Bản dịch
BV 19 — Lịch Sử Đức Phật Tissa
19. Tissabuddhavaṁsa
Inda-bh 1Sau (đức Phật) Siddhattha, bậc Lãnh Đạo hàng đầu của thế gian Tissa là không ai sánh bằng, không người đối địch, có oai lực vô biên, có danh vọng vô lường.
Inda-bh 2Sau khi đã xua tan bóng đen tăm tối và chiếu sáng thế gian luôn cả các cõi trời, vị có lòng thương xót, đấng Đại Hùng, bậc Hữu Nhãn đã hiện khởi ở thế gian.
Inda-bh 3Cũng có thần thông vô song, giới và định vô song, sau khi đạt đến sự toàn hảo về mọi phương diện, vị ấy đã chuyển vận bánh xe Chánh Pháp.
Inda-bh 4Đức Phật ấy đã công bố lời diễn thuyết thanh tịnh ở trong mười ngàn thế giới. Hàng trăm koṭi vị đã lãnh hội trong cuộc thuyết giảng Giáo Pháp lần thứ nhất.
Inda-bh 5Lần thứ nhì là của chín mươi ngàn koṭi vị. Lần thứ ba là của sáu mươi ngàn koṭi vị. Khi ấy, Ngài đã giúp cho nhân loại và chư thiên đã tề tựu lại được giải thoát khỏi các sự trói buộc.
Inda-bh 6Bậc Lãnh Đạo hàng đầu của thế gian Tissa cũng đã có ba lần tụ hội gồm các vị Lậu Tận không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy.
Inda-bh 7Đã có cuộc hội tụ thứ nhất của một trăm ngàn bậc Lậu Tận. Đã có cuộc hội tụ thứ nhì của chín chục trăm ngàn (chín triệu) vị.
Inda-bh 8Đã có cuộc hội tụ thứ ba của tám chục trăm ngàn (tám triệu) bậc Lậu Tận, không còn ô nhiễm, đã nở hoa trong sự giải thoát.
Inda-bh 9Vào lúc bấy giờ, ta là vị Sát-đế-lỵ tên Sujāta. Sau khi buông bỏ tài sản lớn lao, ta đã xuất gia làm ẩn sĩ.
Inda-bh 10Khi ta đã xuất gia, đấng Lãnh Đạo Thế Gian đã xuất hiện. Sau khi nghe được tiếng nói rằng: “Đức Phật!” khi ấy phỉ lạc đã phát khởi ở ta.
Inda-bh 11Sau khi nắm lấy hoa Mạn-đà-la, hoa sen, hoa san hô của cõi trời bằng cả hai tay, ta đã vội vã đi đến.
Inda-bh 12Ta đã cầm lấy bông hoa ấy và đặt lên đỉnh đầu của đấng Chiến Thắng, bậc Lãnh Đạo hàng đầu của thế gian Tissa đang được vây quanh bởi bốn thành phần.1
Inda-bh 13Khi ấy, ngồi giữa mọi người đức Phật ấy cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong chín mươi hai kiếp tính từ thời điểm này, người này sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 14Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 15Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 16Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 17Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề, bậc Vô Thượng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Inda-bh 18Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 19Kolita và Upatissa sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng ấy.
Inda-bh 20Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 21Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 22Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 23Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 24“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 25Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 26Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 27Nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Inda-bh 28Thành phố có tên là Khemaka, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Janasandha, người mẹ của bậc Đại Ẩn Sĩ Tissa tên là Padumā.
Inda-bh 29Vị ấy đã sống ở giữa gia đình bảy ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Guhā, Selanāri, Nisabhā.
Inda-bh 30Có đầy đủ ba mươi ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Subhaddā. Con trai tên là Ānanda.
Inda-bh 31Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện ngựa và đã ra sức nỗ lực tám tháng không thiếu sót.
Inda-bh 32Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, bậc Lãnh Đạo hàng đầu của thế gian Tissa, đấng Đại Hùng đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) ở khu rừng tuyệt vời Yasavatī.
Inda-bh 33Brahmadeva và Udaya đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Tissa tên là Samaṅga.
Inda-bh 34Phussā và luôn cả Sudattā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là “Asana.”
Inda-bh 35Sambala và luôn cả Sirīsẽ là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Kīsāgotamī và Upasenā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 36Cao sáu mươi ratana (15 mét), đức Phật, đấng Chiến Thắng ấy, không có vị tương đương, không có ai sánh bằng, được nhìn thấy như là núi Hy-mã-lạp.
Inda-bh 37Tuổi thọ của vị có oai lực vô song ấy là tối thắng.1 Bậc Hữu Nhãn đã tồn tại ở thế gian một trăm ngàn năm.
Inda-bh 38Sau khi đã thọ hưởng danh vọng lớn lao, tối thượng, cao quý, nhất hạng, vị ấy đã rực cháy như là khối lửa rồi đã Niết Bàn cùng với các vị Thinh Văn.
Inda-bh 39Tương tợ như đám mây (biến mất) bởi làn gió, như là làn sương (biến mất) bởi mặt trời, như là bóng tối (biến mất) bởi ngọn đèn, vị ấy cùng với các Thinh Văn đã Niết Bàn.
Inda-bh 40Đức Phật, đấng Chiến Thắng cao quý Tissa đã Niết Bàn tại tu viện Nanda. Ngôi bảo tháp của đấng Chiến Thắng dành cho vị ấy đã được dựng lên cao ba do-tuần ở ngay tại nơi ấy.
Lịch sử đức Phật Tissa là phần thứ mười bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Siddhatthassa aparena, asamo appaṭipuggalo;
Anantatejo amitayaso, tisso lokagganāyako.
After Siddhattha, there arose the supreme guide of the world named Tissa, who was unequalled, peerless, of infinite power, and of immeasurable fame.
Sau (thời của đức Phật) Siddhattha, (đã có) bậc Lãnh Đạo Tối Thượng của thế gian tên là Tissa, không ai sánh bằng, không có đối thủ, có uy lực vô biên, có danh tiếng vô lượng.
2.
2.
2.
Tamandhakāraṃ vidhamitvā, obhāsetvā sadevakaṃ;
Anukampako mahāvīro, loke uppajji cakkhumā.
Having dispelled the darkness of ignorance and illuminated the world with its devas, the compassionate Great Hero, the One with Vision, arose in the world.
Bậc có lòng bi mẫn, bậc Đại Hùng, bậc có Mắt (Trí tuệ) đã xuất hiện trên thế gian, sau khi xua tan bóng tối (vô minh) và làm cho thế giới cùng với chư Thiên tỏa sáng.
3.
3.
3.
Tassāpi atulā iddhi, atulaṃ sīlaṃ samādhi ca;
Sabbattha pāramiṃ gantvā, dhammacakkaṃ pavattayi.
His spiritual power was incomparable, and incomparable too were his virtue and concentration. Having reached perfection in all things, he set in motion the Wheel of Dhamma.
Vị ấy cũng có thần thông không thể so lường, giới và định không thể so lường; sau khi đạt đến sự Ba-la-mật trong tất cả, Ngài đã chuyển Pháp luân.
4.
4.
4.
So buddho dasasahassimhi, viññāpesi giraṃ suciṃ;
Koṭisatāni abhisamiṃsu, paṭhame dhammadesane.
That Buddha made known his pure utterance in the ten-thousandfold world-system. At the first Dhamma discourse, one hundred koṭis of beings attained full understanding.
Đức Phật ấy đã làm cho lời nói thanh tịnh được hiểu rõ trong mười ngàn thế giới; trong lần thuyết Pháp đầu tiên, một trăm koṭi (chúng sanh) đã chứng ngộ.
5.
5.
5.
Dutiyo navutikoṭīnaṃ, tatiyo saṭṭhikoṭiyo;
Bandhanāto pamocesi, satte † naramarū tadā.
The second full understanding was for ninety koṭis, and the third for sixty koṭis. At that time, he liberated beings—humans and devas—from their bonds.
Lần (chứng ngộ) thứ hai là của chín mươi koṭi, lần thứ ba là của sáu mươi koṭi; khi ấy Ngài đã giải thoát chúng sanh, người và trời, khỏi sự trói buộc.
6.
6.
6.
Sannipātā tayo āsuṃ, tisse lokagganāyake;
Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ, santacittāna tādinaṃ.
There were three assemblies during the time of Tissa, the supreme guide of the world: of those whose taints were destroyed, who were stainless, of tranquil mind, and steadfast.
Đã có ba cuộc hội họp của các bậc lậu tận, vô nhiễm, có tâm tịch tịnh, và bất động, dưới thời đức Tissa, bậc Lãnh Đạo Tối Thượng của thế gian.
7.
7.
7.
Khīṇāsavasatasahassānaṃ, paṭhamo āsi samāgamo;
Navutisatasahassānaṃ, dutiyo āsi samāgamo.
The first assembly was of one hundred thousand of those with cankers destroyed. The second assembly was of nine million of those with cankers destroyed.
Cuộc hội họp đầu tiên là của một trăm ngàn vị lậu tận; cuộc hội họp thứ hai là của chín mươi trăm ngàn (chín triệu) vị lậu tận.
8.
8.
8.
Asītisatasahassānaṃ, tatiyo āsi samāgamo;
Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ, pupphitānaṃ vimuttiyā.
The third assembly was of eight million of those with cankers destroyed, who were stainless and had blossomed through liberation.
Cuộc hội họp thứ ba là của tám mươi trăm ngàn (tám triệu) vị lậu tận, những bậc vô nhiễm, đã nở rộ bằng sự giải thoát.
9.
9.
9.
Ahaṃ tena samayena, sujāto nāma khattiyo;
Mahābhogaṃ chaḍḍayitvā, pabbajiṃ isipabbajaṃ.
At that time, I was a khattiya named Sujāta. Having renounced great wealth, I went forth into the ascetic life of a seer.
Vào lúc ấy, ta là một vị vua Sát-đế-lỵ tên là Sujāta; sau khi từ bỏ tài sản lớn, ta đã xuất gia sống đời ẩn sĩ.
10.
10.
10.
Mayi pabbajite sante, uppajji lokanāyako;
Buddhoti saddaṃ sutvāna, pīti me upapajjatha.
While I was living as one who had gone forth, the Leader of the World arose. Hearing the sound ‘Buddha,’ joy arose in me.
Khi ta đã xuất gia, bậc Lãnh Đạo Thế Gian đã xuất hiện; sau khi nghe âm thanh “Phật,” hỷ lạc đã khởi sanh trong ta.
11.
11.
11.
Dibbaṃ mandāravaṃ pupphaṃ, padumaṃ pārichattakaṃ;
Ubho hatthehi paggayha, dhunamāno upāgamiṃ.
Lifting a divine Mandārava flower, a Paduma lotus, and a Pārichattaka flower with both hands, I approached, shaking my bark-cloth garments.
Ta đã nâng hoa mandārava, hoa sen, hoa pārichattaka của cõi trời bằng cả hai tay, và giũ (y) đã đến gần (Ngài).
12.
12.
12.
Catuvaṇṇaparivutaṃ, tissaṃ lokagganāyakaṃ;
Tamahaṃ pupphaṃ gahetvā, matthake dhārayiṃ jinaṃ.
Having taken that flower, I placed it on the head of the Victor, Tissa, the supreme guide of the world, who was surrounded by the four castes.
Ta đã lấy những hoa ấy và đặt lên đầu của bậc Chinh Phục Tissa, bậc Lãnh Đạo Tối Thượng của thế gian, đang được bốn giai cấp vây quanh.
13.
13.
13.
Sopi maṃ buddho byākāsi, janamajjhe nisīdiya;
‘‘Dvenavute ito kappe, ayaṃ buddho bhavissati.
Seated in the midst of the people, that Buddha also made a prediction concerning me: ‘Ninety-two aeons from now, this one will become a Buddha.’
Đức Phật ấy, đang ngồi giữa chúng sanh, cũng đã thọ ký cho ta rằng: “Trong chín mươi hai kiếp nữa kể từ đây, vị này sẽ trở thành một vị Phật.”
14.
14.
14.
‘‘Padhānaṃ padahitvāna…pe… hessāma sammukhā imaṃ’’.
‘Having striven in the great endeavor… we will be in his presence.’
“Sau khi nỗ lực tinh tấn… (vân vân)… chúng ta sẽ có mặt trước vị này.”
15.
15.
15.
Tassāpi vacanaṃ sutvā, bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ;
Uttariṃ vatamadhiṭṭhāsiṃ, dasapāramipūriyā.
Having heard his words, my mind became even more serene. I undertook a further vow for the fulfillment of the ten perfections.
Sau khi nghe lời của vị ấy, ta đã làm cho tâm mình trong sạch hơn nữa; ta đã quyết tâm thực hành các hạnh cao thượng hơn để hoàn thành mười Ba-la-mật.
16.
16.
16.
Khemakaṃ nāma nagaraṃ, janasandho nāma khattiyo;
Padumā nāma janikā, tissassa ca mahesino.
The city of the great seer Tissa was named Khemaka, the khattiya father was named Janasandha, and the mother was named Padumā.
Kinh thành tên là Khemaka, vị vua Sát-đế-lỵ tên là Janasandha; mẫu hậu tên là Padumā, (đây là) của bậc Đại Sĩ Tissa.
17.
17.
17.
Sattavassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi;
Guhāsela nārisaya nisabhā †, tayo pāsādamuttamā.
For seven thousand years he dwelt in the household life. Guhāsela, Nārisaya, and Nisabha were his three excellent palaces.
Vị ấy đã sống tại gia trong bảy ngàn năm. Có ba cung điện cao quý là Guhāsela, Nārisaya, và Nisabhā.
18.
18.
18.
Samatiṃsasahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Subhaddānāmikā nārī, ānando nāma atrajo.
He was attended by thirty thousand well-adorned women. His wife was named Subhaddā, and his son was named Ānanda.
Có ba mươi ngàn cung nữ được trang điểm lộng lẫy. Người vợ tên là Subhaddā, người con trai tên là Ānanda.
19.
19.
19.
Nimitte caturo disvā, assayānena nikkhami;
Anūnaaṭṭhamāsāni, padhānaṃ padahī jino.
Having seen the four signs, he went forth by horse-drawn chariot. For a full eight months, the Victor strove in the great endeavor.
Sau khi nhìn thấy bốn điềm báo, ngài đã xuất gia bằng cỗ xe ngựa. Bậc Toàn Thắng đã thực hành khổ hạnh trong suốt tám tháng không gián đoạn.
20.
20.
20.
Brahmunā yācito santo, tisso lokagganāyako;
Vatti cakkaṃ mahāvīro, yasavatiyamuttame.
Requested by Brahmā, the serene Tissa, the great hero and supreme guide of the world, set the Wheel in motion in the excellent deer park of Yasavatī.
Được Phạm Thiên thỉnh cầu, bậc Tịch Tịnh, đức Tissa, vị Lãnh Đạo Tối Thượng của thế gian, bậc Đại Hùng đã chuyển Pháp luân tại khu vườn Yasavatī cao quý.
21.
21.
21.
Brahmadevo udayo ca, ahesuṃ aggasāvakā;
Samaṅgo nāmupaṭṭhāko, tissassa ca mahesino.
Brahmadeva and Udaya were the chief disciples. The attendant of the great seer Tissa was named Samaṅga.
Brahmadeva và Udaya là các vị Thượng thủ Thinh văn. Vị thị giả của đức Tissa, bậc Đại Sĩ, tên là Samaṅga.
22.
22.
22.
Phussā ceva sudattā ca, ahesuṃ aggasāvikā;
Bodhi tassa bhagavato, asanoti pavuccati.
Phussā and Sudattā were the chief female disciples. The Bodhi tree of that Blessed One is called the Asana.
Phussā và Sudattā là các vị Thượng thủ Thinh văn Ni. Cây Bồ-đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là cây asana.
23.
23.
23.
Sambalo ca sirimā ceva, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Kisāgotamī upasenā, ahesuṃ aggupaṭṭhikā.
Sambala and Sirimā were the chief male lay supporters; Kisāgotamī and Upasenā were the chief female lay supporters.
Sambala và Sirimā là các vị Thượng thủ hộ độ nam. Kisāgotamī và Upasenā là các vị Thượng thủ hộ độ nữ.
24.
24.
24.
So buddho saṭṭhiratano, ahu uccattane jino;
Anūpamo asadiso, himavā viya dissati.
That Buddha, the Victor, was sixty cubits in height. Incomparable and unequalled, he was visible like the Himavanta mountain.
Đức Phật, bậc Toàn Thắng ấy, có thân cao sáu mươi hắc-tay. Ngài là bậc Vô song, Vô tỷ, trông như núi Himavā.
25.
25.
25.
Tassāpi atulatejassa, āyu āsi anuttaro;
Vassasatasahassāni, loke aṭṭhāsi cakkhumā.
The lifespan of that one of incomparable power was supreme. The One with Vision remained in the world for one hundred thousand years.
Tuổi thọ của vị có oai lực vô song ấy là vô thượng. Bậc Hữu Nhãn đã trụ ở thế gian trong một trăm ngàn năm.
26.
26.
26.
Uttamaṃ pavaraṃ seṭṭhaṃ, anubhotvā mahāyasaṃ;
Jalitvā aggikkhandhova, nibbuto so sasāvako.
Having enjoyed great renown—supreme, noble, and best—and having blazed forth like a great mass of fire, He, together with His disciples, attained Parinibbāna.
Sau khi hưởng thụ danh tiếng lớn lao, tối thượng, cao quý, và ưu việt, vị ấy đã tỏa sáng như một khối lửa rồi cùng với các Thinh văn nhập Niết-bàn.
27.
27.
27.
Valāhakova anilena, sūriyena viya ussavo;
Andhakārova padīpena, nibbuto so sasāvako.
Like a cloud by the wind, like a dewdrop by the sun, and like darkness by a lamp, so He, together with His disciples, attained Parinibbāna.
Như đám mây tan bởi gió, như giọt sương tan bởi mặt trời, như bóng tối tan bởi ngọn đèn, vị ấy cùng với các Thinh văn đã nhập Niết-bàn.
28.
28.
28.
Tisso jinavaro buddho, nandārāmamhi nibbuto;
Tatthevassa jinathūpo, tīṇiyojanamuggatoti.
The noble Victor, the Buddha Tissa, attained Parinibbāna in the Nandā Park. In that very place, His Victor's stūpa is three yojanas high.
Đức Phật Tissa, bậc Thắng Giả cao quý, đã nhập Niết-bàn tại tu viện Nandārāma. Ngay tại nơi ấy, bảo tháp của bậc Thắng Giả cao đến ba do-tuần.
The seventeenth chronicle of the Blessed One Tissa.
Thiên thứ mười bảy về dòng dõi của đức Thế Tôn Tissa.