Bản dịch
BV 20 — Lịch Sử Đức Phật Phussa
20. Phussabuddhavaṁsa
Inda-bh 1Cũng chính trong kiếp Maṇḍa ấy, đã có bậc Đạo Sư Phussa, là đấng Vô Thượng, không có vị tương tợ, không có ai sánh bằng, là bậc Lãnh Đạo hàng đầu của thế gian.
Inda-bh 2Sau khi đã hủy diệt tất cả bóng tối và tháo gỡ mạng lưới khổng lồ, trong lúc làm hài lòng thế gian luôn cả chư thiên, vị ấy cũng đã đổ cơn mưa bằng nước Bất Tử.
Inda-bh 3Trong khi (đức Phật) Phussa đang chuyển vận bánh xe Chánh Pháp ở lễ hội tinh tú, đã có sự lãnh hội lần thứ nhất là của một trăm ngàn koṭi vị.
Inda-bh 4Đã có sự lãnh hội lần thứ nhì là của chín chục trăm ngàn koṭi (chín triệu) vị. Đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của tám chục trăm ngàn (tám triệu) vị.
Inda-bh 5Và bậc Đại Ẩn Sĩ Phussa cũng đã có ba lần tụ hội gồm các bậc Lậu Tận không còn ô nhiễm có tâm thanh tịnh như thế ấy.
Inda-bh 6Đã có cuộc hội tụ thứ nhất của sáu chục trăm ngàn (sáu triệu). Đã có cuộc hội tụ thứ nhì của năm chục trăm ngàn (năm triệu).
Inda-bh 7Đã có cuộc hội tụ thứ ba của bốn chục trăm ngàn (bốn triệu) vị đã được giải thoát, không còn chấp thủ, có sự tái sanh đã được đoạn tận.
Inda-bh 8Vào lúc bấy giờ, ta là vị Sát-đế-lỵ tên Vijitāvi. Sau khi buông bỏ vương quốc rộng lớn, ta đã xuất gia trong sự chứng minh của vị ấy.
Inda-bh 9Bậc Lãnh Đạo hàng đầu của thế gian Phussa ấy cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong chín mươi hai kiếp tính từ thời điểm này, người này sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 10Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 11Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 12Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 13Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề, bậc Vô Thượng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Inda-bh 14Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 15Kolita và Upatissa sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng ấy.
Inda-bh 16Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 17Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 18Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 19Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 20“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 21Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 22Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 23Nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Inda-bh 24Sau khi học tập toàn bộ Kinh và luôn cả Luật tức là Giáo Pháp của bậc Đạo Sư gồm chín thể loại, ta đã làm rạng rỡ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.
Inda-bh 25Trong khi sống không xao lãng trong Giáo Pháp ấy, sau khi tu tập thiền Phạm Thiên và làm toàn hảo các thắng trí, ta đã đi đến thế giới của Phạm Thiên.
Inda-bh 26Thành phố có tên là Kāsika, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Jayasena, và người mẹ của vị Đại Ẩn Sĩ Phussa tên là Sirimā.
Inda-bh 27Vị ấy đã sống ở giữa gia đình chín ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Garuḷapakkha, Haṁsa, và Suvaṇṇabhārā.
Inda-bh 28Có ba mươi ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Kisāgotamī. Con trai tên là Anupama.
Inda-bh 29Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, bậc Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng phương tiện voi và đã thực hành hạnh nỗ lực sáu tháng.
Inda-bh 30Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, bậc Lãnh Đạo hàng đầu của thế gian Phussa, đấng Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) ở Migadāya (vườn nai).
Inda-bh 31Surakkhita và Dhammasena đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Phussa tên là Sabhiya.
Inda-bh 32Cālā và Upacālā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là “Āmaṇḍa.”
Inda-bh 33Dhanañcaya và Visākha đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Padumā và luôn cả Nāgā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 34Đạt đến chiều cao năm mươi tám ratana (14.5 m), được vẹn toàn như là mặt trăng (chúa của các vì sao), bậc Hiền Triết ấy cũng chiếu sáng tương tợ mặt trời.
Inda-bh 35Tuổi thọ được biết là kéo dài đến chín mươi ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 36Sau khi đã giáo giới nhiều chúng sanh và đã giúp cho nhiều người vượt qua, bậc Đạo Sư có danh tiếng vô song ấy cùng với các vị Thinh Văn đã Niết Bàn.
Inda-bh 37Đấng Chiến Thắng cao quý, bậc Đạo Sư Phussa đã Niết Bàn tại tu viện Sena. Đã có sự phân tán xá-lợi từ xứ sở ấy đến khắp các nơi.
Lịch sử đức Phật Phussa là phần thứ mười tám.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Tattheva maṇḍakappamhi, ahu satthā anuttaro;
Anupamo asamasamo, phusso lokagganāyako.
In that very Maṇḍa aeon, there arose the Teacher named Phussa, who was unsurpassed, incomparable, equal to the unequalled, and the foremost guide of the world.
Ngay trong kiếp Maṇḍa ấy, đã có bậc Đạo Sư vô thượng, Vô song, Vô tỷ, tên là Phussa, vị Lãnh Đạo Tối Thượng của thế gian.
2.
2.
2.
Sopi sabbaṃ tamaṃ hantvā, vijaṭetvā mahājaṭaṃ;
Sadevakaṃ tappayanto, abhivassi amatambunā.
He too, having dispelled all darkness and unravelled the great tangle, rained down the water of the Deathless, bringing contentment to the world with its devas.
Vị ấy, sau khi phá tan mọi bóng tối, gỡ rối đám rối lớn, đã làm cho thế giới chư Thiên và nhân loại được thỏa mãn bằng cách ban xuống cơn mưa nước bất tử.
3.
3.
3.
Dhammacakkaṃ pavattente, phusse nakkhattamaṅgale;
Koṭisatasahassānaṃ, paṭhamābhisamayo ahu.
When Phussa, whose name is an auspicious constellation, set the Wheel of Dhamma in motion, the first penetration of the truth occurred for one hundred thousand koṭis of beings.
Khi đức Phussa, bậc có điềm lành như chòm sao, chuyển Pháp luân, đã có sự chứng ngộ đầu tiên cho một trăm ngàn ức chúng sanh.
4.
4.
4.
Navutisatasahassānaṃ, dutiyābhisamayo ahu;
Asītisatasahassānaṃ, tatiyābhisamayo ahu.
The second penetration of the truth occurred for nine million beings; the third penetration of the truth occurred for eight million beings.
Đã có sự chứng ngộ lần thứ hai cho chín triệu chúng sanh, và sự chứng ngộ lần thứ ba cho tám triệu chúng sanh.
5.
5.
5.
Sannipātā tayo āsuṃ, phussassāpi mahesino;
Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ, santacittāna tādinaṃ.
There were three assemblies of the great seer Phussa, of those with cankers destroyed, who were stainless, of peaceful mind, and endowed with forbearance.
Đã có ba lần hội họp các vị Thinh văn của đức Phussa, bậc Đại Sĩ. (Họ là) những vị đã tận trừ lậu hoặc, không còn cấu uế, có tâm tịch tịnh, và vững vàng.
6.
6.
6.
Saṭṭhisatasahassānaṃ, paṭhamo āsi samāgamo;
Paññāsasatasahassānaṃ, dutiyo āsi samāgamo.
The first assembly was of six million Arahants; the second assembly was of five million Arahants.
Lần hội họp đầu tiên là của sáu triệu vị. Lần hội họp thứ hai là của năm triệu vị.
7.
7.
7.
Cattārīsasatasahassānaṃ, tatiyo āsi samāgamo;
Anupādā vimuttānaṃ, vocchinnapaṭisandhinaṃ.
The third assembly was of four million Arahants, liberated without clinging, for whom rebirth-linking had been cut off.
Lần hội họp thứ ba là của bốn triệu vị, những người không còn chấp thủ, đã được giải thoát, và đã đoạn tận sự tái sanh.
8.
8.
8.
Ahaṃ tena samayena, vijitāvī nāma khattiyo;
Chaḍḍayitvā mahārajjaṃ, pabbajiṃ tassa santike.
At that time, I was a khattiya named Vijitāvī. Having renounced a great kingdom, I went forth in His presence.
Vào thời điểm ấy, ta là một vị vua Sát-đế-lỵ tên là Vijitāvī. Sau khi từ bỏ vương quốc vĩ đại, ta đã xuất gia nơi sự hiện diện của ngài.
9.
9.
9.
Sopi maṃ buddho byākāsi, phusso lokagganāyako;
‘‘Dvenavute ito kappe, ayaṃ buddho bhavissati.
That Buddha also, Phussa, the foremost guide of the world, made a prediction concerning me: ‘Ninety-two aeons from now, this one will become a Buddha.’
Đức Phật Phussa ấy, vị Lãnh Đạo Tối Thượng của thế gian, cũng đã thọ ký cho ta rằng: 'Chín mươi hai kiếp kể từ đây, vị này sẽ trở thành một vị Phật.'
10.
10.
10.
‘‘Padhānaṃ padahitvāna…pe… hessāma sammukhā imaṃ’’.
‘Having exerted Himself in the striving… we shall be in the presence of this one.’
'Sau khi thực hành tinh tấn... (vân vân)... chúng ta sẽ diện kiến vị này.'
11.
11.
11.
Tassāpi vacanaṃ sutvā, bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ;
Uttariṃ vatamadhiṭṭhāsiṃ, dasapāramipūriyā.
Having heard His word of prediction, I made my mind exceedingly serene. I undertook a further vow in order to fulfill the ten perfections.
Sau khi nghe lời của vị ấy, ta đã làm cho tâm càng thêm trong sạch. Ta đã quyết tâm thực hành hạnh nguyện cao hơn để hoàn thiện mười pháp ba-la-mật.
12.
12.
12.
Suttantaṃ vinayañcāpi, navaṅgaṃ satthusāsanaṃ;
Sabbaṃ pariyāpuṇitvā, sobhayiṃ jinasāsanaṃ.
Having mastered the Suttanta and the Vinaya, the entire nine-limbed Teaching of the Master, I adorned the Dispensation of the Victor.
Sau khi học hỏi tất cả tạng Kinh, tạng Luật, và toàn bộ giáo pháp của bậc Đạo Sư gồm chín chi phần, ta đã làm rạng rỡ giáo pháp của bậc Thắng Giả.
13.
13.
13.
Tatthappamatto viharanto, brahmaṃ bhāvetva bhāvanaṃ;
Abhiññāsu pāramiṃ gantvā, brahmalokamagañchahaṃ.
Dwelling there diligently and having developed the meditation on the divine abidings, having gone to the perfection of the direct knowledges, I went to the Brahmā world.
Sống không phóng dật ở nơi đó, sau khi tu tập pháp tu Phạm trú và đạt đến sự toàn hảo trong các thắng trí, ta đã đi đến cõi Phạm thiên.
14.
14.
14.
Kāsikaṃ nāma nagaraṃ, jayaseno nāma khattiyo;
Sirimā nāma janikā, phussassāpi mahesino.
The city of the great seer Phussa was named Kāsika, His khattiya father was named Jayasena, and His mother was named Sirimā.
Kinh thành của đức Phussa, bậc Đại Sĩ, tên là Kāsika. Vị vua Sát-đế-lỵ (phụ thân) tên là Jayasena, và người mẹ tên là Sirimā.
15.
15.
15.
Navavassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi;
Garuḷapakkha haṃsa suvaṇṇabhārā, tayo pāsādamuttamā.
For nine thousand years He dwelt in the household. Garuḷapakkha, Haṃsa, and Suvaṇṇabhāra were His three excellent palaces.
Vị ấy đã sống tại gia trong chín ngàn năm. Có ba cung điện cao quý là Garuḷapakkha, Haṃsa, và Suvaṇṇabhārā.
16.
16.
16.
Tiṃsaitthisahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Kisāgotamī nāma nārī, anūpamo nāma atrajo.
There were thirty thousand well-adorned women. The wife was named Kisāgotamī, and the son was named Anūpama.
Có ba mươi ngàn cung nữ được trang điểm lộng lẫy. Người vợ tên là Kisāgotamī, người con trai tên là Anūpama.
17.
17.
17.
Nimitte caturo disvā, hatthiyānena nikkhami;
Chamāsaṃ padhānacāraṃ, acarī purisuttamo.
The supreme man, having seen the four signs, went forth by elephant vehicle; for six months He practiced the striving.
Bậc Tối Thượng Nhân sau khi nhìn thấy bốn điềm báo, đã xuất gia bằng xe voi; Ngài đã thực hành khổ hạnh trong suốt sáu tháng.
18.
18.
18.
Brahmunā yācito santo, phusso lokagganāyako;
Vatti cakkaṃ mahāvīro, migadāye naruttamo.
Requested by Brahmā, the serene Phussa, the foremost guide of the world, the great hero, the supreme among men, set the Wheel in motion in the Deer Park.
Bậc Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân, bậc Lãnh Đạo Cao Tột của thế gian là đức Phật Phussa, sau khi được Phạm Thiên thỉnh cầu, đã chuyển Pháp luân tại vườn Lộc Uyển.
19.
19.
19.
Surakkhito dhammaseno, ahesuṃ aggasāvakā;
Sabhiyo nāmupaṭṭhāko, phussassāpi mahesino.
Surakkhita and Dhammasena were the chief disciples; the attendant of the great seer Phussa was named Sabhiya.
Surakkhita và Dhammasena đã là hai vị Thượng thủ Thinh văn của đức Phật Phussa, bậc Đại Sĩ. Vị thị giả của Ngài tên là Sabhiya.
20.
20.
20.
Cālā ca upacālā ca, ahesuṃ aggasāvikā;
Bodhi tassa bhagavato, āmaṇḍoti pavuccati.
Cālā and Upacālā were the chief female disciples. The Bodhi tree of that Blessed One is said to be the Āmalaka tree.
Cālā và Upacālā đã là hai vị Thượng thủ Thinh văn Ni. Cây Bồ-đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là cây me rừng (āmalaka).
21.
21.
21.
Dhanañcayo visākho ca, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Padumā ceva nāgā ca, ahesuṃ aggupaṭṭhikā.
Dhanañcaya and Visākha were the chief male lay supporters; Padumā and Nāgā were the chief female lay supporters.
Dhanañcaya và Visākha đã là hai vị Thượng thủ hộ độ nam. Padumā và Nāgā đã là hai vị Thượng thủ hộ độ nữ.
22.
22.
22.
Aṭṭhapaṇṇāsaratanaṃ, sopi accuggato muni;
Sobhate sataraṃsīva, uḷurājāva pūrito.
That sage was fifty-eight cubits tall; He shone like the thousand-rayed sun and like the full moon, the king of stars.
Vị hiền triết ấy cũng cao năm mươi tám ratana; Ngài tỏa sáng rực rỡ như mặt trời ngàn tia, như trăng rằm viên mãn.
23.
23.
23.
Navutivassasahassāni, āyu vijjati tāvade;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
The lifespan at that time was ninety thousand years. Remaining for that long, He ferried many people across.
Vào thời ấy, tuổi thọ là chín mươi ngàn năm; Ngài trụ thế lâu như vậy, đã cứu độ rất nhiều chúng sanh.
24.
24.
24.
Ovaditvā bahū satte, santāretvā bahū jane;
Sopi satthā atulayaso, nibbuto so sasāvako.
Having advised many beings and having ferried many people across, that Teacher of incomparable renown, together with His disciples, attained Parinibbāna.
Vị Đạo Sư có danh tiếng vô song ấy, sau khi giáo huấn nhiều chúng sanh, giúp nhiều người vượt qua (bộc lưu), đã cùng với các vị Thinh văn nhập Niết-bàn.
25.
25.
25.
Phusso jinavaro satthā, senārāmamhi nibbuto;
Dhātuvitthārikaṃ āsi, tesu tesu padesatoti.
The noble Victor, the Teacher Phussa, attained Parinibbāna in the Senārāma. His relics were widely spread throughout the various regions.
Đức Phật Phussa, bậc Chiến Thắng, bậc Đạo Sư, đã nhập Niết-bàn tại tu viện Senārāma. Xá-lợi của Ngài đã được phân bố rộng rãi ở nhiều nơi.
The eighteenth chronicle, that of the Blessed One Phussa, is concluded.
Phật sử của đức Thế Tôn Phussa, chương thứ mười tám.