tranquil minds, devoid of lust, and concentrated. The Bodhi tree of that Blessed One is called the Assattha tree.
‘Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là các vị Thượng thủ Nữ Thinh văn, là những vị không còn lậu hoặc, tâm tịch tịnh, đã ly tham, định tĩnh. Cây Bồ-đề của Đức Thế Tôn ấy được gọi là cây Assattha.’
24.
24.
24.
‘‘Citto hatthāḷavako ca, aggā hessantupaṭṭhakā;
Nandamātā ca uttarā, aggā hessantupaṭṭhikā’’.
‘Citta and Hatthāḷavaka will be the chief male lay supporters; Nandamātā and Uttarā will be the chief female lay supporters.’
‘Citta và Hatthāḷavaka sẽ là các vị Thượng thủ nam cư sĩ hộ độ; Nandamātā và Uttarā sẽ là các vị Thượng thủ nữ cư sĩ hộ độ.’
25.
25.
25.
Idaṃ sutvāna vacanaṃ, assamassa mahesino;
Āmoditā naramarū, buddhabījaṃ kira ayaṃ.
Hearing this word of the peerless great seer, humans and devas rejoiced: “This one is indeed a Buddha-sprout!”
Sau khi nghe lời này của bậc Đại Sĩ vô song, người và trời vui mừng hoan hỷ: ‘Vị này quả thật là mầm mống Phật.’
26.
26.
26.
Ukkuṭṭhisaddā pavattanti, apphoṭenti hasanti ca;
Katañjalī namassanti, dasasahassī sadevakā.
Shouts of acclamation arose, they snapped their fingers and laughed; with palms joined in reverence, the devas and humans of the ten-thousand-world system paid homage.
Những tiếng reo hò vang lên, họ vỗ tay và tươi cười. Chúng sinh trong mười ngàn thế giới cùng với chư thiên chắp tay và đảnh lễ.
27.
27.
27.
‘‘Yadimassa lokanāthassa, virajjhissāma sāsanaṃ;
Anāgatamhi addhāne, hessāma sammukhā imaṃ.
‘If we should miss the Dispensation of this Lord of the World, in a future time we will be in this one’s presence.
‘Nếu chúng tôi bỏ lỡ giáo pháp của bậc Lãnh Đạo Thế Gian này, thì trong thời vị lai, chúng tôi sẽ được diện kiến vị này.’
28.
28.
28.
‘‘Yathā manussā nadiṃ tarantā, paṭititthaṃ virajjhiya;
Heṭṭhā titthe gahetvāna, uttaranti mahānadiṃ.
‘Just as people crossing a river, having missed the ford directly opposite, take a ford further down and cross the great river,
‘Giống như những người đang vượt sông, khi bỏ lỡ bến nước đối diện, bèn lấy bến nước ở phía dưới để vượt qua dòng sông lớn.’
29.
29.
29.
‘‘Evameva mayaṃ sabbe, yadi muñcāmimaṃ jinaṃ;
Anāgatamhi addhāne, hessāma sammukhā imaṃ’’.
‘Even so, all of us, if we miss this Victor, will be in this one’s presence in a future time.’
‘Cũng như thế, nếu tất cả chúng tôi bỏ lỡ vị Chiến Thắng này, thì trong thời vị lai, chúng tôi sẽ được diện kiến vị này.’
30.
30.
30.
Tassāpi vacanaṃ sutvā, bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ;
Uttariṃ vatamadhiṭṭhāsiṃ, dasapāramipūriyā.
Hearing his word, I clarified my mind even more. I undertook a further vow for the fulfillment of the ten perfections.
Nghe lời của Ngài, ta lại càng làm cho tâm tịnh tín hơn nữa; ta đã quyết tâm thực hành hạnh nguyện cao hơn để làm viên mãn mười pháp ba-la-mật.
31.
31.
31.
Evamahaṃ saṃsaritvā, parivajjento anācaraṃ;
Dukkarañca kataṃ mayhaṃ, bodhiyāyeva kāraṇā.
Thus I wandered on in saṃsāra, avoiding wrong conduct, and I performed difficult deeds for the sake of enlightenment alone.
Như vậy, ta đã luân hồi, trong khi tránh xa những hành vi không đúng đắn, và việc khó làm đã được ta thực hiện chỉ vì mục đích giác ngộ.
32.
32.
32.
Nagaraṃ bārāṇasī nāma, kikī nāmāsi khattiyo;
Vasate tattha nagare, sambuddhassa mahākulaṃ.
The city was named Bārāṇasī, and the khattiya king was named Kikī. In that city dwelt the great family of the Perfectly Enlightened One.
Kinh thành tên là Bārāṇasī, vị vua Sát-đế-lỵ tên là Kiki. Trong kinh thành ấy, dòng tộc vĩ đại của bậc Chánh Đẳng Giác trú ngụ.
33.
33.
33.
Brāhmaṇo brahmadattova, āsi buddhassa so pitā;
Dhanavatī nāma janikā, kassapassa mahesino.
The brahmin Brahmadatta was that Buddha's father; the mother of the great seer Kassapa was named Dhanavatī.
Vị Bà-la-môn Brahmadatta là cha của Đức Phật ấy, bậc Đại Sĩ Kassapa; mẹ của Ngài tên là Dhanavatī.
34.
34.
34.
Duve vassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi;
Haṃso yaso sirinando, tayo pāsādamuttamā.
For two thousand years he lived the household life. Haṃsa, Yasa, and Sirinanda were his three supreme palaces.
Ngài đã sống và cai quản tại gia trong hai ngàn năm. Haṃsa, Yasa, và Sirinanda là ba cung điện tối thượng.
35.
35.
35.
Tisoḷasasahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Sunandā nāma sā nārī, vijitaseno nāma atrajo.
There were forty-eight thousand well-adorned women. His chief consort was named Sunandā, and his son was named Vijitasena.
Có bốn mươi tám ngàn cung nữ được trang điểm lộng lẫy. Vị chánh phi tên là Sunandā, và con trai tên là Vijitasena.
36.
36.
36.
Nimitte caturo disvā, pāsādenābhinikkhami;
Sattāhaṃ padhānacāraṃ, acarī purisuttamo.
Having seen the four signs, he went forth by chariot. For seven days that supreme man engaged in the striving.
Bậc Tối Thượng Nhân, sau khi thấy bốn điềm báo, đã xuất gia bằng cung điện. Ngài đã thực hành tinh cần trong bảy ngày.
37.
37.
37.
Brahmunā yācito santo, kassapo lokanāyako;
Vatti cakkaṃ mahāvīro, migadāye naruttamo.
Requested by Brahmā, the peaceful Kassapa, the leader of the world, the great hero and supreme man, set in motion the Wheel in the Deer Park.
Được Phạm thiên thỉnh cầu, bậc Tịch Tĩnh, đức Kassapa, bậc Lãnh Đạo thế gian, bậc Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân, đã chuyển Pháp luân tại Vườn Lộc Uyển.
38.
38.
38.
Tisso ca bhāradvājo ca, ahesuṃ aggasāvakā;
Sabbamitto nāmupaṭṭhāko, kassapassa mahesino.
Tissa and Bhāradvāja were the chief disciples. An attendant named Sabbamitta waited upon the great seer Kassapa.
Tissa và Bhāradvāja đã là hai vị Thượng thủ Thinh văn. Vị thị giả tên là Sabbamitta của đức Kassapa, bậc Đại Sĩ.
39.
39.
39.
Anuḷā uruveḷā ca, ahesuṃ aggasāvikā;
Bodhi tassa bhagavato, nigrodhoti pavuccati.
Anuḷā and Uruvelā were the chief female disciples. The Bodhi tree of that Blessed One is called the Banyan.
Anuḷā và Uruveḷā đã là hai vị Thượng thủ Nữ Thinh văn. Cây Bồ-đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là cây đa.
40.
40.
40.
Sumaṅgalo ghaṭikāro ca, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Vicitasenā bhaddā † ca, ahesuṃ aggupaṭṭhikā.
Sumaṅgala and Ghaṭikāra were the chief male lay supporters; Vijitasenā and Bhaddā were the chief female lay supporters.
Sumaṅgala và Ghaṭikāra đã là hai vị Thượng thủ nam hộ độ. Vicitasenā và Bhaddā đã là hai vị Thượng thủ nữ hộ độ.
41.
41.
41.
Uccattanena so buddho, vīsatiratanuggato;
Vijjulaṭṭhīva ākāse, candova gahapūrito.
That Buddha was twenty cubits in height. He shone like a streak of lightning in the sky, like the moon surrounded by planets.
Đức Phật ấy, về chiều cao, thân cao hai mươi hắc tay, tỏa sáng trên bầu trời như một tia chớp, như mặt trăng được các vì sao vây quanh.
42.
42.
42.
Vīsativassasahassāni, āyu tassa mahesino;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
The lifespan of that great seer was twenty thousand years. Abiding for that long, he ferried a great many people across.
Tuổi thọ của bậc Đại Sĩ ấy là hai mươi ngàn năm. Trong khi trụ thế lâu như vậy, Ngài đã cứu vớt nhiều chúng sanh.
43.
43.
43.
Dhammataḷākaṃ māpayitvā, sīlaṃ datvā vilepanaṃ;
Dhammadussaṃ nivāsetvā, dhammamālaṃ vibhajjiya.
Having created a lake of Dhamma, given virtue as an unguent, dressed them in the cloth of Dhamma, and distributed the garland of Dhamma,
Sau khi tạo ra hồ Pháp, ban cho giới hạnh như hương liệu thoa, cho mặc y phục Pháp, và phân phát vòng hoa Pháp.
44.
44.
44.
Dhammavimalamādāsaṃ, ṭhapayitvā mahājane;
Keci nibbānaṃ patthentā, passantu me alaṅkaraṃ.
Having placed the stainless mirror of Dhamma before the great populace, he said: ‘Let those who aspire to Nibbāna behold my adornment!’
Sau khi đặt ra tấm gương Pháp không tỳ vết cho đại chúng, (Ngài nói): 'Những ai mong cầu Niết-bàn, hãy nhìn xem vật trang sức của ta.'
45.
45.
45.
Sīlakañcukaṃ datvāna, jhānakavacavammitaṃ;
Dhammacammaṃ pārupitvā, datvā sannāhamuttamaṃ.
Having given the tunic of virtue and the mail-coat of jhāna, having cloaked them in the leather of Dhamma, and having given the supreme armor,
Sau khi ban cho chiếc áo giới hạnh và áo giáp thiền định, cho khoác lên tấm da Pháp, và ban cho bộ chiến giáp tối thượng.
46.
46.
46.
Satiphalakaṃ datvāna, tikhiṇañāṇakuntimaṃ;
Dhammakhaggavaraṃ datvā, sīlasaṃsaggamaddanaṃ.
Having given the shield of mindfulness, the spear of sharp knowledge, the excellent sword of Dhamma, and the virtue that crushes the entanglement of defilements,
Sau khi ban cho chiếc khiên niệm, ngọn giáo trí tuệ sắc bén, thanh gươm Pháp tối thượng, và giới hạnh có khả năng dẹp tan sự vướng mắc.
47.
47.
47.
Tevijjābhūsanaṃ datvāna, āveḷaṃ caturo phale;
Chaḷabhiññābharaṇaṃ datvā, dhammapupphapiḷandhanaṃ.
Having given the ornament of the three knowledges and the four fruits as a head-ornament, having given the adornment of the six supernormal knowledges, and having made the flower-garland of the supramundane Dhamma,
Sau khi ban cho vật trang sức tam minh, lấy bốn Thánh quả làm hoa tai, ban cho vật trang sức lục thông, và vật trang sức hoa Pháp.
48.
48.
48.
Saddhammapaṇḍaracchattaṃ, datvā pāpanivāraṇaṃ;
Māpayitvābhayaṃ pupphaṃ, nibbuto so sasāvako.
Having given the white parasol of the good Dhamma that prevents evil, and having fashioned the flower of fearlessness, that Kassapa, together with his disciples, attained Parinibbāna.
Sau khi ban cho chiếc lọng trắng Chánh pháp có khả năng ngăn ngừa điều ác, và tạo ra bông hoa vô úy, Ngài cùng với các Thinh văn đã nhập Niết-bàn.
49.
49.
49.
Eso hi sammāsambuddho, appameyyo durāsado;
Eso hi dhammaratano, svākkhāto ehipassiko.
This indeed is the Perfectly Enlightened One, immeasurable and unassailable. This indeed is the jewel of the Dhamma, well-expounded and inviting inspection.
Vị Chánh Đẳng Giác này, không thể đo lường, khó tiếp cận; Pháp bảo này, được khéo thuyết, có đặc tính đến để thấy.
50.
50.
50.
Eso hi saṅgharatano, suppaṭipanno anuttaro;
Sabbaṃ tamantarahitaṃ, nanu rittā sabbasaṅkhārā.
This indeed is the jewel of the Sangha, of good practice and unsurpassed. All that has vanished. Are not all conditioned formations indeed empty?
Tăng bảo này, khéo hành trì, vô thượng. Tất cả những điều ấy đã biến mất. Chẳng phải tất cả các pháp hữu vi đều trống rỗng sao?
51.
51.
51.
Mahākassapo jino satthā, setabyārāmamhi nibbuto;
Tatthevassa jinathūpo, yojanubbedhamuggatoti.
The great Kassapa, the Victor, the Teacher, attained Parinibbāna in the Setabyā monastery. In that very place, the stupa of that Victor rose to a height of one yojana.
Bậc Đạo Sư, bậc Chiến Thắng, đức Đại Kassapa đã nhập Niết-bàn tại tu viện Setabyā. Chính tại nơi đó, bảo tháp của bậc Chiến Thắng cao một do-tuần.
The twenty-fourth chronicle, that of the Blessed One Kassapa, is concluded.
Thiên truyện thứ hai mươi bốn về đức Thế Tôn Kassapa.