Bản dịch
BV 24 — Lịch Sử Đức Phật Kakusandha
24. Kakusandhabuddhavaṁsa
Inda-bh 1Sau (đức Phật) Vessabhū, có bậc Toàn Giác, đấng Tối Thượng Nhân tên Kakusandha là vị không thể đo lường, khó thể đạt đến.
Inda-bh 2Sau khi làm tiêu hoại tất cả các sự tái sanh, vị ấy đã đạt đến sự toàn hảo trong các hạnh, đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng, tương tợ như con sư tử (đã được tự do) sau khi bẻ gãy chiếc lồng giam giữ.
Inda-bh 3Trong khi đấng Lãnh Đạo Thế Gian Kakusandha đang chuyển vận bánh xe Chánh Pháp, đã có sự lãnh hội lần thứ nhất là của bốn mươi ngàn koṭi (bốn trăm tỷ) vị.
Inda-bh 4Sau khi đã hóa hiện song thông ở không trung trên bầu trời, vị ấy đã giác ngộ ba mươi ngàn koṭi (ba trăm tỷ) chư thiên và nhân loại.
Inda-bh 5Sự lãnh hội Giáo Pháp của vị ấy trong lần giảng giải về bốn Chân Lý cho dạ-xoa Naradeva là không thể đếm được theo cách thức tính toán.
Inda-bh 6Đức Thế Tôn Kakusandha đã có một lần tụ hội gồm các bậc Lậu Tận không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy.
Inda-bh 7Khi ấy, đã có cuộc hội tụ của bốn mươi ngàn vị đã đạt đến nền tảng của việc huấn luyện nhờ vào sự diệt tận các nhóm kẻ thù là lậu hoặc.
Inda-bh 8Vào lúc bấy giờ, ta là vị Sát-đế-lỵ tên Khema. Ta đã dâng lên vật thí không nhỏ đến đức Như Lai và những người con trai của đấng Chiến Thắng.
Inda-bh 9Sau khi cúng dường bình bát, y phục, thuốc bôi, mật mía, ta đã chuẩn bị tất cả mọi thứ này nọ vô cùng quý giá đã được mong mỏi.
Inda-bh 11Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 12Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 13Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 14Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề, bậc Vô Thượng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Inda-bh 15Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 16Kolita và Upatissa không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.
Inda-bh 17Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 18Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 19Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 20Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 21“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 22Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 23Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 24Sau khi nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Inda-bh 25Thành phố có tên là Khemavatī. Khi ấy, ta có tên là Khema. Trong khi tầm cầu quả vị Toàn Tri, ta đã xuất gia trong sự chứng minh của vị ấy.
Inda-bh 26Và vị Bà-la-môn Aggidatta ấy đã là người cha của đức Phật. Người mẹ của bậc Đại Ẩn Sĩ Kakusandha tên là Visākhā.
Inda-bh 27Cư trú tại nơi ấy ở trong thành Khemā, gia tộc vĩ đại của đấng Toàn Giác là dòng dõi cao quý hạng nhất trong loài người, có danh tiếng vĩ đại.
Inda-bh 28Vị ấy đã sống ở giữa gia đình trong bốn ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Ruci, Suruci, và Rativaddhana.
Inda-bh 29Có đầy đủ ba mươi ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Virocamānā. Con trai tên là Uttara.
Inda-bh 30Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện xe và đã ra sức nỗ lực tám tháng không thiếu sót.
Inda-bh 31Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân Kakusandha đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) ở tại Migadāya (vườn nai).
Inda-bh 32Vidhura và Sañjīva đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Kakusandha tên là Buddhija.
Inda-bh 33Sāmā và Campā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là “Sirasa.”
Inda-bh 34Accuta và Sumana đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Nandā và luôn cả Sunandā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 35Bậc Đại Hiền Triết cao bốn mươi ratana (10 mét). Hào quang màu hoàng kim phát ra mười do-tuần ở chung quanh.
Inda-bh 36Tuổi thọ của bậc Đại Ẩn Sĩ ấy là bốn chục ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 37Sau khi đã phô bày gian hàng Giáo Pháp đến những người nam nữ luôn cả chư thiên, sau khi rống lên như là tiếng rống của loài sư tử, vị ấy đã Niết Bàn cùng với các Thinh Văn.
Inda-bh 38(Đức Phật) đã thành tựu tám chi phần về lời nói, những phẩm chất không bao giờ khiếm khuyết, tất cả đều hoàn toàn biết mất; phải chăng tất cả các hành là trống không?
Inda-bh 39Đấng Chiến Thắng cao quý Kakusandha đã Niết Bàn tại tu viện Khemā. Ngôi bảo tháp cao quý dành cho vị ấy đã vươn lên bầu trời một gāvuta ở ngay tại nơi ấy.
Lịch sử đức Phật Kakusandha là phần thứ hai mươi hai.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Vessabhussa aparena, sambuddho dvipaduttamo;
Kakusandho nāma nāmena, appameyyo durāsado.
After Vessabhū, there was the Perfectly Enlightened One, supreme among two-footed beings, Kakusandha by name, immeasurable and unassailable.
Sau thời của đức Vesabhū là đức Chánh Đẳng Giác, bậc Tối Thượng trong loài hai chân, danh hiệu là Kakusandha, không thể đo lường, khó tiếp cận.
2.
2.
2.
Ugghāṭetvā sabbabhavaṃ, cariyāya pāramiṃ gato;
Sīhova pañjaraṃ bhetvā, patto sambodhimuttamaṃ.
Having uprooted all existence, he reached perfection in his conduct; like a lion breaking its cage, he attained supreme enlightenment.
Sau khi đã nhổ lên tất cả các cõi hữu, vị ấy đã đến bờ bên kia của các hạnh. Giống như con sư tử phá vỡ lồng, vị ấy đã đạt đến sự giác ngộ tối thượng.
3.
3.
3.
Dhammacakkaṃ pavattente, kakusandhe lokanāyake;
Cattārīsakoṭisahassānaṃ, dhammābhisamayo ahu.
When the Wheel of Dhamma was set in motion by Kakusandha, the Leader of the World, there was a penetration of the Dhamma for forty thousand koṭis of beings.
Trong khi đức Kakusandha, vị Lãnh Đạo thế gian, đang chuyển vận Pháp luân, sự thấu triệt giáo pháp đã xảy ra cho bốn mươi ngàn koti (chúng sanh).
4.
4.
4.
Antalikkhamhi ākāse, yamakaṃ katvā vikubbanaṃ;
Tiṃsakoṭisahassānaṃ, bodhesi devamānuse.
Having performed the display of the Twin Miracle in the sky, in open space, he awakened thirty thousand koṭis of gods and humans.
Trên hư không, trên không trung, sau khi thực hiện song thông và các sự biến hóa, Ngài đã làm cho ba mươi ngàn koti chư thiên và nhân loại được giác ngộ.
5.
5.
5.
Naradevassa yakkhassa, catusaccappakāsane;
Dhammābhisamayo tassa, gaṇanāto asaṅkhiyo.
At his exposition of the Four Truths to the yakkha Naradeva, the penetration of the Dhamma on that occasion was incalculable.
Trong lúc tuyên thuyết Tứ Diệu Đế cho dạ-xoa Naradeva, sự thấu triệt giáo pháp của (chúng hội) ấy không thể đếm được về mặt số lượng.
6.
6.
6.
Kakusandhassa bhagavato, eko āsi samāgamo;
Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ, santacittāna tādinaṃ.
There was one assembly for the Blessed One Kakusandha: of Arahants who had destroyed the taints, who were stainless, peaceful in mind, and steadfast.
Đã có một cuộc hội họp của đức Thế Tôn Kakusandha, (đó là cuộc hội họp) của các vị đã tận trừ lậu hoặc, không còn cấu uế, có tâm tịch tịnh, và như vậy.
7.
7.
7.
Cattālīsasahassānaṃ, tadā āsi samāgamo;
Dantabhūmimanuppattānaṃ, āsavārigaṇakkhayā.
At that time there was an assembly of forty thousand who had reached the plane of the tamed, having destroyed the host of enemies, the taints.
Vào lúc ấy, đã có cuộc hội họp của bốn mươi ngàn vị đã đạt đến trạng thái được điều phục do sự đoạn tận của nhóm kẻ thù là các lậu hoặc.
8.
8.
8.
Ahaṃ tena samayena, khemo nāmāsi khattiyo;
Tathāgate jinaputte, dānaṃ datvā anappakaṃ.
At that time I was a khattiya named Khema. Having given abundant gifts to the Tathāgata and the sons of the Victor,
Vào thời ấy, ta là vị vua dòng Sát-đế-lợi tên là Khema. Sau khi đã dâng cúng vật thí không thể kể xiết đến đấng Như Lai và các vị con của đấng Chiến Thắng,
9.
9.
9.
Pattañca cīvaraṃ datvā, añjanaṃ madhulaṭṭhikaṃ;
Imetaṃ patthitaṃ sabbaṃ, paṭiyādemi varaṃ varaṃ.
and having given a bowl and robe, ointment, and a honey-lump, I provided all that they wished for, the very best of things.
sau khi đã dâng cúng bình bát và y phục, thuốc nhỏ mắt và bánh mật ong, ta đã sắm sửa tất cả những vật dụng cao quý, tuyệt vời này là những thứ được mong mỏi.
10.
10.
10.
Sopi maṃ buddho byākāsi, kakusandho vināyako;
‘‘Imamhi bhaddake kappe, ayaṃ buddho bhavissati.
That Buddha too, Kakusandha the Guide, made a prediction about me: “In this fortunate aeon, this one will become a Buddha.”
Vị Phật ấy, đấng Kakusandha, bậc Lãnh Đạo, đã thọ ký cho ta rằng: ‘Trong kiếp hiền thiện này, vị này sẽ thành một vị Phật.’
11.
11.
11.
‘‘Ahu kapilavhayā rammā…pe… hessāma sammukhā imaṃ’’.
“Departing from the delightful city named Kapila … we will come into the presence of this one.”
‘Vị ấy sẽ từ bỏ thành Kapilavatthu khả ái ... v.v... chúng tôi sẽ được diện kiến vị này.’
12.
12.
12.
Tassāpi vacanaṃ sutvā, bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ;
Uttariṃ vatamadhiṭṭhāsiṃ, dasapāramipūriyā.
Having heard his words, I clarified my mind even more. I undertook a further vow for the fulfillment of the ten perfections.
Sau khi nghe lời nói của vị ấy, ta đã làm cho tâm được tịnh tín hơn nữa. Ta đã quyết tâm thực hành hạnh nguyện cao thượng hơn để làm viên mãn mười pháp ba-la-mật.
13.
13.
13.
Nagaraṃ khemāvatī nāma, khemo nāmāsahaṃ tadā;
Sabbaññutaṃ gavesanto, pabbajiṃ tassa santike.
The city was named Khemavatī; at that time I was named Khema. Seeking omniscience, I went forth in his presence.
Kinh thành tên là Khemāvatī, khi ấy ta có tên là Khema. Trong khi tìm cầu quả vị Nhất thiết trí, ta đã xuất gia ở nơi vị ấy.
14.
14.
14.
Brāhmaṇo aggidatto ca, āsi buddhassa so pitā;
Visākhā nāma janikā, kakusandhassa satthuno.
The father of the Buddha, the Teacher Kakusandha, was the brahmin Aggidatta, and his mother was named Visākhā.
Vị Bà-la-môn Aggidatta là phụ thân của vị Phật ấy, và thân mẫu tên là Visākhā, của đấng Kakusandha, bậc Đạo Sư.
15.
15.
15.
Vasate tattha kheme pure, sambuddhassa mahākulaṃ;
Narānaṃ pavaraṃ seṭṭhaṃ, jātimantaṃ mahāyasaṃ.
In that city of Khema dwelt the great family of the Perfectly Enlightened One—foremost and best among humans, of high birth and great fame.
Vào lúc ấy, ở tại kinh thành Khemā, dòng dõi cao quý của đấng Chánh Đẳng Giác đã sinh sống ở đấy, là dòng dõi cao quý nhất, ưu việt nhất giữa loài người, có dòng dõi và danh tiếng lẫy lừng.
16.
16.
16.
Catuvassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi;
Kāma -kāmavaṇṇa-kāmasuddhināmā †, tayo pāsādamuttamā.
For four thousand years he lived the household life. He had three supreme palaces named Kāma, Kāmavaṇṇa, and Kāmasuddhi.
Vị ấy đã sống và trị vì tại gia trong bốn ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt hảo tên là Kāma, Kāmavaṇṇa, và Kāmasuddhi.
17.
17.
17.
Samatiṃsasahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Rocinī nāma sā nārī, uttaro nāma atrajo.
He had thirty thousand well-adorned women. His chief consort was named Rocinī, and his son was named Uttara.
Có ba mươi ngàn vị nữ nhân được trang điểm lộng lẫy. Vị phu nhân của ngài tên là Rocinī, người con trai tên là Uttara.
18.
18.
18.
Nimitte caturo disvā, rathayānena nikkhami;
Anūnaaṭṭhamāsāni, padhānaṃ padahī jino.
Having seen the four signs, he went forth by chariot. For no less than eight months the Conqueror engaged in the striving.
Sau khi nhìn thấy bốn điềm báo, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng cỗ xe ngựa. Ngài đã thực hành khổ hạnh trong suốt tám tháng không thiếu.
19.
19.
19.
Brahmunā yācito santo, kakusandho vināyako;
Vatti cakkaṃ mahāvīro, migadāye naruttamo.
Requested by Brahmā, the serene Kakusandha, the Guide, the Great Hero, supreme among men, set the Wheel in motion in the Deer Park.
Được vị Phạm thiên thỉnh cầu, đấng Kakusandha, bậc Lãnh Đạo, bậc Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân, đã chuyển vận bánh xe (Pháp) ở tại vườn Lộc Uyển.
20.
20.
20.
Vidhuro ca sañjīvo ca, ahesuṃ aggasāvakā;
Buddhijo nāmupaṭṭhāko, kakusandhassa satthuno.
Vidhura and Sañjīva were his chief disciples; the attendant of the Teacher Kakusandha was named Buddhija.
Vidhura và Sañjīva là hai vị Thượng thủ Thinh văn. Vị thị giả tên là Buddhija của đấng Kakusandha, bậc Đạo Sư.
21.
21.
21.
Sāmā ca campānāmā ca, ahesuṃ aggasāvikā;
Bodhi tassa bhagavato, sirīsoti pavuccati.
Sāmā and Campā were the chief female disciples. The Bodhi tree of that Blessed One is said to be a Sirīsa tree.
Sāmā và Campā là hai vị nữ Thượng thủ Thinh văn. Cây Bồ-đề của đấng Thế Tôn ấy được gọi là cây Sirīsa (cây bồ kết).
22.
22.
22.
Accuto ca sumano ca, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Nandā ceva sunandā ca, ahesuṃ aggupaṭṭhikā.
Accuta and Sumana were his chief male lay supporters; Nandā and Sunandā were his chief female lay supporters.
Accuta và Sumana là hai vị nam Thượng thủ hộ độ. Nandā và Sunandā là hai vị nữ Thượng thủ hộ độ.
23.
23.
23.
Cattālīsaratanāni, accuggato mahāmuni;
Kanakappabhā niccharati, samantā dasayojanaṃ.
The Great Sage was forty cubits tall. A golden radiance issued from him, spreading for ten yojanas all around.
Bậc Đại ẩn sĩ cao bốn mươi ratana (thước tay). Hào quang màu vàng ròng của ngài luôn tỏa ra xung quanh mười do-tuần.
24.
24.
24.
Cattālīsavassasahassāni, āyu tassa mahesino;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
The lifespan of that Great Seer was forty thousand years. Remaining for that long, he brought many people across.
Tuổi thọ của bậc Đại sĩ ấy là bốn mươi ngàn năm. Trong khi sống lâu đến như vậy, vị ấy đã cứu độ nhiều chúng sanh.
25.
25.
25.
Dhammāpaṇaṃ pasāretvā, naranārīnaṃ sadevake;
Naditvā sīhanādaṃva, nibbuto so sasāvako.
Having opened his stall of the Dhamma for men, women, and devas, and having roared a lion’s roar, he attained Nibbāna together with his disciples.
Sau khi đã mở ra gian hàng Pháp cho nam và nữ ở thế giới có chư Thiên, sau khi đã rống lên tiếng rống của sư tử, vị ấy cùng với các vị Thinh văn đã nhập Niết-bàn.
26.
26.
26.
Aṭṭhaṅgavacanasampanno, acchiddāni nirantaraṃ;
Sabbaṃ tamantarahitaṃ, nanu rittā sabbasaṅkhārā.
He who was endowed with the eight-factored speech, and his disciples of uninterrupted and flawless virtue—all that has vanished. Alas, how empty are all conditioned formations!
Vị ấy, người có lời nói gồm đủ tám chi phần, và các vị kia, những người có giới hạnh không gián đoạn, không tỳ vết. Tất cả những điều ấy đã biến mất. Quả thật, tất cả các pháp hữu vi là trống không!
27.
27.
27.
Kakusandho jinavaro, khemārāmamhi nibbuto;
Tatthevassa thūpavaro, gāvutaṃ nabhamuggatoti.
The excellent Conqueror Kakusandha attained Nibbāna in the Khemā Park. There his excellent stūpa rose a gāvuta high into the sky.
Đấng Kakusandha, bậc Chiến Thắng cao cả, đã nhập Niết-bàn ở tại Khemārāma. Ngay tại nơi ấy, bảo tháp cao quý của ngài đã vươn lên không trung một gāvuta.
The twenty-second chronicle, that of the Blessed One Kakusandha, is concluded.
Phẩm thứ hai mươi hai, Phật Sử của đấng Thế Tôn Kakusandha.