Bản dịch
BV 25 — Lịch Sử Đức Phật Koṇāgamana
25. Koṇāgamanabuddhavaṁsa
Inda-bh 1Sau (đức Phật) Kakusandha, có đấng Toàn Giác, bậc Tối Thượng Nhân, đấng Chiến Thắng, vị đứng đầu thế gian, bậc Nhân Ngưu tên là Koṇāgamana.
Inda-bh 2Sau khi làm tròn đủ mười pháp, vị ấy đã vượt qua bãi sa mạc (luân hồi). Sau khi tẩy rửa mọi điều nhơ bẩn, vị ấy đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.
Inda-bh 3Trong khi vị Lãnh Đạo Koṇāgamana đang chuyển vận bánh xe Chánh Pháp, đã có sự lãnh hội lần thứ nhất là của ba mươi ngàn koṭi (ba trăm tỷ) vị.
Inda-bh 4Và trong khi thể hiện thần thông trừ diệt các học thuyết khác, đã có sự lãnh hội lần thứ nhì là của hai mươi ngàn koṭi (hai trăm tỷ) vị.
Inda-bh 5Kế đến, sau khi thể hiện sự biến hóa (thần thông), đấng Chiến Thắng đã đi đến thành phố của chư thiên. Tại nơi ấy, bậc Toàn Giác đã ngự trên tảng đá là ngai vàng của vị Chúa Trời Sakka.
Inda-bh 6Bậc Hiền Triết ấy an cư mùa mưa (ở cõi trời), trong khi thuyết giảng bảy bộ sách (Vi Diệu Pháp), đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của mười ngàn koṭi (một trăm tỷ) vị.
Inda-bh 7Vị Thiên Nhân ấy của chư thiên đã có chỉ một lần hội tụ gồm các bậc Lậu Tận không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy.
Inda-bh 8Khi ấy, đã có cuộc hội tụ của ba mươi ngàn vị tỳ khưu đã vượt qua khỏi giòng nước lũ và đã làm tiêu tán sự tử vong.
Inda-bh 9Vào lúc bấy giờ, ta là vị Sát-đế-lỵ tên Pabbata hội đủ các thân hữu và quan viên, có binh lực và xe cộ không phải là ít.
Inda-bh 10Sau khi đã đi đến diện kiến đấng Toàn Giác và lắng nghe Giáo Pháp tối thượng, ta đã thỉnh mời hội chúng cùng với đấng Chiến Thắng và đã dâng cúng vật thí theo như ước muốn.
Inda-bh 11Ta đã cúng dường bậc Đạo Sư và các vị Thinh Văn vải xứ Pattuṇṇa, vải Trung Quốc, tơ lụa xứ Kāsī, cùng với mền len, và luôn cả đôi dép bằng vàng nữa.
Inda-bh 12Bậc Hiền Triết ấy, ngồi giữa hội chúng, cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong kiếp Bhadda này, người này sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 13Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 14Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 15Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 16Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề, bậc Vô Thượng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Inda-bh 17Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 18Kolita và Upatissa không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.
Inda-bh 19Khemā và Uppalavaṇṇā không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 20Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 21Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 22Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 23“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 24Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 25Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 26Sau khi nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Inda-bh 27Trong khi tầm cầu quả vị Toàn Tri, ta đã cúng dường vật thí đến đấng Tối Thượng Nhân. Sau khi từ bỏ vương quốc rộng lớn, ta đã xuất gia trong sự chứng minh của vị ấy.
Inda-bh 28Thành phố có tên là Sobhavatī, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Sobha. Tại nơi ấy, gia tộc vĩ đại của đấng Toàn Giác cư ngụ ở trong thành phố.
Inda-bh 29Và vị Bà-la-môn Yaññadatta ấy đã là người cha của đức Phật. Người mẹ của bậc Đạo Sư Koṇāgamana tên là Uttarā.
Inda-bh 30Vị ấy đã sống ở giữa gia đình trong ba ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Tusita, Santusita, và Santuṭṭha.
Inda-bh 31Có không dưới mười sáu ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Rucigattā. Con trai tên là Satthavāha.
Inda-bh 32Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, bậc Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng phương tiện voi và đã thực hành hạnh nỗ lực sáu tháng.
Inda-bh 33Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Lãnh Đạo, đấng Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân tên Koṇāgamana đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) ở tại Migadāya (vườn nai).
Inda-bh 34Bhiyyasa và Uttara đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc có danh tiếng Koṇāgamana tên là Sotthija.
Inda-bh 35Samuddā và Uttarā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là “Udumbara.”
Inda-bh 36Ugga và Somadeva đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Sīvalā và luôn cả Sāmā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 37Đức Phật ấy đạt đến chiều cao ba mươi cánh tay (15 mét). Tương tợ như chiếc vòng vàng ở trong lò lửa của thợ rèn, vị ấy đã rực rỡ với các hào quang như thế ấy.
Inda-bh 38Tuổi thọ được biết là đến ba chục ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 39Sau khi giương cao ngôi bảo tháp Chánh Pháp được tô điểm với những biểu ngữ về Chánh Pháp, vị ấy đã kết thành chùm hoa Chánh Pháp rồi đã Niết Bàn cùng với các Thinh Văn.
Inda-bh 40Môn đồ của vị ấy có thần lực vĩ đại, có sự giảng giải Giáo Pháp huy hoàng, tất cả đều hoàn toàn biết mất; phải chăng tất cả các hành là trống không?
Inda-bh 41Đấng Toàn Giác Koṇāgamana đã Niết Bàn tại tu viện Pabbata. Đã có sự phân tán xá-lợi từ xứ sở ấy đến khắp các nơi.
Lịch sử đức Phật Koṇāgamana là phần thứ hai mươi ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Kakusandhassa aparena, sambuddho dvipaduttamo;
Koṇāgamano nāma jino, lokajeṭṭho narāsabho.
After Kakusandha came the Perfectly Self-Enlightened One, supreme among two-footed beings, the Conqueror named Koṇāgamana, eldest in the world, a bull among men.
Sau thời của đấng Kakusandha là đấng Chánh Đẳng Giác, bậc Tối Thượng trong loài hai chân, đấng Chiến Thắng tên là Koṇāgamana, bậc Trưởng Thượng trong thế gian, bậc Ngưu Vương trong loài người.
2.
2.
2.
Dasadhamme pūrayitvāna, kantāraṃ samatikkami;
Pavāhiya malaṃ sabbaṃ, patto sambodhimuttamaṃ.
Having fulfilled the ten perfections, he crossed over the wilderness; having washed away every stain, he attained the unsurpassed enlightenment.
Sau khi đã làm viên mãn mười pháp (ba-la-mật), ngài đã vượt qua vùng hoang vu (của sự hiện hữu). Sau khi đã tẩy sạch tất cả các cấu uế, ngài đã đạt đến sự Giác Ngộ tối thượng.
3.
3.
3.
Dhammacakkaṃ pavattente, koṇāgamananāyake;
Tiṃsakoṭisahassānaṃ, paṭhamābhisamayo ahu.
When the leader Koṇāgamana set the Wheel of Dhamma in motion, there was the first penetration of the Dhamma for thirty thousand koṭis of beings.
Khi bậc Lãnh Đạo Koṇāgamana chuyển vận bánh xe Pháp, sự thấu triệt đầu tiên đã xảy ra cho ba mươi ngàn koṭi (chúng sanh).
4.
4.
4.
Pāṭihīraṃ karonte ca, paravādappamaddane;
Vīsatikoṭisahassānaṃ, dutiyābhisamayo ahu.
And when he performed a miracle, crushing the doctrines of others, there was the second penetration of the Dhamma for twenty thousand koṭis of beings.
Và trong khi thực hiện phép lạ và trong khi nhiếp phục các tà thuyết, sự thấu triệt lần thứ hai đã xảy ra cho hai mươi ngàn koṭi (chúng sanh).
5.
5.
5.
Tato vikubbanaṃ katvā, jino devapuraṃ gato;
Vasate tattha sambuddho, silāya paṇḍukambale.
Then, having performed a display of psychic power, the Conqueror went to the city of the devas. There the Perfectly Enlightened One dwelt on the Paṇḍukambala stone seat.
Sau đó, sau khi đã thực hiện sự biến hóa, đấng Chiến Thắng đã đi đến thành phố của chư Thiên. Ở đấy, đấng Chánh Đẳng Giác đã ngự trên phiến đá Paṇḍukambala.
6.
6.
6.
Pakaraṇe satta desento, vassaṃ vasati so muni;
Dasakoṭisahassānaṃ, tatiyābhisamayo ahu.
While teaching the seven treatises, that sage dwelt there for the rains residence. There was the third penetration of the Dhamma for ten thousand koṭis of beings.
Trong khi thuyết giảng bảy bộ luận, bậc ẩn sĩ ấy đã an trú qua mùa mưa. Sự thấu triệt lần thứ ba đã xảy ra cho mười ngàn koṭi (chúng sanh).
7.
7.
7.
Tassāpi devadevassa, eko āsi samāgamo;
Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ, santacittāna tādinaṃ.
There was also one assembly for that god of gods, an assembly of arahants who had destroyed the taints, who were stainless, peaceful in mind, and steadfast.
Cũng vậy, đã có một lần hội chúng của vị Thiên-trung-Thiên ấy, gồm các vị đã đoạn trừ các lậu hoặc, không còn cấu uế, có tâm an tịnh, và vững vàng.
8.
8.
8.
Tiṃsabhikkhusahassānaṃ, tadā āsi samāgamo;
Oghānamatikkantānaṃ, bhijjitānañca maccuyā.
At that time there was an assembly of thirty thousand bhikkhus, of those who had crossed over the floods and had shattered death.
Vào lúc ấy, đã có một lần hội chúng của ba mươi ngàn vị tỳ-khưu, là những vị đã vượt qua các dòng bộc lưu và đã phá tan thần chết.
9.
9.
9.
Ahaṃ tena samayena, pabbato nāma khattiyo;
Mittāmaccehi sampanno, anantabalavāhano.
At that time I was a khattiya named Pabbata, endowed with friends and ministers, possessing an infinite army and transport.
Vào thời ấy, ta là vị vua Sát-đế-lợi tên Pabbata, có đầy đủ bạn bè và các quan, cùng binh lực và xe cộ vô lượng.
10.
10.
10.
Sambuddhadassanaṃ gantvā, sutvā dhammamanuttaraṃ;
Nimantetvā sajinasaṅghaṃ, dānaṃ datvā yadicchakaṃ.
Having gone to see the Perfectly Enlightened One and heard the unsurpassed Dhamma, I invited the Saṅgha together with the Conqueror and gave gifts as I wished.
Ta đã đi đến để diện kiến bậc Chánh Đẳng Giác, sau khi nghe được Chánh pháp vô thượng, đã thỉnh mời đức Phật và chúng Tăng, rồi thực hiện việc bố thí theo như ý muốn.
11.
11.
11.
Paṭṭuṇṇaṃ cīnapaṭṭañca, koseyyaṃ kambalampi ca;
Sovaṇṇapādukañceva, adāsiṃ satthusāvake.
I gave fine woolen cloth, Chinese silk, silk garments, and blankets, as well as golden sandals, to the Teacher and his disciples.
Ta đã dâng cúng đến bậc Đạo Sư và các vị Thinh văn các loại vải từ xứ Paṭṭuṇṇa và xứ Cīna, vải lụa, và cả vải len dạ, cùng với đôi dép bằng vàng.
12.
12.
12.
Sopi maṃ buddho byākāsi, saṅghamajjhe nisīdiya;
‘‘Imamhi bhaddake kappe, ayaṃ buddho bhavissati.
That Buddha too, having sat down in the midst of the Saṅgha, made a prediction about me: “In this same fortunate aeon, this one will become a Buddha.”
Vị Phật ấy, sau khi ngồi xuống giữa chúng Tăng, đã thọ ký cho ta rằng: “Trong kiếp hiền thiện này, vị này sẽ trở thành một vị Phật.”
13.
13.
13.
‘‘Ahu kapilavhayā rammā…pe… hessāma sammukhā imaṃ’’.
“Departing from the delightful city named Kapila … we will come into the presence of this one.”
“Vị ấy sẽ xuất gia từ thành Kapilavatthu khả ái …(vân vân)… chúng tôi sẽ được diện kiến vị này.”
14.
14.
14.
Tassāpi vacanaṃ sutvā, bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ;
Uttariṃ vatamadhiṭṭhāsiṃ, dasapāramipūriyā.
Having heard his words, I clarified my mind even more. I undertook a further vow for the fulfillment of the ten perfections.
Sau khi nghe được lời nói của vị ấy, ta đã làm cho tâm được tịnh tín hơn nữa. Ta đã quyết tâm thực hành hạnh nguyện cao thượng hơn để làm viên mãn mười pháp ba-la-mật.
15.
15.
15.
Sabbaññutaṃ gavesanto, dānaṃ datvā naruttame;
Ohāyāhaṃ mahārajjaṃ, pabbajiṃ jinasantike †.
Seeking omniscience, having given gifts to the supreme among men, I abandoned my great kingdom and went forth in the presence of the Conqueror.
Trong khi tìm cầu quả vị Nhất thiết trí, ta đã thực hiện việc bố thí đến bậc Tối Thắng trong loài người, ta đã từ bỏ vương quốc to lớn rồi xuất gia ở nơi sự hiện diện của bậc Chiến Thắng.
16.
16.
16.
Nagaraṃ sobhavatī nāma, sobho nāmāsi khattiyo;
Vasate tattha nagare, sambuddhassa mahākulaṃ.
The city was named Sobhavatī, and its khattiya ruler was named Sobha. In that city dwelt the great family of the Perfectly Enlightened One.
Kinh thành có tên là Sobhavatī, vị vua Sát-đế-lợi tên là Sobha. Đại gia tộc của bậc Chánh Đẳng Giác đã sinh sống ở tại kinh thành ấy.
17.
17.
17.
Brāhmaṇo yaññadatto ca, āsi buddhassa so pitā;
Uttarā nāma janikā, koṇāgamanassa satthuno.
The father of the Buddha, the Teacher Koṇāgamana, was the brahmin Yaññadatta, and his mother was named Uttarā.
Vị Bà-la-môn tên là Yaññadatta chính là phụ thân của đức Phật, còn mẫu thân tên là Uttarā, của bậc Đạo Sư Koṇāgamana.
18.
18.
18.
Tīṇi vassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi;
Tusitasantusitasantuṭṭhā, tayo pāsādamuttamā.
For three thousand years he lived the household life. The three supreme palaces were Tusita, Santusita, and Santuṭṭha.
Vị ấy đã sống và cai quản tại gia trong ba mươi ngàn năm. Có ba tòa lâu đài cao quý là Tusita, Santusita, và Santuṭṭha.
19.
19.
19.
Anūnasoḷasasahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Rucigattā nāma nārī, satthavāho nāma atrajo.
There were sixteen thousand well-adorned women. The chief consort was named Rucigattā, and his son was named Satthavāha.
Có mười sáu ngàn vị cung nữ được trang điểm xinh đẹp không thiếu sót. Vị chánh phi tên là Rucigattā, người con trai tên là Satthavāha.
20.
20.
20.
Nimitte caturo disvā, hatthiyānena nikkhami;
Chamāsaṃ padhānacāraṃ, acarī purisuttamo.
Having seen the four signs, the supreme man went forth by elephant-vehicle. For six months, he practiced the striving.
Bậc Tối Thắng trong loài người, sau khi nhìn thấy bốn điềm báo, đã xuất gia bằng phương tiện voi. Vị ấy đã thực hành khổ hạnh trong suốt sáu tháng.
21.
21.
21.
Brahmunā yācito santo, koṇāgamananāyako;
Vatti cakkaṃ mahāvīro, migadāye naruttamo.
Requested by Brahmā, the serene Koṇāgamana, the Guide, the Great Hero, supreme among men, set the Wheel in motion in the Deer Park.
Bậc Đại Hùng, bậc Tối Thắng trong loài người, đấng Lãnh Đạo Koṇāgamana, là bậc trầm lặng, sau khi được vị Phạm thiên thỉnh cầu, đã chuyển vận bánh xe (Pháp) ở tại vườn Lộc Uyển.
22.
22.
22.
Bhiyyaso uttaro nāma, ahesuṃ aggasāvakā;
Sotthijo nāmupaṭṭhāko, koṇāgamanassa satthuno.
Bhiyyaso and Uttara were the chief disciples; the attendant of the Teacher Koṇāgamana was named Sotthija.
Bhiyyasa và Uttara là các vị Thinh văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đạo Sư Koṇāgamana tên là Sotthija.
23.
23.
23.
Samuddā uttarā ceva, ahesuṃ aggasāvikā;
Bodhi tassa bhagavato, udumbaroti pavuccati.
Samuddā and Uttarā were the chief female disciples. The Bodhi tree of that Blessed One is said to be an Udumbara tree.
Samuddā và Uttarā là các vị nữ Thinh văn hàng đầu. Cây Bồ-đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là cây sung (udumbara).
24.
24.
24.
Uggo ca somadevo ca, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Sīvalā ceva sāmā ca, ahesuṃ aggupaṭṭhikā.
Ugga and Somadeva were the chief male lay supporters; Sīvalā and Sāmā were the chief female lay supporters.
Ugga và Somadeva là các nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Sīvalā và Sāmā là các nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
25.
25.
25.
Uccattanena so buddho, tiṃsahatthasamuggato;
Ukkāmukhe yathā kambu, evaṃ raṃsīhi maṇḍito.
That Buddha was thirty cubits in height. He was adorned with rays, just like gold in a goldsmith's crucible.
Vị Phật ấy có thân hình cao ba mươi hắc-tay. Vị ấy được trang hoàng bởi các tia sáng, giống như vàng ròng ở trong miệng lò.
26.
26.
26.
Tiṃsavassasahassāni, āyu buddhassa tāvade;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
The lifespan of the Buddha at that time was thirty thousand years. Remaining for that long, he ferried many people across.
Tuổi thọ của đức Phật vào lúc bấy giờ là ba mươi ngàn năm. Trong khi còn tại thế trong khoảng thời gian ấy, vị ấy đã cứu độ nhiều chúng sanh.
27.
27.
27.
Dhammacetiṃ samussetvā, dhammadussavibhūsitaṃ;
Dhammapupphaguḷaṃ katvā, nibbuto so sasāvako.
Having raised high the monument of the Dhamma, and having made a cluster of Dhamma-flowers adorned with the cloth of the Dhamma, he attained Parinibbāna together with his disciples.
Sau khi dựng lên bảo tháp Chánh pháp, được trang hoàng bằng tấm vải Chánh pháp, sau khi kết tràng hoa Chánh pháp, vị ấy cùng với các vị Thinh văn đã tịch diệt Niết-bàn.
28.
28.
28.
Mahāvilāso tassa jano, siridhammappakāsano;
Sabbaṃ tamantarahitaṃ, nanu rittā sabbasaṅkhārā.
The Blessed One, illuminator of the glorious Dhamma, and his disciples of great splendor—all that has vanished. Indeed, are not all conditioned things empty?
Chúng Thinh văn của vị ấy có sự huy hoàng to lớn, bậc Tuyên thuyết Chánh pháp cao quý, tất cả những điều ấy đã biến mất. Quả thật, tất cả các pháp hữu vi là trống rỗng!
29.
29.
29.
Koṇāgamano sambuddho, pabbatārāmamhi nibbuto;
Dhātuvitthārikaṃ āsi, tesu tesu padesatoti.
The Perfectly Enlightened One Koṇāgamana attained Parinibbāna in the Pabbatārāma. There was a wide distribution of his relics in various regions.
Bậc Chánh Đẳng Giác Koṇāgamana đã tịch diệt Niết-bàn ở tại tu viện Pabbatārāma. Xá-lợi của ngài đã được phân bố rộng rãi ở tại các nơi này nơi kia.
The twenty-third chronicle, that of the Blessed One Koṇāgamana, is concluded.
Dòng dõi của đức Thế Tôn Koṇāgamana, chương thứ hai mươi ba.