Bản dịch
BV 23 — Lịch Sử Đức Phật Vessabhū
23. Vessabhūbuddhavaṁsa
Inda-bh 1Cũng chính trong kiếp Maṇḍa ấy, đấng Lãnh Đạo tên Vessabhū ấy, bậc không ai sánh bằng, không người đối thủ, đã hiện khởi ở thế gian.
Inda-bh 2Khi ấy, biết rằng ngọn lửa ái dục đang thiêu đốt thế gian này là căn cứ địa của các ái, vị ấy sau khi cắt đứt sự trói buộc đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng, ví như con long tượng (được tự do) sau khi đã giật đứt xích xiềng.
Inda-bh 3Trong khi đấng Lãnh Đạo Thế Gian Vessabhū đang chuyển vận bánh xe Chánh Pháp; đã có sự lãnh hội lần thứ nhất là của tám mươi ngàn koṭi (tám trăm tỷ) vị.
Inda-bh 4Trong khi đấng Hàng Đầu Thế Gian, bậc Nhân Ngưu, ra đi du hành trong xứ sở, đã có sự lãnh hội lần thứ nhì là của bảy mươi ngàn koṭi (bảy trăm tỷ) vị.
Inda-bh 5Trong khi xua tan tà kiến nghiêm trọng, vị ấy thể hiện thần thông. Nhân loại và chư thiên trong mười ngàn thế giới tính luôn các cõi trời đã hội tụ lại.
Inda-bh 6Sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu vĩ đại, phi thường, khiến lông dựng đứng, sáu mươi koṭi (sáu trăm triệu) chư thiên và luôn cả loài người đã được giác ngộ.
Inda-bh 7Bậc Đại Ẩn Sĩ Vessabhū đã có ba lần tụ hội gồm các vị Lậu Tận không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy.
Inda-bh 8Đã có cuộc hội tụ thứ nhất của tám mươi ngàn koṭi vị tỳ khưu. Đã có cuộc hội tụ thứ nhì của bảy chục ngàn vị tỳ khưu.
Inda-bh 9Đã có cuộc hội tụ thứ ba của sáu chục ngàn vị tỳ khưu chính thức của bậc Đại Ẩn Sĩ là các vị đã qua khỏi các sự hãi sợ như sự già, v.v...
Inda-bh 10Vào lúc bấy giờ, ta là vị Sát-đế-lỵ tên Sudassana. Sau khi thỉnh mời bậc Đại Hùng và đã dâng cúng vật thí vô cùng xứng đáng, ta đã cúng dường đấng Chiến Thắng cùng với hội chúng (tỳ khưu) cơm nước và y phục.
Inda-bh 11Bánh xe tối thắng của đức Phật không gì sánh bằng ấy đã được chuyển vận. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp tuyệt vời, ta đã thích thú sự xuất gia.
Inda-bh 12Sau khi đã tiến hành cuộc đại thí không ngơi nghỉ đêm ngày, ta đã tiến hành sự xuất gia hội đủ các ưu điểm trong sự chứng minh của đấng Chiến Thắng.
Inda-bh 13Được thành tựu sở hành và đức hạnh, nghiêm túc trong các phận sự và giới hạnh, trong lúc tầm cầu quả vị Toàn Tri, ta được thỏa thích trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.
Inda-bh 14Sau khi đã đạt được niềm tin và sự hoan hỷ, ta đảnh lễ đức Phật, bậc Đạo Sư. Niềm hoan hỷ được sanh lên đến ta có nguyên nhân chính là quả vị giác ngộ.
Inda-bh 15Biết được tâm ý (của ta) không còn thối chuyển, đấng Toàn Giác đã nói lên điều này: “Trong ba mươi mốt kiếp tính từ thời điểm này, người này sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 16Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 17Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 18Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 19Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề, bậc Vô Thượng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Inda-bh 20Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 21Kolita và Upatissa không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.
Inda-bh 22Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 23Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 24Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 25Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 26“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 27Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 28Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 29Sau khi nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Inda-bh 30Thành phố có tên là Anupama, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Suppatita, người mẹ của bậc Đại Ẩn Sĩ Vessabhū tên là Yasavatī
Inda-bh 31Vị ấy đã sống ở giữa gia đình trong sáu ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Ruci, Suruci, và Rativaḍḍhana.
Inda-bh 32Có không dưới ba mươi ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Sucittā. Con trai tên là Suppabuddha.
Inda-bh 33Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, bậc Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng kiệu khiêng và đã thực hành hạnh nỗ lực sáu tháng.
Inda-bh 34Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân Vessabhū đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) cũng ở tại Aruṇa.
Inda-bh 35Soṇa và luôn cả Uttara đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Vessabhū tên là Upasanta.
Inda-bh 36Dāmā và luôn cả Samālā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là “Sālā.”
Inda-bh 37Sotthika và luôn cả Ramma đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Gotamī và Sirimā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 38Có chiều cao sáu mươi ratana tương đương với cây cột bằng vàng. Hào quang phát ra từ cơ thể giống như là ngọn lửa ở trên ngọn núi vào ban đêm.
Inda-bh 39Tuổi thọ của vị ấy được biết là đến sáu chục ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 40Sau khi đã hoằng khai Giáo Pháp, đã phân hạng dân chúng, và đã thiết lập con thuyền Chánh Pháp, vị ấy cùng với các Thinh Văn đã Niết Bàn.
Inda-bh 41Tất cả những người (đức Phật và các vị Thinh Văn), cách sinh hoạt, lề lối oai nghi đáng được chiêm ngưỡng, tất cả đều hoàn toàn biết mất; phải chăng tất cả các hành là trống không?
Inda-bh 42Đấng Chiến Thắng cao quý, bậc Đạo Sư Vessabhū đã Niết Bàn tại tu viện Khema. Đã có sự phân tán xá-lợi từ xứ sở ấy đến khắp các nơi.
Lịch sử đức Phật Vessabhū là phần thứ hai mươi mốt.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Tattheva maṇḍakappamhi, asamo appaṭipuggalo;
Vessabhū nāma nāmena, loke uppajji nāyako †.
In that very Maṇḍa eon, there arose in the world a leader named Vessabhū, one who was unequalled and incomparable.
Cũng trong kiếp Maṇḍa ấy, bậc Lãnh Đạo tên là Vessabhū, không ai sánh bằng, không có đối thủ, đã xuất hiện ở thế gian.
2.
2.
2.
Ādittaṃ vata rāgaggi, taṇhānaṃ vijitaṃ tadā;
Nāgova bandhanaṃ chetvā, patto sambodhimuttamaṃ.
Like a great elephant breaking its bonds, he cut through the domain of craving, which blazes with the fire of lust, and attained supreme enlightenment.
Thế gian lúc bấy giờ bị bốc cháy bởi ngọn lửa tham ái, là vương quốc của ái dục. Giống như con voi chúa phá tan xiềng xích, ngài đã đạt đến sự Giác Ngộ tối thượng.
3.
3.
3.
Dhammacakkaṃ pavattente, vessabhūlokanāyake;
Asītikoṭisahassānaṃ, paṭhamābhisamayo ahu.
When the Wheel of Dhamma was set in motion by Vessabhū, the leader of the world, the first realization occurred for eighty thousand koṭis of beings.
Khi đức Vessabhū, bậc Lãnh Đạo thế gian, chuyển Pháp luân, đã có sự chứng ngộ đầu tiên cho tám trăm tỷ chúng sanh.
4.
4.
4.
Pakkante cārikaṃ raṭṭhe, lokajeṭṭhe narāsabhe;
Sattatikoṭisahassānaṃ, dutiyābhisamayo ahu.
When that elder of the world, that bull among men, was journeying on tour in the country, the second realization occurred for seventy thousand koṭis of beings.
Khi bậc Trưởng Thượng của thế gian, bậc Ngưu Vương trong loài người, du hành trong xứ, đã có sự chứng ngộ thứ hai cho bảy trăm tỷ chúng sanh.
5.
5.
5.
Mahādiṭṭhiṃ vinodento, pāṭiheraṃ karoti so;
Samāgatā naramarū, dasasahassī sadevake.
When humans and gods from the ten-thousand-world system, together with its devas, had assembled, he, dispelling a great wrong view, performed a miracle.
Ngài đã thực hiện phép lạ, xua tan tà kiến lớn lao. Chư Thiên và nhân loại từ mười ngàn thế giới cùng với các vị trời đã tụ hội lại.
6.
6.
6.
Mahāacchariyaṃ disvā, abbhutaṃ lomahaṃsanaṃ;
Devā ceva manussā ca, bujjhare saṭṭhikoṭiyo.
Seeing that great, unprecedented, and hair-raising wonder, sixty koṭis of devas and humans awakened to the truth.
Sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu vĩ đại, chưa từng có, và làm dựng tóc gáy, sáu trăm triệu chư Thiên và nhân loại đã giác ngộ.
7.
7.
7.
Sannipātā tayo āsuṃ, vessabhussa mahesino;
Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ, santacittāna tādinaṃ.
There were three assemblies for the great sage Vessabhū: of Arahants whose taints were destroyed, who were stainless, of peaceful mind, and imperturbable.
Đã có ba cuộc hội họp của các vị A-la-hán, những vị đã diệt tận các lậu hoặc, không còn cấu uế, có tâm an tịnh, và không còn dao động, (đây là các vị) của đức Đại Ẩn Sĩ Vessabhū.
8.
8.
8.
Asītibhikkhusahassānaṃ, paṭhamo āsi samāgamo;
Sattatibhikkhusahassānaṃ, dutiyo āsi samāgamo.
The first assembly was of eighty thousand monks; the second assembly was of seventy thousand monks.
Cuộc hội họp đầu tiên là của tám mươi ngàn vị Tỳ-kheo. Cuộc hội họp thứ hai là của bảy mươi ngàn vị Tỳ-kheo.
9.
9.
9.
Saṭṭhibhikkhusahassānaṃ, tatiyo āsi samāgamo;
Jarādibhayabhītānaṃ, orasānaṃ mahesino.
The third assembly was of sixty thousand monks, the great sage’s own spiritual sons, who were fearful of the dangers of old age and so on.
Cuộc hội họp thứ ba là của sáu mươi ngàn vị Tỳ-kheo, những người con của đức Đại Ẩn Sĩ, những vị sợ hãi các hiểm nguy như tuổi già.
10.
10.
10.
Ahaṃ tena samayena, sudassano nāma khattiyo;
Nimantetvā mahāvīraṃ, dānaṃ datvā mahārahaṃ;
Annapānena vatthena, sasaṅghaṃ jina pūjayiṃ.
At that time, I was a khattiya named Sudassana. Having invited the great hero with his Sangha and given a gift of great value, I honored the Victor and his Sangha with food, drink, and robes.
Vào lúc ấy, ta là vị vua tên Sudassana; sau khi thỉnh mời bậc Đại Hùng, sau khi dâng cúng vật thí vô giá; ta đã cúng dường bậc Toàn Giác cùng với Tăng chúng bằng vật thực, thức uống, và y phục.
11.
11.
11.
Tassa buddhassa asamassa, cakkaṃ vattitamuttamaṃ;
Sutvāna paṇitaṃ dhammaṃ, pabbajjamabhirocayiṃ.
Having heard the supreme Wheel set in motion by that unequalled Buddha and the sublime Dhamma, I came to delight in the going forth.
Sau khi đã nghe Pháp luân tối thượng được chuyển vận và giáo pháp vi diệu của đức Phật vô song ấy, ta đã vô cùng hoan hỷ về sự xuất gia.
12.
12.
12.
Mahādānaṃ pavattetvā, rattindivamatandito;
Pabbajjaṃ guṇasampannaṃ, pabbajiṃ jinasantike.
Having performed great giving tirelessly day and night, I undertook the going forth, which is endowed with virtue, in the presence of the Victor.
Sau khi đã thực hiện đại thí, không mệt mỏi ngày đêm, (nhận thấy) sự xuất gia đầy đủ đức hạnh, ta đã xuất gia ở nơi đức Toàn Giác.
13.
13.
13.
Ācāraguṇasampanno, vattasīlasamāhito;
Sabbaññutaṃ gavesanto, ramāmi jinasāsane.
Endowed with the virtue of good conduct, composed in observances and morality, and seeking omniscience, I delighted in the Victor’s Dispensation.
Là người đầy đủ đức hạnh và phẩm cách, an trú trong giới và hạnh, trong khi tìm cầu trí tuệ toàn giác, ta hoan hỷ trong giáo pháp của bậc Toàn Giác.
14.
14.
14.
Saddhāpītiṃ upagantvā, buddhaṃ vandāmi sattharaṃ;
Pīti uppajjati mayhaṃ, bodhiyāyeva kāraṇā.
Having attained faith and joy, I venerated the Buddha, the Teacher. Joy arose in me only for the sake of enlightenment.
Sau khi đã đạt đến tín và hỷ, ta đảnh lễ đức Phật là bậc Đạo Sư. Hỷ của ta phát sanh chỉ vì nhân duyên là sự giác ngộ.
15.
15.
15.
Anivattamānasaṃ ñatvā, sambuddho etadabravi;
‘‘Ekatiṃse ito kappe, ayaṃ buddho bhavissati.
Knowing my mind would not turn back, the Perfectly Enlightened One said this: ‘In the thirty-first eon from now, this one will become a Buddha.’
Đức Chánh Đẳng Giác, sau khi biết được tâm không thoái chuyển (của ta), đã nói lời này: ‘Kể từ kiếp này, vào kiếp thứ ba mươi mốt, vị này sẽ trở thành một vị Phật.’
16.
16.
16.
‘‘Ahu kapilavhayā rammā…pe… hessāma sammukhā imaṃ’’.
‘There was a delightful city named Kapila … we will come face to face with this one.’
‘(Vị ấy) sẽ xuất thân từ thành Kapilavatthu đáng hoan hỷ ... (chúng tôi nguyện) sẽ có mặt trước sự hiện diện của vị này.’
17.
17.
17.
Tassāhaṃ vacanaṃ sutvā, bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ;
Uttariṃ vatamadhiṭṭhāsiṃ, dasapāramipūriyā.
Having heard his words, my mind became even more serene. I undertook a further vow in order to fulfill the ten perfections.
Ta, sau khi nghe lời của vị ấy, đã làm cho tâm càng thêm trong sạch. Ta đã quyết tâm thực hành hạnh nguyện cao thượng hơn để làm cho viên mãn mười pháp ba-la-mật.
18.
18.
18.
Anomaṃ nāma nagaraṃ, suppatīto nāma khattiyo;
Mātā yasavatī nāma, vessabhussa mahesino.
For the great sage Vessabhū, the city was named Anoma, his father was the khattiya Suppatīta, and his mother was named Yasavatī.
Thành phố tên là Anoma, vị vua (phụ thân) tên là Suppatīta, mẫu thân tên là Yasavatī, (đó là) của bậc Đại Sĩ Vesabhū.
19.
19.
19.
Cha ca vassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi;
Ruci suruci rativaḍḍhano, tayo pāsādamuttamā.
He lived the household life for six thousand years. Ruci, Suruci, and Rativaḍḍhana were the three excellent palaces.
Và vị ấy đã sống tại gia sáu ngàn năm. Có ba lâu đài tối thượng là: Ruci, Suruci, và Rativaḍḍhana.
20.
20.
20.
Anūnatiṃsasahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Sucittā nāma sā nārī, suppabuddho nāma atrajo.
There were thirty thousand well-adorned ladies. The queen was named Sucittā, and the son was named Suppabuddha.
Có ba mươi ngàn không thiếu các cung nữ được trang điểm lộng lẫy. Vị chánh phi ấy tên là Sucittā, con trai tên là Suppabuddha.
21.
21.
21.
Nimitte caturo disvā, sivikāyābhinikkhami;
Chamāsaṃ padhānacāraṃ, acarī purisuttamo.
The supreme man, having seen the four signs, went forth by palanquin. For six months, he practiced the striving.
Sau khi nhìn thấy bốn điềm tướng, bậc Tối Thượng Nhân đã xuất gia bằng kiệu. Vị ấy đã thực hành sự tinh tấn trong sáu tháng.
22.
22.
22.
Brahmunā yācito santo, vessabhūlokanāyako;
Vatti cakkaṃ mahāvīro, aruṇārāme naruttamo.
Requested by Brahmā, the serene Vessabhū, leader of the world, the great hero, supreme among men, set the Wheel in motion in the Aruṇa Park.
Là bậc tịch tịnh, được Phạm thiên thỉnh cầu, đức Vesabhū, vị Lãnh Đạo thế gian, bậc Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân, đã chuyển vận Pháp luân tại khu vườn Aruṇā.
23.
23.
23.
Soṇo ca uttaro ceva, ahesuṃ aggasāvakā;
Upasanto nāmupaṭṭhāko, vessabhussa mahesino.
Soṇa and Uttara were the chief disciples; Upasanta was the attendant of the great sage Vessabhū.
Soṇa và Uttara là các vị Thượng thủ Thinh văn. Vị thị giả tên là Upasanta, (đó là) của bậc Đại Sĩ Vesabhū.
24.
24.
24.
Rāmā † ceva samālā ca, ahesuṃ aggasāvikā;
Bodhi tassa bhagavato, mahāsāloti vuccati.
Rāmā and Samālā were the chief female disciples. The Bodhi tree of that Blessed One is called the Great Sāla.
Rāmā và Samālā là các vị Thượng thủ Nữ Thinh văn. Cây Bồ-đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là cây Sāla lớn.
25.
25.
25.
Sotthiko ceva rambho ca, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Gotamī sirimā ceva, ahesuṃ aggupaṭṭhikā.
Sotthika and Rambha were the chief male lay supporters; Gotamī and Sirimā were the chief female lay supporters.
Sotthika và Rambha là các vị Thượng thủ hộ độ nam. Gotamī và Sirimā là các vị Thượng thủ hộ độ nữ.
26.
26.
26.
Saṭṭhiratanamubbedho, hemayūpasamūpamo;
Kāyā niccharati rasmi, rattiṃva pabbate sikhī.
He was sixty cubits in height, like a golden sacrificial post. Radiance issued from his body, like a flame on a mountain at night.
Ngài cao sáu mươi ratana, tương tự như cột trụ bằng vàng. Hào quang phát ra từ thân của Ngài, giống như ngọn lửa trên núi vào ban đêm.
27.
27.
27.
Saṭṭhivassasahassāni, āyu tassa mahesino;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
The lifespan of that great sage was sixty thousand years. Remaining for that long, he ferried a great many people across.
Tuổi thọ của bậc Đại Sĩ ấy là sáu mươi ngàn năm. Trong khi còn tại thế chừng ấy thời gian, vị ấy đã cứu độ nhiều chúng sanh.
28.
28.
28.
Dhammaṃ vitthārikaṃ katvā, vibhajitvā mahājanaṃ;
Dhammanāvaṃ ṭhapetvāna, nibbuto so sasāvako.
Having made the Dhamma widespread, having classified the great populace, and having established the ship of the Dhamma, he attained Parinibbāna together with his disciples.
Sau khi làm cho giáo pháp được rộng khắp, sau khi đã phân loại đại chúng, sau khi đã thiết lập con thuyền Pháp, vị ấy cùng với các vị Thinh văn đã nhập Niết-bàn.
29.
29.
29.
Dassaneyyaṃ sabbajanaṃ, vihāraṃ iriyāpathaṃ;
Sabbaṃ tamantarahitaṃ, nanu rittā sabbasaṅkhārā.
The delightful assembly of all people, the monastery with its graceful deportment—all that has vanished. Surely, all conditioned formations are empty.
Tất cả chúng sanh đáng chiêm ngưỡng, tịnh xá, và oai nghi, tất cả những thứ ấy đã biến mất. Ôi! Chẳng phải tất cả các pháp hữu vi đều là trống rỗng sao?
30.
30.
30.
Vessabhū jinavaro satthā, khemārāmamhi nibbuto;
Dhātuvitthārikaṃ āsi, tesu tesu padesatoti.
The Teacher Vessabhū, the excellent Victor, attained Parinibbāna in the Khemārāma. His relics were widely distributed throughout the various regions.
Bậc Đạo Sư Vesabhū, bậc Toàn Giác tối thượng, đã nhập Niết-bàn tại khu vườn Khemā. Xá-lợi đã được phân bố rộng rãi ở những nơi này nơi kia.
The Twenty-first Chronicle: The Lineage of the Blessed One Vessabhū.
Phật sử của đức Thế Tôn Vesabhū, chương thứ hai mươi mốt.