Bản dịch
BV 17 — Lịch Sử Đức Phật Dhammadassī
17 Dhammadassībuddhavaṁsa
Inda-bh 1Cũng chính trong kiếp Maṇḍa ấy, vị có danh tiếng lớn lao Dhammadassī đã xua tan bóng đêm tăm tối và chiếu sáng thế gian luôn cả các cõi trời.
Inda-bh 2Cũng trong việc chuyển vận bánh xe Chánh Pháp của vị có oai lực vô song ấy, đã có sự lãnh hội lần thứ nhất là của một trăm ngàn koṭi vị.
Inda-bh 3Vào lúc đức Phật Dhammadassī hướng dẫn vị ẩn sĩ Sañjaya, khi ấy đã có sự lãnh hội lần thứ nhì là của chín chục koṭi vị.
Inda-bh 4Vào lúc (Chúa Trời) Sakka cùng với tùy tùng đi đến gặp bậc Hướng Đạo, khi ấy đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của tám chục koṭi vị.
Inda-bh 5Đấng Thiên Nhân của chư thiên ấy cũng đã có ba lần tụ hội gồm các vị Lậu Tận không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy.
Inda-bh 6Lúc đức Phật Dhammadassī vào mùa (an cư) mưa ở Saraṇa, khi ấy đã có cuộc hội tụ thứ nhất của một ngàn koṭi vị.
Inda-bh 7Vào lần khác nữa, lúc đức Phật từ cõi trời đi đến cõi nhân loại, khi ấy cũng đã có cuộc hội tụ thứ nhì của một trăm koṭi vị.
Inda-bh 8Vào lần khác nữa, lúc đức Phật giảng giải về các đức hạnh là các pháp đầu-đà, khi ấy đã có cuộc hội tụ thứ ba của tám mươi koṭi vị.
Inda-bh 9Vào lúc bấy giờ, ta là (Chúa Trời) Sakka, (có danh hiệu là) Purindada. Ta đã cúng dường hương thơm của cõi trời, tràng hoa, nhạc cụ (đến đức Phật).
Inda-bh 10Lúc bấy giờ, đức Phật ấy ngồi ở giữa chư thiên cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong mười tám trăm (một ngàn tám trăm) kiếp, người này sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 11Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 12Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 13Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 14Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề, bậc Vô Thượng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Inda-bh 15Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 16Kolita và Upatissa sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng ấy.
Inda-bh 17Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 18Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 19Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 20Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 21“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 22Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 23Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 24Nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Ta đã thực hiện sự nỗ lực tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Inda-bh 25Thành phố có tên là Saraṇa, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Saraṇa, người mẹ của bậc Đạo Sư Dhammadassī tên là Sunandā.
Inda-bh 26Vị ấy đã sống ở giữa gia đình tám ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Araja, Viraja, và Sudassana.
Inda-bh 27Có bốn mươi ba ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Vicitolī. Con trai tên là Puññavaḍḍhana.
Inda-bh 28Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, bậc Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng tòa lâu đài và đã thực hành hạnh nỗ lực bảy ngày.
Inda-bh 29Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, bậc Nhân Ngưu, đấng Đại Hùng, vị Tối Thượng Nhân Dhammadassī đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) ở Migadāya (vườn nai).
Inda-bh 30Paduma và Phussadeva đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đạo Sư Dhammadassī tên là Sunetta.
Inda-bh 31Khemā và Saccanāmā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là “Bimbijāla.”
Inda-bh 32Subhadda và luôn cả Kaṭissaha sẽ là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Sāliyā và Valiyā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 33Cao tám mươi cánh tay (40 mét), đức Phật ấy, vị tương đương với các bậc không thể sánh bằng, nổi bật trong mười ngàn thế giới nhờ vào oai lực.
Inda-bh 34Tợ như cây Sālā chúa nở rộ bông, giống như tia sét ở trên bầu trời, như là mặt trời lúc chính ngọ, khi ấy vị ấy đã chiếu sáng như thế.
Inda-bh 35Mạng sống (tuổi thọ) của vị có oai lực vô song ấy cũng tương tợ (như loài người), bậc Hữu Nhãn đã tồn tại ở thế gian một trăm ngàn năm.
Inda-bh 36Sau khi đã thị hiện hào quang và làm cho Giáo Pháp không còn ô nhiễm, vị ấy cùng với các Thinh Văn đã Niết Bàn tương tợ như mặt trăng đã lặn ở trên bầu trời.
Inda-bh 37Đấng Đại Hùng Dhammadassī đã Niết Bàn tại tu viện Kesa. Ngôi bảo tháp cao quý được dựng lên cao ba do-tuần dành cho chính vị ấy ở ngay tại nơi ấy.
Lịch sử đức Phật Dhammadassī là phần thứ mười lăm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Tattheva maṇḍakappamhi, dhammadassī mahāyaso;
Tamandhakāraṃ vidhamitvā, atirocati sadevake.
In that very Maṇḍa-kappa, Dhammadassī of great renown, having dispelled the darkness of ignorance, shines exceedingly in the world with its devas.
Cũng trong kiếp Maṇḍa ấy, đức Phật Dhammadassī, bậc có danh tiếng lẫy lừng, sau khi đã xua tan bóng tối u ám ấy, đã tỏa sáng rực rỡ trong thế giới cùng với chư thiên.
2.
2.
2.
Tassāpi atulatejassa, dhammacakkappavattane;
Koṭisatasahassānaṃ, paṭhamābhisamayo ahu.
For him also, one of unequalled splendor, at the setting in motion of the Wheel of Dhamma, the first realization occurred for one hundred thousand koṭis.
Vào lúc chuyển Pháp luân của vị có oai lực vô song ấy, đã có sự chứng ngộ lần đầu tiên của một ngàn tỷ chúng sanh.
3.
3.
3.
Yadā buddho dhammadassī, vinesi sañjayaṃ isiṃ;
Tadā navutikoṭīnaṃ, dutiyābhisamayo ahu.
When the Buddha Dhammadassī disciplined the ascetic Sañjaya, then for ninety koṭis the second realization occurred.
Khi đức Phật Dhammadassī giáo hóa vị đạo sĩ Sañjaya, vào lúc ấy đã có sự chứng ngộ lần thứ hai của chín trăm triệu chúng sanh.
4.
4.
4.
Yadā sakko upāgañchi, sapariso vināyakaṃ;
Tadā asītikoṭīnaṃ, tatiyābhisamayo ahu.
When Sakka with his retinue approached the Leader, then for eighty koṭis the third realization occurred.
Khi vua trời Sakka cùng với tùy tùng đến yết kiến bậc Lãnh Đạo, vào lúc ấy đã có sự chứng ngộ lần thứ ba của tám trăm triệu chúng sanh.
5.
5.
5.
Tassāpi devadevassa, sannipātā tayo ahuṃ †;
Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ, santacittāna tādinaṃ.
For that Deva of devas, there were also three assemblies of those who had destroyed the taints, were stainless, serene in mind, and imperturbable.
Đã có ba lần hội họp của các vị đã tận trừ các lậu hoặc, không còn cấu uế, có tâm ý tịch tịnh, và vững vàng; (đây là) của vị Thiên-trung-Thiên ấy.
6.
6.
6.
Yadā buddho dhammadassī, saraṇe vassaṃ upāgami;
Tadā koṭisatasahassānaṃ †, paṭhamo āsi samāgamo.
When the Buddha Dhammadassī entered upon the rains-retreat in Saraṇa, then the first assembly was of one hundred thousand koṭis.
Khi đức Phật Dhammadassī nhập hạ ở tại thành Saraṇa, vào lúc ấy đã có cuộc hội họp lần đầu tiên của một ngàn tỷ vị.
7.
7.
7.
Punāparaṃ yadā buddho, devato eti mānusaṃ;
Tadāpi satakoṭīnaṃ, dutiyo āsi samāgamo.
Again, on another occasion, when the Buddha came from the deva world to the human world, then also the second assembly was of one hundred koṭis.
Lại nữa, khi đức Phật từ cõi trời quang lâm đến cõi người, vào lúc ấy cũng đã có cuộc hội họp lần thứ hai của một tỷ vị.
8.
8.
8.
Punāparaṃ yadā buddho, pakāsesi dhute guṇe;
Tadā asītikoṭīnaṃ, tatiyo āsi samāgamo.
Again, on another occasion, when the Buddha proclaimed the qualities of the ascetic practices, then the third assembly was of eighty koṭis.
Lại nữa, khi đức Phật thuyết giảng về các phẩm hạnh đầu-đà, vào lúc ấy đã có cuộc hội họp lần thứ ba của tám trăm triệu vị.
9.
9.
9.
Ahaṃ tena samayena, sakko āsiṃ purindado;
Dibbena gandhamālena, turiyenābhipūjayiṃ.
At that time, I was Sakka, Purindada. With divine perfumes, garlands, and music, I honored the Buddha.
Vào lúc bấy giờ, ta là vua trời Sakka, là vị Purindada (Thí Thành). Ta đã cúng dường (đức Phật) bằng hương thơm, vòng hoa, và âm nhạc cõi trời.
10.
10.
10.
Sopi maṃ buddho byākāsi, devamajjhe nisīdiya;
‘‘Aṭṭhārase kappasate, ayaṃ buddho bhavissati.
That Buddha, too, seated in the midst of the devas, made a prophecy concerning me: ‘In eighteen hundred eons, this one will become a Buddha.’
Vị Phật ấy, trong khi đang ngự giữa chư Thiên, đã thọ ký cho ta rằng: ‘Vào một ngàn tám trăm kiếp nữa, vị này sẽ thành Phật’.
11.
11.
11.
‘‘Padhānaṃ padahitvāna…pe… hessāma sammukhā imaṃ’’.
‘Having engaged in the striving… we will be in the presence of this one.’
‘Sau khi đã tinh tấn nỗ lực… chúng tôi sẽ được diện kiến vị này’.
12.
12.
12.
Tassāpi vacanaṃ sutvā, bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ;
Uttariṃ vatamadhiṭṭhāsiṃ, dasapāramipūriyā.
Having heard his words, I made my mind even more serene. I undertook a further practice for the fulfillment of the ten perfections.
Sau khi nghe lời dạy của ngài, tôi đã làm cho tâm được tịnh tín hơn nữa. Tôi đã quyết tâm thực hành hạnh nguyện cao thượng hơn để làm tròn mười pháp Ba-la-mật.
13.
13.
13.
Saraṇaṃ nāma nagaraṃ, saraṇo nāma khattiyo;
Sunandā nāma janikā, dhammadassissa satthuno.
The city was named Saraṇa, the khattiya father was named Saraṇa, and the mother of the Teacher Dhammadassī was named Sunandā.
Kinh thành của Đức Đạo Sư Dhammadassī tên là Saraṇa, vị vua dòng Sát-đế-lỵ (phụ vương) tên là Saraṇa, và vị mẫu hậu tên là Sunandā.
14.
14.
14.
Aṭṭhavassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi;
Arajo virajo sudassano, tayo pāsādamuttamā.
For eight thousand years he dwelt in the household. Araja, Viraja, and Sudassana were his three excellent palaces.
Vị ấy đã sống tại gia trong tám ngàn năm. Có ba cung điện cao quý là Araja, Viraja, và Sudassana.
15.
15.
15.
Ticattārīsasahassāni †, nāriyo samalaṅkatā;
Vicikoḷi nāma nārī, atrajo puññavaḍḍhano.
There were forty-three thousand well-adorned women. The chief consort was named Vicikoḷi, and his son was named Puññavaḍḍhana.
Có bốn mươi ba ngàn cung nữ được trang điểm lộng lẫy. Chánh phi tên là Vicikoḷi, và hoàng tử tên là Puññavaḍḍhana.
16.
16.
16.
Nimitte caturo disvā, pāsādenābhinikkhami;
Sattāhaṃ padhānacāraṃ, acarī purisuttamo.
Having seen the four signs, he went forth by palace-vehicle. For seven days, the supreme man engaged in the practice of striving.
Sau khi nhìn thấy bốn điềm báo, bậc Tối Thượng Nhân đã xuất gia bằng cung điện. Ngài đã thực hành khổ hạnh trong suốt bảy ngày.
17.
17.
17.
Brahmunā yācito santo, dhammadassī narāsabho;
Vatti cakkaṃ mahāvīro, migadāye naruttamo.
Requested by Brahmā, the serene Dhammadassī, bull among men, the great hero, supreme among men, set the Wheel in motion in the Migadāya.
Được Phạm Thiên thỉnh cầu, bậc Thánh, Đức Dhammadassī, bậc Ngưu Vương trong loài người, bậc Đại Hùng, bậc Tối Thắng trong nhân loại, đã chuyển Pháp luân tại vườn Lộc Uyển.
18.
18.
18.
Padumo phussadevo ca, ahesuṃ aggasāvakā;
Sunetto † nāmupaṭṭhāko, dhammadassissa satthuno.
For the Teacher Dhammadassī, Paduma and Phussadeva were the chief disciples; the attendant was named Sunetta.
Hai vị Paduma và Phussadeva là các vị Thượng thủ Tinh văn của Đức Đạo Sư Dhammadassī. Vị thị giả tên là Sunetta.
19.
19.
19.
Khemā ca saccanāmā ca, ahesuṃ aggasāvikā;
Bodhi tassa bhagavato, bimbijāloti vuccati.
Khemā and Saccanāmā were the chief female disciples. The Bodhi tree of that Blessed One is called the Bimbijāla.
Hai vị Khemā và Saccanāmā là các vị Thượng thủ Tinh văn Ni. Cây Bồ-đề của Đức Thế Tôn ấy được gọi là cây Bimbijāla.
20.
20.
20.
Subhaddo kaṭissaho ceva, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Sāḷiyā † ca kaḷiyā ca, ahesuṃ aggupaṭṭhikā.
Subhadda and Kaṭissaha were the chief male lay supporters; Sāḷiyā and Kaḷiyā were the chief female lay supporters.
Hai vị Subhadda và Kaṭissaha là các nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Hai vị Sāḷiyā và Kaḷiyā là các nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
21.
21.
21.
Sopi buddho asamasamo, asītihatthamuggato;
Atirocati tejena, dasasahassimhi dhātuyā.
That Buddha, equal to the unequalled, was eighty cubits in height. He shone resplendently with his splendor throughout the ten-thousandfold world-system.
Vị Phật ấy, bậc Vô Song, bậc Đồng Đẳng với các đấng Vô Song, thân cao tám mươi hắc-tay. Ngài chiếu sáng rực rỡ khắp mười ngàn thế giới bằng uy lực của mình.
22.
22.
22.
Suphullo sālarājāva, vijjūva gagane yathā;
Majjhanhikeva sūriyo, evaṃ so upasobhatha.
Like a sāl tree king in full bloom, like lightning in the sky, like the sun at midday, so was he resplendent.
Như cây sala chúa nở hoa rực rỡ, như tia chớp trên bầu trời, như mặt trời lúc giữa trưa, ngài cũng tỏa sáng rạng ngời như vậy.
23.
23.
23.
Tassāpi atulatejassa, samakaṃ āsi jīvitaṃ;
Vassasatasahassāni, loke aṭṭhāsi cakkhumā.
For him of unequalled splendor, the lifespan was the same as that of the people of his time. The One with Vision remained in the world for one hundred thousand years.
Tuổi thọ của vị có uy lực không thể sánh bằng ấy cũng tương xứng (với chúng sanh thời đó). Bậc Thiên Nhãn đã trụ thế một trăm ngàn năm.
24.
24.
24.
Obhāsaṃ dassayitvāna, vimalaṃ katvāna sāsanaṃ;
Cavi candova gagane, nibbuto so sasāvako.
Having displayed a radiance and made the Dispensation stainless, he attained Parinibbāna along with his disciples, like the moon passing away in the sky.
Sau khi đã thị hiện ánh quang và làm cho giáo pháp được thanh tịnh, ngài cùng với các vị Tinh văn đã nhập Niết-bàn, giống như mặt trăng lặn khỏi bầu trời.
25.
25.
25.
Dhammadassī mahāvīro, sālārāmamhi nibbuto;
Tatthevassa thūpavaro, tīṇiyojanamuggatoti.
The great hero Dhammadassī attained Parinibbāna in the Sālārāma. There his excellent stūpa was three yojanas in height.
Bậc Đại Hùng Dhammadassī đã nhập Niết-bàn tại tu viện Sālārāma. Ngay tại nơi ấy, bảo tháp của ngài được xây dựng cao ba do-tuần.
The fifteenth chronicle, that of the Blessed One Dhammadassī, is concluded.
Dứt phẩm thứ mười lăm: Phật Sử của Đức Thế Tôn Dhammadassī.