Bản dịch
BV 18 — Lịch Sử Đức Phật Siddhattha
18. Siddhatthabuddhavaṁsa
Inda-bh 1Sau (đức Phật) Dhammadassī, bậc Lãnh Đạo Thế Gian Siddhattha đã tiêu diệt tất cả tăm tối như là mặt trời đã mọc lên ở không trung.
Inda-bh 2Sau khi đạt được quả vị Toàn Giác, vị ấy cũng đã làm cơn mưa với đám mây Chánh Pháp giúp cho thế gian luôn cả chư thiên vượt qua, và tế độ thế gian luôn cả chư thiên chứng ngộ Niết Bàn.
Inda-bh 3Đối với vị có oai lực vô song ấy, cũng đã có ba sự lãnh hội. Sự lãnh hội lần thứ nhất là của một trăm ngàn koṭi vị.
Inda-bh 4Cũng vào dịp khác nữa, vào lúc Ngài gióng lên tiếng trống ở Bhīmaratha (quốc độ của sự kinh hoàng), khi ấy đã có sự lãnh hội lần thứ nhì là của chín mươi koṭi vị.
Inda-bh 5Vào lúc đức Phật, bậc Tối Thượng Nhân ấy, thuyết giảng Giáo Pháp ở Vebhāra, khi ấy đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của chín mươi koṭi vị.
Inda-bh 6Và bậc Tối Thượng của loài người ấy cũng đã có ba lần tụ hội gồm các vị Lậu Tận không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy:
Inda-bh 7Đây là ba số liệu về việc hội tụ của các vị không còn ô nhiễm: của một trăm koṭi vị, của chín mươi (koṭi) vị, và của tám mươi koṭi vị.
Inda-bh 8Vào lúc bấy giờ, ta là vị đạo sĩ khổ hạnh tên Maṅgala có oai lực cao tột, khó có ai vượt trội, đã thành tựu thiền định và năng lực của các thắng trí.
Inda-bh 9Sau khi mang lại trái cây từ cây Jambu,1 ta đã dâng đến (đức Phật) Siddhattha. Sau khi nhận lãnh, bậc Toàn Giác đã nói lên lời này:
Inda-bh 10“Các ngươi hãy nhìn vị đạo sĩ khổ hạnh tóc bện có khổ hạnh cao tột này. Trong chín mươi bốn kiếp tính từ thời điểm này, người này sẽ trở thành vị Phật
Inda-bh 11Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 12Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 13Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 14Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề, bậc Vô Thượng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Inda-bh 15Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 16Kolita và Upatissa sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng ấy.
Inda-bh 17Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 18Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 19Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 20Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 21“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 22Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 23Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 24Nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Inda-bh 25Thành phố có tên là Vebhāra, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Udena, người mẹ của bậc Đại Ẩn Sĩ Siddhattha tên là Suphassā.
Inda-bh 26Vị ấy đã sống ở giữa gia đình trong mười ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Kokā, Suppalā, và Kokanadā.
Inda-bh 27Có ba lần mười sáu ngàn (bốn mươi tám ngàn) phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Sumanā. Con trai tên là Anupama.
Inda-bh 28Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện kiệu khiêng và đã ra sức nỗ lực mười tháng không thiếu sót.
Inda-bh 29Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân Siddhattha đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) ở tại Migadāya (vườn nai).
Inda-bh 30Sambala và Sumitta đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Siddhattha tên là Revata.
Inda-bh 31Sīvalā và Surāmā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là “Kaṇikāra.”
Inda-bh 32Suppiya và Samudda đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Rammā và luôn cả Surammā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 33Vươn lên bầu trời (chiều cao) sáu mươi ratana (15 mét), đức Phật ấy chiếu sáng mười ngàn thế giới tương tợ như cột trụ bằng vàng có gắn tràng hoa.
Inda-bh 34Đức Phật ấy, vị tương đương với các bậc không thể sánh bằng, là bậc vô song, không người đối địch. Bậc Hữu Nhãn cũng đã tồn tại ở thế gian một trăm ngàn năm.
Inda-bh 35Sau khi thị hiện hào quang tuyệt vời và giúp cho các môn đồ đơm hoa kết trái. Sau khi đã được rạng rỡ với sự chứng ngộ, vị ấy cùng với các Thinh Văn đã Niết Bàn.
Inda-bh 36Đức Phật Siddhattha, đấng Hiền Triết cao quý đã Niết Bàn tại tu viện Anoma. Ngôi bảo tháp cao quý dành cho vị ấy đã được dựng lên cao bốn do-tuần ở ngay tại nơi ấy.
Lịch sử đức Phật Siddhattha là phần thứ mười sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Dhammadassissa aparena, siddhattho nāma nāyako;
Nihanitvā tamaṃ sabbaṃ, sūriyo abbhuggato yathā.
After Dhammadassī, there was a leader named Siddhattha who, having dispelled all darkness, arose like the rising sun.
Sau thời của Đức Phật Dhammadassī là Đức Phật Lãnh Đạo tên Siddhattha. Ngài đã diệt trừ tất cả bóng tối, như mặt trời mọc lên.
2.
2.
2.
Sopi patvāna sambodhiṃ, santārento sadevakaṃ;
Abhivassi dhammameghena, nibbāpento sadevakaṃ.
He too, having attained full enlightenment, ferried the world with its devas across. He rained down with the cloud of Dhamma, extinguishing the defilements for the world with its devas.
Vị ấy, sau khi chứng ngộ Chánh Đẳng Giác, đã giúp cho thế giới cùng với chư Thiên được vượt qua (biển khổ). Ngài đã ban mưa Pháp, dập tắt (phiền não) cho thế giới cùng với chư Thiên.
3.
3.
3.
Tassāpi atulatejassa, ahesuṃ abhisamayā tayo;
Koṭisatasahassānaṃ, paṭhamābhisamayo ahu.
For him of unequalled splendor, there were three realizations. The first realization was for one hundred thousand koṭis of beings.
Vị có uy lực không thể sánh bằng ấy đã có ba hội chúng chứng ngộ. Lần hội chứng ngộ thứ nhất là của một trăm ngàn koṭi (chúng sanh).
4.
4.
4.
Punāparaṃ bhīmarathe †, yadā āhani dundubhiṃ;
Tadā navutikoṭīnaṃ, dutiyābhisamayo ahu.
Furthermore, on another occasion, when he beat the drum of the Dhamma in Bhīmaratha, the second realization occurred for ninety koṭis.
Lại một lần nữa, khi ngài đánh trống Pháp tại thành Bhīmaratha, khi ấy đã có lần hội chứng ngộ thứ hai của chín mươi koṭi (chúng sanh).
5.
5.
5.
Yadā buddho dhammaṃ desesi, vebhāre so puruttame;
Tadā navutikoṭīnaṃ, tatiyābhisamayo ahu.
When that Buddha taught the Dhamma in Vebhāra, that best of cities, the third realization occurred for ninety koṭis.
Khi Đức Phật ấy thuyết Pháp tại Vebhāra, thành phố bậc nhất, khi ấy đã có lần hội chứng ngộ thứ ba của chín mươi koṭi (chúng sanh).
6.
6.
6.
Sannipātā tayo āsuṃ, tasmimpi dvipaduttame;
Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ, santacittāna tādinaṃ.
There were three assemblies for that supreme among bipeds: of those whose taints were destroyed, who were stainless, serene in mind, and steadfast.
Cũng đã có ba lần hội họp của các vị đã tận trừ lậu hoặc, không còn cấu uế, tâm tư tịch tịnh, và vững vàng không lay chuyển, trong thời của bậc Tối Thắng trong loài hai chân ấy.
7.
7.
7.
Koṭisatānaṃ navutīnaṃ †, asītiyāpi ca koṭinaṃ;
Ete āsuṃ tayo ṭhānā, vimalānaṃ samāgame.
Of one hundred koṭis, ninety koṭis, and eighty koṭis—these were the three assemblies of the stainless ones.
Trong các cuộc hội họp của những bậc không còn cấu uế, đã có ba lần: (lần thứ nhất) của một trăm koṭi vị, (lần thứ hai) của chín mươi koṭi vị, và (lần thứ ba) của tám mươi koṭi vị.
8.
8.
8.
Ahaṃ tena samayena, maṅgalo nāma tāpaso;
Uggatejo duppasaho, abhiññābalasamāhito.
At that time I was an ascetic named Maṅgala, of fierce power, difficult to overcome, and endowed with the power of supernormal knowledge.
Vào lúc bấy giờ, ta là một đạo sĩ tên Maṅgala, có uy lực mạnh mẽ, không thể bị khuất phục, và thành tựu năng lực của các pháp thắng trí.
9.
9.
9.
Jambuto phalamānetvā † siddhatthassa adāsahaṃ;
Paṭiggahetvā sambuddho, idaṃ vacanamabravi.
Having brought a fruit from the Jambu tree, I gave it to Siddhattha. The Perfectly Enlightened One, having accepted it, spoke this word:
Ta đã mang một quả cây trâm đến dâng cho Đức Phật Siddhattha. Sau khi thọ nhận, bậc Chánh Đẳng Giác đã nói lên lời này:
10.
10.
10.
‘‘Passatha imaṃ tāpasaṃ, jaṭilaṃ uggatāpanaṃ;
Catunnavutito kappe, ayaṃ buddho bhavissati.
‘Behold this matted-hair ascetic who practices fierce austerities. Ninety-four aeons from now, this one will become a Buddha.’
‘Hãy nhìn vị đạo sĩ bện tóc, thực hành khổ hạnh nghiêm khắc này. Kể từ nay, sau chín mươi bốn kiếp nữa, vị này sẽ thành Phật’.
11.
11.
11.
‘‘Padhānaṃ padahitvāna…pe… hessāma sammukhā imaṃ’’.
‘Having striven in the striving…’ [Hearing this, many aspired:] ‘We will be in his presence.’
‘Sau khi đã tinh tấn nỗ lực… chúng tôi sẽ được diện kiến vị này’.
12.
12.
12.
Tassāpi vacanaṃ sutvā, bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ;
Uttariṃ vatamadhiṭṭhāsiṃ, dasapāramipūriyā.
Having heard his word, I clarified my mind even more. I undertook a further vow in order to fulfill the ten perfections.
Sau khi nghe lời dạy của ngài, tôi đã làm cho tâm được tịnh tín hơn nữa. Tôi đã quyết tâm thực hành hạnh nguyện cao thượng hơn để làm tròn mười pháp Ba-la-mật.
13.
13.
13.
Vebhāraṃ nāma nagaraṃ, udeno nāma khattiyo;
Suphassā nāma janikā, siddhatthassa mahesino.
The city was named Vebhāra, the khattiya father was named Udena, and the mother of the great sage Siddhattha was named Suphassā.
Kinh thành tên là Vebhāra, vị vua Sát-đế-lỵ tên là Udena; mẫu hậu tên là Suphassā, (đây là) của bậc Đại Sĩ Siddhattha.
14.
14.
14.
Dasavassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi;
Kokāsuppalakokanadā, tayo pāsādamuttamā.
For ten thousand years he lived the household life. Kokā, Suppalā, and Kokanudā were his three excellent palaces.
Vị ấy đã sống tại gia trong mười ngàn năm; có ba tòa lâu đài cao quý là Kokā, Suppalā, và Kokanadā.
15.
15.
15.
Tisoḷasasahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Somanassā nāma sā nārī, anupamo nāma atrajo.
There were forty-eight thousand well-adorned women. The chief consort was named Somanassā, and the son was named Anupama.
Có bốn mươi tám ngàn cung nữ được trang điểm lộng lẫy; vị chánh hậu tên là Somanassā, người con trai tên là Anupama.
16.
16.
16.
Nimitte caturo disvā, sivikāyābhinikkhami;
Anūnadasamāsāni, padhānaṃ padahī jino.
Having seen the four signs, he went forth by palanquin. For ten full months, the Victor undertook the striving.
Bậc Chinh Phục, sau khi nhìn thấy bốn điềm báo, đã ra đi bằng kiệu; Ngài đã thực hành đại tinh tấn trong mười tháng không thiếu.
17.
17.
17.
Brahmunā yācito santo, siddhattho lokanāyako;
Vatti cakkaṃ mahāvīro, migadāye naruttamo.
Requested by Brahmā, the peaceful Siddhattha, leader of the world, the great hero, supreme among men, turned the Wheel in the Deer Park.
Được Phạm Thiên thỉnh cầu, bậc Thánh, bậc Lãnh Đạo Thế Gian Siddhattha, bậc Đại Hùng, bậc Tối Thượng Nhân đã chuyển Pháp luân tại vườn Lộc Uyển.
18.
18.
18.
Sambalo ca sumitto ca, ahesuṃ aggasāvakā;
Revato nāmupaṭṭhāko, siddhatthassa mahesino.
Sambala and Sumitta were the chief disciples. The attendant of the great sage Siddhattha was named Revata.
Sambala và Sumitta là hai vị Thượng thủ Thinh văn; vị thị giả tên là Revata, (đây là) của bậc Đại Sĩ Siddhattha.
19.
19.
19.
Sīvalā ca surāmā ca, ahesuṃ aggasāvikā;
Bodhi tassa bhagavato, kaṇikāroti vuccati.
Sīvalā and Surāmā were the chief female disciples. The Bodhi tree of that Blessed One is called the Kaṇikāra.
Sīvalā và Surāmā là hai vị Thượng thủ Thinh văn ni; cây Bồ-đề của Đức Thế Tôn ấy được gọi là cây mai gan (kaṇikāra).
20.
20.
20.
Suppiyo ca samuddo ca, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Rammā ceva surammā ca, ahesuṃ aggupaṭṭhikā.
Suppiya and Samudda were the chief male lay supporters; Rammā and Surammā were the chief female lay supporters.
Suppiya và Samudda là hai vị Thượng thủ hộ độ nam; Rammā và Surammā là hai vị Thượng thủ hộ độ nữ.
21.
21.
21.
So buddho saṭṭhiratanaṃ, ahosi nabhamuggato;
Kañcanagghiyasaṅkāso, dasasahassī virocati.
That Buddha was sixty cubits tall, rising up to the sky. Like a golden pillar, he illuminated the ten-thousandfold world-system.
Đức Phật ấy đã cao sáu mươi hắc-thủ, vươn lên không trung; giống như cột cờ bằng vàng, Ngài tỏa sáng rực rỡ trong mười ngàn thế giới.
22.
22.
22.
Sopi buddho asamasamo, atulo appaṭipuggalo;
Vassasatasahassāni, loke aṭṭhāsi cakkhumā.
That Buddha, equal to the unequalled, incomparable, and peerless, the One with Vision, remained in the world for one hundred thousand years.
Đức Phật ấy, bậc có Mắt (Trí tuệ), không ai sánh bằng, không thể so lường, không có đối thủ, đã trụ thế một trăm ngàn năm.
23.
23.
23.
Vipulaṃ pabhaṃ dassayitvā, pupphāpetvāna sāvake;
Vilāsetvā samāpatyā, nibbuto so sasāvako.
Having displayed a vast and excellent radiance, having caused the disciples to blossom, and having delighted in the noble attainments, he, together with his disciples, attained Parinibbāna.
Sau khi thị hiện ánh hào quang rộng lớn, làm cho các vị Thinh văn nở rộ, an hưởng các thiền chứng, vị ấy đã nhập Niết-bàn cùng với các vị Thinh văn.
24.
24.
24.
Siddhattho munivaro buddho, anomārāmamhi nibbuto;
Tatthevassa thūpavaro, catuyojanamuggatoti.
The Buddha Siddhattha, the most excellent of sages, attained Parinibbāna in the Anoma Park. In that very place, his excellent stūpa rose to a height of four yojanas.
Đức Phật Siddhattha, bậc Thánh Tối Thượng, đã nhập Niết-bàn tại vườn Anomā; ngay tại nơi ấy, bảo tháp cao quý của Ngài cao bốn do-tuần.
The sixteenth chronicle, that of the Blessed One Siddhattha, is concluded.
Phật sử thứ mười sáu về Đức Thế Tôn Siddhattha.