Bản dịch
BV 16 — Lịch Sử Đức Phật Atthadassī
16 Atthadassībuddhavaṁsa
Inda-bh 1Cũng chính trong kiếp Maṇḍa ấy, bậc Nhân Ngưu Atthadassī sau khi hủy diệt bóng đêm mịt mù đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.
Inda-bh 2Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị ấy đã chuyển vận bánh xe Chánh Pháp và đã làm hài lòng thế gian mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên bằng sự Bất Tử.
Inda-bh 3Đối với đấng Lãnh Đạo Thế Gian ấy, cũng đã có ba sự lãnh hội. Sự lãnh hội lần thứ nhất là của một trăm ngàn koṭi vị.
Inda-bh 4Vào lúc đức Phật Atthadassī đi du hành ở cõi trời, đã có sự lãnh hội lần thứ nhì là của một trăm ngàn koṭi vị.
Inda-bh 5Vào dịp khác nữa, khi đức Phật thuyết giảng trong sự hiện diện của người cha, đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của một trăm ngàn koṭi vị.
Inda-bh 6Và bậc Đại Ẩn Sĩ ấy đã có ba lần tụ hội gồm các vị Lậu Tận không còn ô nhiễm, có tâm thanh tịnh như thế ấy.
Inda-bh 7Cuộc hội tụ thứ nhất là của chín mươi tám ngàn koṭi vị. Cuộc hội tụ thứ nhì là của tám mươi tám ngàn koṭi vị.
Inda-bh 8Cuộc hội tụ thứ ba là của bảy mươi tám ngàn koṭi (bảy trăm tám mươi tỷ) vị đại ẩn sĩ đã hoàn toàn giải thoát khỏi chấp thủ, không còn ô nhiễm.
Inda-bh 9Vào lúc bấy giờ, ta là vị đạo sĩ tóc bện có sự khổ hạnh cao tột tên là Susima, được xem là hạng nhất ở trên trái đất.
Inda-bh 10Sau khi mang từ thế giới chư thiên bông hoa Mạn-đà-la, hoa sen, hoa san hô của cõi trời, ta đã cúng dường đến đấng Toàn Giác.
Inda-bh 11Đức Phật ấy, bậc đại hiền triết Atthadassī, cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong mười tám trăm (một ngàn tám trăm) kiếp, người này sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 12Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 13Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 14Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 15Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề, bậc Vô Thượng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Inda-bh 16Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 17Kolita và Upatissa sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng ấy.
Inda-bh 18Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 19Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 20Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 21Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 22“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 23Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 24Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 25Nghe được lời nói của vị ấy, ta trở nên mừng rỡ, có tâm trí phấn chấn, đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Inda-bh 26Thành phố có tên là Sobhaṇa, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Sāgara, người mẹ của bậc Đạo Sư Atthadassī tên là Sudassanā.
Inda-bh 27Vị ấy đã sống ở giữa gia đình mười ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Amaragiri, Suragiri, và Girivāhana.
Inda-bh 28Có ba mươi ba ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Visākhā. Con trai tên là Sela.
Inda-bh 29Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện ngựa và đã ra sức nỗ lực trong tám tháng không thiếu sót.
Inda-bh 30Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị có danh tiếng lớn lao, đấng Đại Hùng, bậc Nhân Ngưu Atthadassī đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) ở công viên Anoma.
Inda-bh 31Santa và Upasanta đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đạo Sư Atthadassī tên là Abhaya.
Inda-bh 32Dhammā và luôn cả Sudhammā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là “Campaka.”
Inda-bh 33Nakula và luôn cả Nisabha đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Makilā và Sunandā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 34Cao tám mươi ratana (20 mét), được vẹn toàn như là mặt trăng (chúa của các vì sao), đức Phật ấy, vị tương đương với các bậc không thể sánh bằng, sáng chói như là cây Sālā chúa.
Inda-bh 35Hàng trăm koṭi hào quang tự nhiên của vị ấy luôn luôn tỏa rộng một do-tuần ở khắp mười phương, bên trên và bên dưới.
Inda-bh 36Đức Phật ấy, bậc Nhân Ngưu, đấng Hiền Triết tối thượng của tất cả chúng sanh, bậc Hữu Nhãn cũng đã tồn tại ở thế gian một trăm ngàn năm.
Inda-bh 37Sau khi thị hiện hào quang vô song và đã chiếu sáng thế gian luôn cả chư thiên, vị ấy cũng đạt đến hiện trạng vô thường tương tợ như ngọn lửa cạn nguồn nhiên liệu.
Inda-bh 38Đấng Chiến Thắng cao quý Atthadassī đã Niết Bàn tại tu viện Anoma. Đã có sự phân tán xá-lợi từ xứ sở ấy đến khắp các nơi.
Lịch sử đức Phật Atthadassī là phần thứ mười bốn.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Tattheva maṇḍakappamhi, atthadassī mahāyaso;
Mahātamaṃ nihantvāna, patto sambodhimuttamaṃ.
In that very Maṇḍa eon, Atthadassī of great renown, having dispelled the great darkness, attained supreme enlightenment.
Cũng trong kiếp Maṇḍa ấy, đức Atthadassī, bậc danh tiếng lẫy lừng, sau khi đã phá tan bóng tối vĩ đại, đã đạt đến sự Giác Ngộ tối thượng.
2.
2.
2.
Brahmunā yācito santo, dhammacakkaṃ pavattayi;
Amatena tappayī lokaṃ, dasasahassisadevakaṃ.
Requested by Brahmā, the serene one set the Wheel of Dhamma in motion. He gratified the world with its devas in the ten-thousand-fold world system with the deathless nectar.
Được Phạm thiên thỉnh cầu, ngài đã chuyển bánh xe Pháp, làm cho thế giới cùng với chư thiên trong mười ngàn (thế giới) được thỏa mãn bằng vị cam lồ.
3.
3.
3.
Tassāpi lokanāthassa, ahesuṃ abhisamayā tayo;
Koṭisatasahassānaṃ, paṭhamābhisamayo ahu.
For that Protector of the World, too, there were three realizations. The first realization was for one hundred thousand koṭis of beings.
Đối với đức Thế Tôn ấy cũng có ba lần thấu triệt (Pháp). Lần thấu triệt đầu tiên là của một trăm ngàn ức (chúng sinh).
4.
4.
4.
Yadā buddho atthadassī, carate devacārikaṃ;
Koṭisatasahassānaṃ, dutiyābhisamayo ahu.
When the Buddha Atthadassī was journeying in the deva realm, the second realization occurred for one hundred thousand koṭis of devas and brahmās.
Khi đức Phật Atthadassī du hành đến cõi trời, lần thấu triệt thứ hai đã xảy ra cho một trăm ngàn ức (chư thiên).
5.
5.
5.
Punāparaṃ yadā buddho, desesi pitusantike;
Koṭisatasahassānaṃ, tatiyābhisamayo ahu.
Furthermore, when the Buddha taught in his father's presence, the third realization occurred for one hundred thousand koṭis of beings.
Lại nữa, khi đức Phật thuyết Pháp tại nơi phụ thân, lần thấu triệt thứ ba đã xảy ra cho một trăm ngàn ức (chúng sinh).
6.
6.
6.
Sannipātā tayo āsuṃ, tassāpi ca mahesino;
Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ, santacittāna tādinaṃ.
There were three assemblies for that great sage, of Arahants whose cankers were destroyed, who were free from defilements, with peaceful minds, the Such-like Ones.
Đối với bậc Đại Ẩn Sĩ ấy cũng có ba lần hội chúng của các vị đã tận diệt lậu hoặc, không còn cấu uế, có tâm tịch tịnh, và vững chãi.
7.
7.
7.
Aṭṭhanavutisahassānaṃ, paṭhamo āsi samāgamo;
Aṭṭhāsītisahassānaṃ, dutiyo āsi samāgamo.
The first assembly was of ninety-eight thousand. The second assembly was of eighty-eight thousand.
Lần hội họp đầu tiên là của chín mươi tám ngàn vị. Lần hội họp thứ hai là của tám mươi tám ngàn vị.
8.
8.
8.
Aṭṭhasattatisatasahassānaṃ, tatiyo āsi samāgamo;
Anupādā vimuttānaṃ, vimalānaṃ mahesinaṃ.
The third assembly was of seventy-eight hundred thousand great sages, who were without clinging, liberated, and stainless.
Đã có cuộc hội họp lần thứ ba của bảy triệu tám trăm ngàn vị Đại ẩn sĩ, là các bậc không còn chấp thủ, đã được giải thoát, và không còn cấu uế.
9.
9.
9.
Ahaṃ tena samayena, jaṭilo uggatāpano;
Susīmo nāma nāmena, mahiyā seṭṭhasammato.
At that time, I was a matted-hair ascetic of fierce austerities, named Susīma, esteemed as excellent on earth.
Vào lúc bấy giờ, ta là vị đạo sĩ bện tóc, thực hành khổ hạnh khắc nghiệt, có tên là Susima, được xem là bậc cao quý ở trên mặt đất.
10.
10.
10.
Dibbaṃ mandāravaṃ pupphaṃ, padumaṃ pārichattakaṃ;
Devalokāharitvāna, sambuddhamabhipūjayiṃ.
Having brought the divine Mandārava flower, the Paduma lotus, and the Pārichattaka flower from the deva world, I worshipped the Perfectly Enlightened One.
Sau khi từ cõi trời mang về các loại hoa trời là mandārava, hoa sen, và pārichattaka, ta đã cúng dường đến bậc Chánh Đẳng Giác.
11.
11.
11.
Sopi maṃ buddho byākāsi, atthadassī mahāmuni;
‘‘Aṭṭhārase kappasate, ayaṃ buddho bhavissati.
That Buddha, the great sage Atthadassī, also made this prophecy about me: ‘In eighteen hundred eons, this one will become a Buddha.’
Vị Phật ấy, đức Atthadassī, bậc Đại ẩn sĩ, cũng đã thọ ký cho ta rằng: ‘Trong một ngàn tám trăm kiếp nữa, vị này sẽ trở thành một vị Phật.’
12.
12.
12.
‘‘Padhānaṃ padahitvāna…pe… hessāma sammukhā imaṃ’’.
‘Having engaged in the striving… we will be in the presence of this one.’
‘Sau khi đã nỗ lực tinh tấn... (v.v.)... chúng tôi sẽ có mặt trước vị này.’
13.
13.
13.
Tassāpi vacanaṃ sutvā, haṭṭho † saṃviggamānaso;
Uttariṃ vatamadhiṭṭhāsiṃ, dasapāramipūriyā.
Having heard his words, joyful and with a mind stirred with urgency, I undertook a further vow to fulfill the ten perfections.
Sau khi nghe lời nói của ngài, với tâm hoan hỷ và xúc động, ta đã quyết tâm thực hành hạnh nguyện cao hơn nữa để làm viên mãn mười pháp ba-la-mật.
14.
14.
14.
Sobhaṇaṃ nāma nagaraṃ, sāgaro nāma khattiyo;
Sudassanā nāma janikā, atthadassissa satthuno.
The city of the Teacher Atthadassī was named Sobhaṇa, the khattiya father was named Sāgara, and the mother was named Sudassanā.
Kinh thành tên là Sobhaṇa, vị vua Sát-đế-lỵ tên là Sāgara, và thân mẫu tên là Sudassanā; (đây là) của đức Đạo Sư Atthadassī.
15.
15.
15.
Dasavassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi;
Amaragiri sugiri vāhanā, tayo pāsādamuttamā.
For ten thousand years he dwelt ruling in the home. Amaragiri, Sugiri, and Vāhana were the three excellent palaces.
Vị ấy đã sống trong hoàng gia mười ngàn năm. Có ba cung điện tuyệt vời là Amaragiri, Sugiri, và Vāhana.
16.
16.
16.
Tettiṃsañca sahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Visākhā nāma nārī ca, selo nāmāsi atrajo.
There were thirty-three thousand well-adorned women. The chief consort was named Visākhā, and the son was named Sela.
Có ba mươi ba ngàn phụ nữ được trang điểm lộng lẫy. Chánh phi tên là Visākhā, và con trai tên là Sela.
17.
17.
17.
Nimitte caturo disvā, assayānena nikkhami;
Anūnaaṭṭhamāsāni, padhānaṃ padahī jino.
Having seen the four signs, the Victor went forth by horse-vehicle. For a full eight months, he engaged in the striving.
Sau khi nhìn thấy bốn điềm báo, bậc Toàn Thắng đã xuất gia bằng xe ngựa. Ngài đã nỗ lực tinh tấn trong suốt tám tháng không thiếu.
18.
18.
18.
Brahmunā yācito santo, atthadassī mahāyaso;
Vatti cakkaṃ mahāvīro, anomuyyāne narāsabho.
Requested by Brahmā, the serene one, Atthadassī of great renown, the great hero, the bull among men, set the Wheel in motion in the Anoma park.
Được Phạm thiên thỉnh cầu, bậc Thánh giả Atthadassī, đấng Đại Hùng, bậc Nhân Ngưu, vị có danh tiếng lẫy lừng, đã chuyển Pháp luân ở tại vườn Anoma.
19.
19.
19.
Santo ca upasanto ca, ahesuṃ aggasāvakā;
Abhayo nāmupaṭṭhāko, atthadassissa satthuno.
For the Teacher Atthadassī, Santa and Upasanta were the chief disciples; the attendant was named Abhaya.
Santa và Upasanta là hai vị Thượng thủ Thinh văn. Vị thị giả tên là Abhaya của đức Đạo Sư Atthadassī.
20.
20.
20.
Dhammā ceva sudhammā ca, ahesuṃ aggasāvikā;
Bodhi tassa bhagavato, campakoti pavuccati.
Dhammā and Sudhammā were the chief female disciples. The Bodhi tree of that Blessed One is called the Campaka.
Dhammā và Sudhammā là hai vị nữ Thượng thủ Thinh văn. Cây Bồ-đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là cây ngọc lan (campaka).
21.
21.
21.
Nakulo ca nisabho ca, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Makilā ca sunandā ca, ahesuṃ aggupaṭṭhikā.
Nakula and Nisabha were the chief male lay supporters; Makilā and Sunandā were the chief female lay supporters.
Nakula và Nisabha là hai vị nam Thượng thủ hộ độ. Makilā và Sunandā là hai vị nữ Thượng thủ hộ độ.
22.
22.
22.
Sopi buddho asamasamo, asītihatthamuggato;
Sobhate sālarājāva, uḷurājāva pūrito.
That Buddha, the Unequalled, was eighty cubits tall. He shone like a kingly sāl tree, and like the full moon, the king of stars.
Vị Phật ấy, bậc Vô Song và ngang bằng bậc Vô Song, thân cao tám mươi hắc-tay. Ngài tỏa sáng như là cây sala chúa, như là vua các vì sao (mặt trăng) lúc viên mãn.
23.
23.
23.
Tassa pākatikā raṃsī, anekasatakoṭiyo;
Uddhaṃ adho dasa disā, pharanti yojanaṃ sadā.
His natural rays, many hundreds of koṭis, always spread for a yojana upwards, downwards, and in the ten directions.
Hào quang tự nhiên của ngài, gồm nhiều trăm ức tia sáng, luôn luôn lan tỏa một do-tuần ở phía trên, phía dưới, và mười phương.
24.
24.
24.
Sopi buddho narāsabho, sabbasattuttamo muni;
Vassasatasahassāni, loke aṭṭhāsi cakkhumā.
That Buddha, the bull among men, the sage supreme among all beings, the One with Vision, remained in the world for one hundred thousand years.
Vị Phật ấy, bậc Nhân Ngưu, bậc Tối Thắng của tất cả chúng sanh, bậc Mâu-ni, đấng có Mắt (trí tuệ), đã tồn tại ở thế gian một trăm ngàn năm.
25.
25.
25.
Atulaṃ dassetvā obhāsaṃ, virocetvā sadevake †;
Sopi aniccataṃ patto, yathaggupādānasaṅkhayā.
Having displayed incomparable light and illuminated the world with its devas, he too reached impermanence, just as a fire is extinguished with the exhaustion of its fuel.
Sau khi đã thị hiện ánh sáng vô song và đã làm rực rỡ thế giới cùng với chư thiên, vị ấy cũng đã đạt đến trạng thái vô thường, giống như ngọn lửa (tắt) do nhiên liệu đã hết.
26.
26.
26.
Atthadassī jinavaro, anomārāmamhi nibbuto;
Dhātuvitthārikaṃ āsi, tesu tesu padesatoti.
The noble Victor Atthadassī attained Parinibbāna in the Anomārāma. There was a wide distribution of his relics in those various regions.
Bậc Toàn Thắng cao quý Atthadassī đã nhập Niết-bàn ở tại tu viện Anomārāma. Xá-lợi của ngài đã được phân bố rộng rãi ở nhiều nơi khác nhau.
The fourteenth chronicle of the Blessed One Atthadassī is concluded.
Phật sử của đức Thế Tôn Atthadassī là chương thứ mười bốn.