Bản dịch
BV 21 — Lịch Sử Đức Phật Vipassī
21 Vipassībuddhavaṁsa
Inda-bh 1Sau (đức Phật) Phussa, bậc Toàn Giác, đấng Tối Thượng Nhân, vị Hữu Nhãn tên Vipassī đã sanh lên ở thế gian.
Inda-bh 2Sau khi làm vỡ tung toàn bộ vô minh và đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng, Ngài đã đi đến thành phố Bandhumatī để chuyển vận bánh xe Chánh Pháp.
Inda-bh 3Bậc Lãnh Đạo đã chuyển vận bánh xe Chánh Pháp và đã giác ngộ cả hai người. Đã có sự lãnh hội lần thứ nhất là không thể nói được bằng cách tính đếm.
Inda-bh 4Vào lần khác nữa, bậc có danh tiếng vô hạn đã giảng giải về Chân Lý ở tại nơi ấy. Đã có sự lãnh hội lần thứ nhì là của tám mươi bốn ngàn vị.
Inda-bh 5Tám mươi bốn ngàn người đã xuất gia theo đấng Toàn Giác. Khi những người ấy đi đến tu viện, bậc Hữu Nhãn đã thuyết giảng Giáo Pháp đến họ.
Inda-bh 6Sau khi lắng nghe và an trú vào (đức Phật) đang thuyết giảng theo nhiều phương thức, các vị ấy cũng đã đạt đến Giáo Pháp cao quý; (đây) là sự lãnh hội lần thứ ba.
Inda-bh 7Bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī đã có ba lần tụ hội gồm các vị Lậu Tận không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy.
Inda-bh 8Cuộc hội tụ thứ nhất là của sáu mươi tám trăm ngàn (sáu triệu tám trăm ngàn) vị. Cuộc hội tụ thứ nhì là của một trăm ngàn vị tỳ khưu.
Inda-bh 9Cuộc hội tụ thứ ba là của tám mươi ngàn vị tỳ khưu. Tại nơi ấy, ở giữa tập thể tỳ khưu, đấng Toàn Giác đã chói sáng.
Inda-bh 10Vào lúc bấy giờ, ta là vị Long Vương tên Atula có đại thần lực, có phước báu, có luồng hào quang.
Inda-bh 11Khi ấy, trong lúc đang vây quanh (đức Phật) với vô số koṭi con rồng và đang trình tấu bằng các nhạc cụ của cõi trời, ta đã đi đến gặp đấng Tối Cao của thế gian.
Inda-bh 12Sau khi đi đến gặp đấng Toàn Giác, bậc Lãnh Đạo Thế Gian Vipassī, ta đã thỉnh cầu rồi đã dâng lên đấng Pháp Vương chiếc ghế bằng vàng được cẩn ngọc ma-ni, ngọc trai, châu báu, và được trang điểm với tất cả các đồ trang sức.
Inda-bh 13Đức Phật ấy, ngồi giữa hội chúng, cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong chín mươi mốt kiếp tính từ thời điểm này, người này sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 14Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 15Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 16Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 17Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề, bậc Vô Thượng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Inda-bh 18Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 19Kolita và Upatissa không còn lậu hoặc, tham ái đã lìa, có tâm an tịnh và định tĩnh sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.
Inda-bh 20Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 21Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 22Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 23Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 24“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 25Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 26Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 27Sau khi nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Inda-bh 28Thành phố có tên là Bandhumatī, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Bandhumā, người mẹ của vị Đại Ẩn Sĩ Vipassī tên là Bandhumatī.
Inda-bh 29Vị ấy đã sống ở giữa gia đình trong tám ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Nanda, Sunanda, và Sirimā.
30.Có bốn mươi ba ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Sutanā. Con trai là Samavattakkhandha.
Inda-bh 31Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện xe. Bậc Tối Thượng Nhân đã ra sức nỗ lực tám tháng không thiếu sót.
Inda-bh 32Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân Vipassī đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) ở Migadāya (vườn nai).
Inda-bh 33Khaṇḍa và vị tên Tissa đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī tên là Asoka.
Inda-bh 34Candā và Candamittā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là Pāṭalī.
Inda-bh 35Punabbasumitta và Nāga đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Sirimā và luôn cả Uttarā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 36Đấng Lãnh Đạo Thế Gian Vipassī có chiều cao tám mươi cánh tay (40 mét). Hào quang của vị ấy tỏa sáng bảy do-tuần ở xung quanh.
Inda-bh 37Tuổi thọ được biết là kéo dài đến tám mươi ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 38Vị ấy đã giải thoát sự trói buộc cho nhiều chư thiên và nhân loại. Ngài đã chỉ ra đạo lộ và không phải đạo lộ cho các phàm nhân còn lại.
Inda-bh 39Sau khi đã thị hiện ánh sáng và giảng giải về trạng thái Bất Tử, vị ấy đã rực cháy như là khối lửa rồi đã Niết Bàn cùng với các vị Thinh Văn.
Inda-bh 40Thần thông cao quý, phước báu cao quý, và (các) tướng trạng đã được đơm hoa, tất cả đều hoàn toàn biết mất; phải chăng tất cả các hành là trống không?
Inda-bh 41Đức Phật, bậc Chiến Thắng cao quý Vipassī đã Niết Bàn tại tu viện Sumitta. Ngôi bảo tháp cao quý dành cho vị ấy đã được dựng lên cao bảy do-tuần ở ngay tại nơi ấy.
Lịch sử đức Phật Vipassī là phần thứ mười chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Phussassa ca aparena, sambuddho dvipaduttamo;
Vipassī nāma nāmena, loke uppajji cakkhumā.
And after Phussa, the Fully Enlightened One, supreme among bipeds, named Vipassī, the Visionary One, arose in the world.
Và sau thời đức Phật Phussa, một vị Chánh Đẳng Giác, bậc tối thượng trong loài hai chân, bậc có thiên nhãn, tên là Vipassī, đã xuất hiện trên thế gian.
2.
2.
2.
Avijjaṃ sabbaṃ padāletvā, patto sambodhimuttamaṃ;
Dhammacakkaṃ pavattetuṃ, pakkāmi bandhumatīpuraṃ.
Having shattered all ignorance and attained supreme enlightenment, He journeyed to the city of Bandhumatī to set the Wheel of Dhamma in motion.
Sau khi phá tan tất cả vô minh, đạt đến sự giác ngộ tối thượng, Ngài đã đi đến thành Bandhumatī để chuyển Pháp luân.
3.
3.
3.
Dhammacakkaṃ pavattetvā, ubho bodhesi nāyako;
Gaṇanāya na vattabbo, paṭhamābhisamayo ahu.
Having set the Wheel of Dhamma in motion, the Leader awakened the two; the first realization was beyond enumeration.
Bậc Lãnh Đạo sau khi chuyển Pháp luân, đã làm cho cả hai vị (Khaṇḍa và Tissa) giác ngộ. Sự chứng ngộ đầu tiên (của chư thiên và nhân loại) đã xảy ra, không thể kể xiết.
4.
4.
4.
Punāparaṃ amitayaso, tattha saccaṃ pakāsayi;
Caturāsītisahassānaṃ, dutiyābhisamayo ahu.
Again, the one of limitless glory proclaimed the truth there; for eighty-four thousand, the second realization occurred.
Lại một lần nữa, bậc có danh tiếng vô lượng đã tuyên thuyết chân lý tại nơi đó. Sự chứng ngộ lần thứ hai của tám mươi bốn ngàn chúng sanh đã xảy ra.
5.
5.
5.
Caturāsītisahassāni, sambuddhaṃ anupabbajuṃ;
Tesamārāmapattānaṃ, dhammaṃ desesi cakkhumā.
Eighty-four thousand went forth following the Fully Enlightened One; to them, who had found delight in the monastic life, the Visionary One taught the Dhamma.
Tám mươi bốn ngàn người đã xuất gia theo đức Chánh Đẳng Giác. Bậc có thiên nhãn đã thuyết Pháp cho những vị đã đến tu viện ấy.
6.
6.
6.
Sabbākārena bhāsato, sutvā upanisādino †;
Tepi dhammavaraṃ gantvā, tatiyābhisamayo ahu.
For those attending upon him who speaks in all aspects, having heard the excellent Dhamma, for them too the third realization occurred.
Những vị ấy cũng, sau khi lắng nghe Pháp tối thượng từ Ngài, bậc thuyết giảng bằng mọi cách, sự chứng ngộ lần thứ ba đã xảy ra.
7.
7.
7.
Sannipātā tayo āsuṃ, vipassissa mahesino;
Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ, santacittāna tādinaṃ.
There were three assemblies for the great sage Vipassī, of those whose taints were destroyed, who were stainless, of peaceful mind, and steadfast.
Đã có ba lần hội chúng của đức Phật Vipassī, bậc Đại Sĩ, gồm các bậc A-la-hán đã tận diệt lậu hoặc, không còn cấu uế, có tâm tịch tịnh, và vững chãi.
8.
8.
8.
Aṭṭhasaṭṭhisatasahassānaṃ, paṭhamo āsi samāgamo;
Bhikkhusatasahassānaṃ, dutiyo āsi samāgamo.
The first gathering was of six million, eight hundred thousand; the second gathering was of one hundred thousand monks.
Lần hội chúng đầu tiên gồm sáu triệu tám trăm ngàn vị. Lần hội chúng thứ hai gồm một trăm ngàn vị tỳ-khưu.
9.
9.
9.
Asītibhikkhusahassānaṃ, tatiyo āsi samāgamo;
Tattha bhikkhugaṇamajjhe, sambuddho atirocati.
The third gathering was of eighty thousand monks; there, in the midst of the assembly of monks, the Fully Enlightened One shone resplendently.
Lần hội chúng thứ ba gồm tám mươi ngàn vị tỳ-khưu. Giữa hội chúng tỳ-khưu ấy, đức Chánh Đẳng Giác tỏa sáng rực rỡ.
10.
10.
10.
Ahaṃ tena samayena, nāgarājā mahiddhiko;
Atulo nāma nāmena, puññavanto jutindharo.
At that time, I was a nāga king of great psychic power, named Atula, meritorious and majestic.
Vào thời ấy, ta là một vị long vương có đại thần lực, tên là Atula, đầy phước báu và sáng chói.
11.
11.
11.
Nekānaṃ nāgakoṭīnaṃ, parivāretvānahaṃ tadā;
Vajjanto dibbaturiyehi, lokajeṭṭhaṃ upāgamiṃ.
Then, surrounded by many crores of nāgas and playing divine musical instruments, I approached the Chief of the World.
Khi ấy, ta được vây quanh bởi nhiều triệu long vương, với nhạc trời được trỗi lên, đã đi đến gần bậc Tối Thắng trong thế gian.
12.
12.
12.
Upasaṅkamitvā sambuddhaṃ, vipassiṃ lokanāyakaṃ;
Maṇimuttaratanakhacitaṃ, sabbābharaṇavibhūsitaṃ;
Having approached the Fully Enlightened One, Vipassī, the Leader of the World, with a seat inlaid with gems, pearls, and jewels, and adorned with every kind of ornament,
Sau khi đến gần đức Chánh Đẳng Giác Vipassī, bậc Lãnh Đạo thế gian, (tôi đã dâng cúng một chiếc ngai vàng) được khảm bằng ngọc, châu báu và đá quý, được trang hoàng với mọi loại trang sức;
Nimantetvā dhammarājassa, suvaṇṇapīṭhamadāsahaṃ.
and having invited the King of Dhamma, I gave the golden seat.
Sau khi thỉnh mời bậc Pháp Vương, ta đã dâng cúng một chiếc ngai vàng.
13.
13.
13.
Sopi maṃ buddho byākāsi, saṅghamajjhe nisīdiya;
‘‘Ekanavutito kappe, ayaṃ buddho bhavissati.
That Buddha, seated in the midst of the Saṅgha, made this prophecy about me: ‘In the ninety-first eon from now, this one will become a Buddha.’
Đức Phật ấy, khi đang ngồi giữa Tăng chúng, cũng đã thọ ký cho ta rằng: “Kể từ đây sau chín mươi mốt kiếp, vị này sẽ trở thành một vị Phật.”
14.
14.
14.
‘‘Ahu kapilavhayā rammā, nikkhamitvā tathāgato;
Padhānaṃ padahitvāna, katvā dukkarakārikaṃ.
‘Having gone forth from the delightful city named Kapila, the Tathāgata, having exerted himself in the struggle and performed the difficult practice,’
“Bậc Như Lai sẽ xuất gia từ thành Kapilavatthu khả ái, sau khi nỗ lực tinh tấn, thực hành pháp khổ hạnh.”
15.
15.
15.
‘‘Ajapālarukkhamūlasmiṃ, nisīditvā tathāgato;
Tattha pāyāsaṃ paggayha, nerañjaramupehiti.
‘having sat down at the foot of the Ajapāla tree, the Tathāgata will there accept milk-rice and will approach the Nerañjarā river.’
“Bậc Như Lai sẽ ngồi dưới gốc cây Ajapāla (cây đa của người chăn dê), tại đó Ngài sẽ nhận món cháo sữa, rồi sẽ đi đến sông Nerañjarā.”
16.
16.
16.
‘‘Nerañjarāya tīramhi, pāyāsaṃ ada so jino;
Paṭiyattavaramaggena, bodhimūlamupehiti.
‘On the bank of the Nerañjarā, that Victor will eat the milk-rice; he will then approach the foot of the Bodhi tree by the excellent, prepared path.’
“Trên bờ sông Nerañjarā, bậc Chiến Thắng ấy sẽ dùng món cháo sữa; rồi bằng con đường tối thượng đã được chuẩn bị sẵn, Ngài sẽ đi đến gốc cây Bồ-đề.”
17.
17.
17.
‘‘Tato padakkhiṇaṃ katvā, bodhimaṇḍaṃ anuttaro;
Assatthamūle sambodhiṃ, bujjhissati mahāyaso.
‘Then, having circumambulated the Bodhi-terrace, the unsurpassed one, he of great fame, will awaken to full enlightenment at the foot of the Assattha tree.’
“Sau đó, bậc Vô Thượng, có danh tiếng lẫy lừng, sau khi đi nhiễu quanh Bồ-đề đoàn theo chiều phải, sẽ giác ngộ Chánh Đẳng Giác dưới gốc cây Assattha.”
18.
18.
18.
‘‘Imassa janikā mātā, māyā nāma bhavissati;
Pitā suddhodano nāma, ayaṃ hessati gotamo.
‘His birth mother will be named Māyā; his father will be named Suddhodana. This one will be Gotama.’
“Mẹ ruột của vị này sẽ tên là Māyā; cha sẽ tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.”
19.
19.
19.
‘‘Anāsavā vītarāgā, santacittā samāhitā;
Kolito upatisso ca, aggā hessanti sāvakā;
Ānando nāmupaṭṭhāko, upaṭṭhissatimaṃ jinaṃ.
‘Kolita and Upatissa will be the chief disciples—taintless, free from lust, with peaceful minds, and well-composed. An attendant named Ānanda will wait upon this Victor.’
“Kolita và Upatissa, các vị không còn lậu hoặc, đã ly tham, tâm được tịch tịnh, có định tĩnh, sẽ là các vị Thượng thủ Thinh văn. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ hầu hạ đấng Toàn Giác này.”
20.
20.
20.
‘‘Khemā uppalavaṇṇā ca, aggā hessanti sāvikā;
Anāsavā vītarāgā, santacittā samāhitā;
Bodhi tassa bhagavato, assatthoti pavuccati.
‘Khemā and Uppalavaṇṇā will be the chief female disciples—taintless, free from lust, with peaceful minds, and well-composed. The Bodhi tree of that Blessed One is called the Assattha.’
“Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là các vị Thượng thủ Nữ Thinh văn, các vị không còn lậu hoặc, đã ly tham, tâm được tịch tịnh, có định tĩnh. Cây Bồ đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là cây Assattha.”
21.
21.
21.
‘‘Citto ca hatthāḷavako, aggā hessantupaṭṭhakā;
Nandamātā ca uttarā, aggā hessantupaṭṭhikā;
Āyu vassasataṃ tassa, gotamassa yasassino.
‘Citta and Hatthāḷavaka will be his chief male lay supporters; Nandamātā and Uttarā will be his chief female lay supporters. The lifespan of that renowned Gotama will be one hundred years.’
“Citta và Hatthāḷavaka sẽ là các vị Thượng thủ nam cư sĩ hộ độ. Nandamātā và Uttarā sẽ là các vị Thượng thủ nữ cư sĩ hộ độ. Tuổi thọ của đức Gotama danh tiếng ấy sẽ là một trăm năm.”
22.
22.
22.
‘‘Idaṃ sutvāna vacanaṃ…pe… hessāma sammukhā imaṃ’’.
‘Having heard these words… we will be in the presence of this one.’
“Sau khi nghe được lời nói này... (v.v.)... chúng con sẽ được diện kiến Ngài.”
23.
23.
23.
Tassāhaṃ vacanaṃ sutvā, bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ;
Uttariṃ vatamadhiṭṭhāsiṃ, dasapāramipūriyā.
Having heard his words, I was all the more inspired in mind; I undertook a further vow for the fulfillment of the ten perfections.
Sau khi nghe lời của Ngài, ta đã làm cho tâm càng thêm tịnh tín. Ta đã phát nguyện thực hành hạnh nguyện cao thượng hơn để làm tròn mười pháp Ba-la-mật.
24.
24.
24.
Nagaraṃ bandhumatī nāma, bandhumā nāma khattiyo;
Mātā bandhumatī nāma, vipassissa mahesino.
The city of the great sage Vipassī was named Bandhumatī; the khattiya king was named Bandhumā, and his mother was named Bandhumatī.
Thành phố của bậc Đại Sĩ Vipassī tên là Bandhumatī, vị vua Sát-đế-lỵ tên là Bandhumā, mẫu hậu tên là Bandhumatī.
25.
25.
25.
Aṭṭhavassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi;
Nando sunando sirimā, tayo pāsādamuttamā.
For eight thousand years he lived the household life; Nanda, Sunanda, and Sirimā were his three superb palaces.
Vị ấy đã sống tại gia trong tám ngàn năm. Nanda, Sunanda, và Sirimā là ba tòa lâu đài cao quý.
26.
26.
26.
Ticattārīsasahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Sudassanā nāma sā nārī, samavattakkhandho nāma atrajo.
There were forty-three thousand well-adorned women. His wife was named Sudassanā, and his son was named Samavattakkhandha.
Có bốn mươi ba ngàn cung nữ được trang điểm lộng lẫy. Vị chánh hậu của ngài tên là Sudassanā, và con trai tên là Samavattakkhandha.
27.
27.
27.
Nimitte caturo disvā, rathayānena nikkhami;
Anūnaaṭṭhamāsāni, padhānaṃ padahī jino.
Having seen the four signs, the Victor went forth by chariot; for a full eight months He engaged in the struggle.
Sau khi nhìn thấy bốn điềm báo, đấng Toàn Giác đã xuất gia bằng xe ngựa. Ngài đã tinh tấn thực hành trong trọn vẹn tám tháng.
28.
28.
28.
Brahmunā yācito santo, vipassī lokanāyako;
Vatti cakkaṃ mahāvīro, migadāye naruttamo.
Requested by Brahmā, the serene Vipassī, the foremost guide of the world, the Great Hero, the supreme among men, set the Wheel in motion in the Deer Park.
Được Phạm thiên thỉnh cầu, bậc tịch tịnh Vipassī, vị Lãnh đạo thế gian, bậc Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân, đã chuyển Pháp luân tại vườn Migadāya (Lộc Uyển).
29.
29.
29.
Khaṇḍo ca tissanāmo ca, ahesuṃ aggasāvakā;
Asoko nāmupaṭṭhāko, vipassissa mahesino.
Khaṇḍa and Tissa were the chief disciples, and Asoka was the attendant of the great sage Vipassī.
Khaṇḍa và vị tên Tissa đã là các vị Thượng thủ Thinh văn. Vị thị giả của bậc Đại Sĩ Vipassī tên là Asoka.
30.
30.
30.
Candā ca candamittā ca, ahesuṃ aggasāvikā;
Bodhi tassa bhagavato, pāṭalīti pavuccati.
Candā and Candamittā were the chief female disciples. The Bodhi tree of that Blessed One is called the Pāṭalī tree.
Candā và Candamittā đã là các vị Thượng thủ Nữ Thinh văn. Cây Bồ đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là cây Pāṭalī.
31.
31.
31.
Punabbasumitto nāgo ca, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Sirimā uttarā ceva, ahesuṃ aggupaṭṭhikā.
Punabbasumitta and Nāga were the chief male lay supporters; Sirimā and Uttarā were the chief female lay supporters.
Punabbasumitta và Nāga đã là các vị Thượng thủ nam cư sĩ hộ độ. Sirimā và Uttarā đã là các vị Thượng thủ nữ cư sĩ hộ độ.
32.
32.
32.
Asītihatthamubbedho, vipassī lokanāyako;
Pabhā niddhāvati tassa, samantā sattayojane.
Vipassī, the leader of the world, was eighty cubits in height. His radiance spread out for seven leagues all around.
Đức Vipassī, vị Lãnh đạo thế gian, cao tám mươi hắc tay. Hào quang của Ngài tỏa ra xung quanh trong phạm vi bảy do-tuần.
33.
33.
33.
Asītivassasahassāni, āyu buddhassa tāvade;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
The lifespan of that Buddha was eighty thousand years. Remaining for that long, he ferried many beings across.
Vào lúc ấy, tuổi thọ của đức Phật là tám mươi ngàn năm. Trong khi trụ thế lâu như vậy, Ngài đã cứu vớt nhiều chúng sanh.
34.
34.
34.
Bahudevamanussānaṃ, bandhanā parimocayi;
Maggāmaggañca ācikkhi, avasesaputhujjane.
He released many devas and human beings from their bonds. To the remaining worldlings he pointed out the path and the non-path.
Ngài đã giải thoát nhiều chư thiên và nhân loại khỏi sự trói buộc. Ngài cũng đã chỉ dạy con đường và không phải con đường cho các phàm nhân còn lại.
35.
35.
35.
Ālokaṃ dassayitvāna, desetvā amataṃ padaṃ;
Jalitvā aggikkhandhova, nibbuto so sasāvako.
Having shown the light and taught the deathless state, blazing like a great mass of fire, he was extinguished along with his disciples.
Sau khi chỉ ra ánh sáng, sau khi thuyết giảng về cảnh giới bất tử, Ngài đã bừng sáng như một khối lửa rồi cùng với các vị Thinh văn nhập Vô Dư Niết-bàn.
36.
36.
36.
Iddhivaraṃ puññavaraṃ, lakkhaṇañca kusumitaṃ;
Sabbaṃ tamantarahitaṃ, nanu rittā sabbasaṅkhārā.
The excellence of psychic power, the excellence of merit, and the blossoming of the characteristic marks—all that has vanished. Indeed, are not all conditioned formations void?
Thần thông cao quý, phước báu cao quý, và thân tướng nở rộ các hảo tướng, tất cả những thứ ấy đã biến mất. Ôi, tất cả các pháp hữu vi quả là trống rỗng!
37.
37.
37.
Vipassī jinavaro buddho, sumittārāmamhi nibbuto;
Tatthevassa thūpavaro, sattayojanamussitoti.
The Victorious Buddha Vipassī attained final Nibbāna in the Sumitta Park. There his magnificent stūpa stood seven leagues in height.
Đức Phật Vipassī, bậc Toàn Giác cao quý, đã nhập Niết-bàn tại tu viện Sumittārāma. Chính tại nơi ấy, bảo tháp cao quý của Ngài cao đến bảy do-tuần.
The nineteenth chronicle, that of the Blessed One Vipassī, is concluded.
Phật sử về đức Thế Tôn Vipassī, chương thứ mười chín.